Nội dung chính:Văn bản kể về hành trình đi tìm con gái tên “Cải” của người cha Năm ròng rã suốt 10 năm trời. Tuy “Cải” chỉ là con riêng của vợ hai ông với người chồng trước, nhưng ông hết lòng yêu thương, bảo vệ con bé. Do làm mất cặp trâu nhà nuôi nên Cải bỏ nhà ra đi, người ta đồn đoán ông Năm đã hại chết con bé rồi đem giấu xác Cải ở một bãi đất trống. Vợ ông, hàng xóm láng giềng đều không tin tưởng ông. Quá đau đớn và thất vọng, ông Năm quyết định lên đường đi tìm Cải.
Quảng cáo
1. So sánh trật tự của các sự kiện trong câu chuyện và trong truyện kể (mạch truyện) và nhận xét về hiệu quả nghệ thuật của cách tổ chức truyện kể.
- Trật tự các sự kiện trong câu chuyện: Theo trật tự thời gian (hành trình đi tìm con Cải).
- Trật tự các sự kiện trong truyện kể: Đan xen giữa quá khứ và hiện tại.
=> Nhận xét hiệu quả nghệ thuật: Diễn tả chân thực hành trình đi tìm con Cải của ông Năm. Gây xúc động mạnh cho bạn đọc bởi tình cha sâu sắc, cùng lời văn mộc mạc nhưng chan chứa cảm xúc.
Trật tự các sự kiện trong câu chuyện (theo thời gian thực)
+ Con Cải làm mất đôi trâu rồi bỏ nhà đi.
+ Ông Năm Nhỏ bị vợ và dân làng nghi ngờ giết con.
+ Ông bỏ quê ra đi, rong ruổi tìm con suốt mười hai năm.
+ Ông làm trong đoàn ca múa nhạc rồi sống ở ngã ba Sương cùng thằng Thàn.
+ Ông dùng xe kẹo kéo để vừa hát vừa nhắn tìm con.
+ Diễm Thương giả làm con Cải khiến ông xúc động rồi thất vọng.
+ Thàn yêu Diễm Thương.
+ Diễm Thương tìm lại cha mẹ ruột nhưng bị từ chối.
+ Ông Năm quyết lên truyền hình để nhắn con.
+ Ông cố ý ăn trộm trâu để được lên ti vi nói lời nhắn với con Cải.
Trật tự trong truyện kể (mạch truyện)
- Truyện không kể theo trình tự thời gian tuyến tính mà bắt đầu từ hiện tại:
+ Đoàn ca múa giải tán, ông Năm về sống ở ngã ba Sương với Thàn.
+ Từ hiện tại ấy, người kể chuyện hồi tưởng lại quá khứ của ông Năm và chuyện con Cải bỏ đi.
+ Sau đó truyện tiếp tục trở về hiện tại với cuộc sống ở ngã ba Sương, chuyện Diễm Thương, chuyện tình của Thàn và Diễm Thương.
+ Cuối truyện là sự kiện ông Năm ăn trộm trâu để được xuất hiện trên truyền hình.
Hiệu quả nghệ thuật
- Cách tổ chức truyện kể đan xen giữa hiện tại và hồi tưởng giúp câu chuyện trở nên tự nhiên, hấp dẫn và giàu cảm xúc.
- Người đọc từng bước khám phá số phận, nỗi đau và khát vọng của nhân vật ông Năm Nhỏ.
- Mạch truyện chậm rãi nhưng ám ảnh, phù hợp với không khí buồn thương của tác phẩm.
- Việc kể không theo trình tự thời gian giúp nhấn mạnh bi kịch kéo dài, dai dẳng của con người trong hành trình tìm kiếm tình thân.
- Cách tổ chức ấy cũng tạo chiều sâu tâm lí và làm nổi bật chủ đề về tình phụ tử, sự cô đơn và khát vọng được yêu thương.
2. Đặc điểm của người kể chuyện trong truyện: ngôi kể, quan hệ và thái độ của người kể chuyện đối với các nhân vật.
- Ngôi kể: ngôi thứ ba – người kể chuyện toàn tri.
- Quan hệ: Người kể chuyện đã thay tác giả kể lại câu chuyện đi tìm con của ông Năm, qua đó thể hiện sâu sắc và cảm động tình cảm của ông dành cho đứa con riêng của vợ.
- Thái độ của người kể chuyện đối với các nhân vật: Thái độ thương cảm, xót xa.
Quảng cáo
a. Ngôi kể
- Truyện được kể ở ngôi thứ ba.
- Người kể chuyện giấu mình nhưng biết khá rõ đời sống, tâm trạng của các nhân vật.
b. Quan hệ của người kể chuyện với nhân vật
- Người kể chuyện đứng ngoài câu chuyện nhưng lại rất gần gũi với nhân vật.
- Có lúc người kể như nhập vào cảm xúc, suy nghĩ của ông Năm, Thàn hay Diễm Thương để kể.
c. Thái độ của người kể chuyện
- Thái độ chủ đạo là cảm thông, xót xa và yêu thương đối với những con người bất hạnh.
- Người kể chuyện không phán xét mà nhìn nhân vật bằng cái nhìn nhân hậu.
- Đặc biệt:
+ Xót thương ông Năm Nhỏ với hành trình mười hai năm tìm con.
+ Đồng cảm với Diễm Thương – cô gái bị bỏ rơi từ nhỏ, sống lạnh lùng nhưng thực chất rất cô độc.
+ Thương Thàn – một người trẻ sống chông chênh, nghèo khó nhưng giàu tình nghĩa.
- Giọng kể vừa bình thản vừa thấm đẫm nỗi buồn, tạo nên chất văn đặc trưng của Nguyễn Ngọc Tư.
3. Hệ thống điểm nhìn trong tác phẩm (người kể chuyện chủ yếu trần thuật theo điểm nhìn của mình hay của nhân vật, điểm nhìn bên trong hay bên ngoài chiếm ưu thế, từng điểm nhìn làm hé lộ những điều gì trong tâm lí nhân vật).
- Hệ thống điểm nhìn: Người kể chuyện chủ yếu trần thuật theo điểm nhìn của mình, điểm nhìn bên trong chiếm ưu thế.
- Điểm nhìn người kể chuyện giúp nhà văn miêu tả chính xác, khách quan diễn biến hành động của nhân vật, kết hợp với điểm nhìn bên trong để miêu tả nội tâm, cảm xúc của nhân vật.
+ Ông Năm khắc khoải chờ mong tin con, buồn bã khi nhớ về con.
+ Thán lo lắng cho câu chuyện giữa mình với Diễm Thương.
+ Diễm Thương lạnh nhạt, không cảm xúc.
a. Điểm nhìn chủ yếu
- Người kể chuyện chủ yếu trần thuật theo điểm nhìn của nhân vật hơn là điểm nhìn khách quan hoàn toàn.
- Điểm nhìn bên trong (đi sâu vào cảm xúc, suy nghĩ nhân vật) chiếm ưu thế.
b. Các điểm nhìn tiêu biểu và ý nghĩa
- Điểm nhìn của ông Năm Nhỏ
+ Là điểm nhìn trung tâm của truyện.
+ Giúp người đọc cảm nhận: nỗi day dứt vì mất con, niềm hi vọng dai dẳng, tình thương con sâu nặng, nỗi cô đơn và tuyệt vọng của người cha già.
+ Qua điểm nhìn này, hành trình tìm con hiện lên đầy ám ảnh và xúc động.
- Điểm nhìn của Thàn
+ Hé lộ sự thương cảm đối với ông Năm.
+ Thể hiện tâm trạng của người trẻ sống bấp bênh, thất bại nhưng giàu tình cảm.
+ Qua Thàn, người đọc thấy rõ sự đáng thương của Diễm Thương và ông Năm.
- Điểm nhìn của Diễm Thương
+ Làm hiện lên vẻ ngoài lạnh lùng nhưng bên trong đầy tổn thương.
+ Những câu nói như: “Người ta đã quăng ở đây mười tám năm mà không ai trở lại tìm...” cho thấy khát khao được yêu thương, được nhận lại của cô.
+ Điểm nhìn này giúp nhân vật không bị nhìn như một cô gái vô cảm mà là một con người đau đớn vì bị bỏ rơi.
c. Ý nghĩa của hệ thống điểm nhìn
- Tạo nên cái nhìn đa chiều về con người.
- Làm cho nhân vật hiện lên chân thực, có chiều sâu tâm lí.
- Giúp câu chuyện giàu tính nhân văn và sức lay động.
4. Chú ý sự cộng hưởng giữa lời của người kể chuyện và lời nhân vật trong truyện.
Quảng cáo
Lời của người kể chuyện và lời của nhân vật có sự cộng hưởng với nhau:
- Lời người kể chuyện trong việc miêu tả những cử chỉ ngoại hiện của ông Năm, Thán và Diễm Thương.
- Lời của nhân vật là những đoạn đối thoại, hoặc câu văn bộc lộ suy nghĩ của các nhân vật.
=> Tạo nên sức hấp dẫn cho truyện kể. Lối văn trần thuật giúp nhà văn kể chuyện một cách chân thực và hấp dẫn, làm cho người đọc hình dung ra được hành trình đi tìm con Cải của ông Năm.
- Trong truyện, lời người kể chuyện và lời nhân vật hòa quyện tự nhiên.
- Người kể chuyện nhiều khi sử dụng ngôn ngữ gần với lời ăn tiếng nói của nhân vật Nam Bộ: “dễ ợt hà mầy ơi”, “vò võ có một mình”, “hổng biết”...
- Điều này tạo cảm giác chân thật, gần gũi và giàu chất đời sống.
- Ngoài lời đối thoại trực tiếp, truyện còn có nhiều đoạn lời kể mang màu sắc cảm xúc của nhân vật:
+ Khi kể về ông Năm: “Nghe ngắc ngoải như tiếng chim kêu tạo tác giữa lưng trời”
→ vừa là lời kể vừa thấm nỗi đau của nhân vật.
+ Khi nói về Diễm Thương: “Cái mặt nó hay hết biết”
→ cách diễn đạt đậm sắc thái chủ quan, giàu cảm xúc.
- Sự cộng hưởng ấy giúp: câu chuyện mềm mại, tự nhiên; tăng chất trữ tình; bộc lộ sâu sắc đời sống nội tâm nhân vật; tạo nên giọng văn buồn thương mà nhân hậu rất đặc trưng của Nguyễn Ngọc Tư.
Bài giảng: Cải ơi - Cô Trang Thủy (Giáo viên VietJack)
Xem thêm các bài Soạn văn lớp 11 Kết nối tri thức hay nhất, ngắn gọn khác: