10+ Phân tích một tác phẩm thơ: Bến đò ngày mưa (điểm cao)
Phân tích một tác phẩm thơ: Bến đò ngày mưa điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.
- Dàn ý Phân tích một tác phẩm thơ: Bến đò ngày mưa
- Phân tích một tác phẩm thơ: Bến đò ngày mưa (mẫu 1)
- Phân tích một tác phẩm thơ: Bến đò ngày mưa (mẫu 2)
- Phân tích một tác phẩm thơ: Bến đò ngày mưa (mẫu 3)
- Phân tích một tác phẩm thơ: Bến đò ngày mưa (mẫu 4)
- Phân tích một tác phẩm thơ: Bến đò ngày mưa (mẫu 5)
- Phân tích một tác phẩm thơ: Bến đò ngày mưa (mẫu 6)
- Phân tích một tác phẩm thơ: Bến đò ngày mưa (mẫu 7)
- Phân tích một tác phẩm thơ: Bến đò ngày mưa (mẫu 8)
- Phân tích một tác phẩm thơ: Bến đò ngày mưa (mẫu 9)
- Phân tích một tác phẩm thơ: Bến đò ngày mưa (mẫu khác)
10+ Phân tích một tác phẩm thơ: Bến đò ngày mưa (điểm cao)
Dàn ý Phân tích một tác phẩm thơ: Bến đò ngày mưa
a) Mở bài:
- Giới thiệu Anh Thơ – nhà thơ nữ tiêu biểu của Thơ mới với hồn thơ tinh tế, đậm chất quê.
- Bài "Bến đò ngày mưa" tái hiện khung cảnh bến đò chiều mưa, qua đó bộc lộ nỗi buồn lẻ loi, hoài niệm.
b) Thân bài:
- Bức tranh thiên nhiên, bến đò trong mưa:
+ Không gian: bến đò vắng vẻ, mưa bay, cây bần, bờ tre – gợi buồn man mác.
+ Thời gian: chiều mưa – khoảnh khắc gợi chia ly, cô quạnh.
- Hình ảnh con người:
+ Người khách đợi đò – cô đơn, lặng lẽ.
+ Bóng dáng người qua đường mờ ảo – gợi sự mong manh, bấp bênh của kiếp người.
- Tâm trạng:
+ Nỗi buồn lâng lâng, không đốt cháy nhưng thấm thía.
+ Cảm giác lỡ làng, trôi nổi – đặc trưng tâm thế Thơ mới.
- Nghệ thuật:
+ Tả cảnh ngụ tình, bút pháp chấm phá.
+ Từ láy tượng hình, tượng thanh (lác đác, lơ thơ, buồn buồn).
+ Nhịp thơ chậm, trầm lắng.
c) Kết bài:
- Bài thơ là một bức tranh quê buồn mà đẹp, thấm đẫm tâm sự của một hồn thơ nữ tinh tế.
- Khẳng định giá trị: tiêu biểu cho phong cách Anh Thơ và cảm hứng "buồn mơ màng" của Thơ mới.
Phân tích một tác phẩm thơ: Bến đò ngày mưa - mẫu 1
Anh Thơ được mệnh danh là "nữ hoàng làng quê" của phong trào Thơ mới bởi những vần thơ tả cảnh đồng quê Bắc Bộ vừa chân thực, vừa thấm đẫm hồn người. "Bến đò ngày mưa" là một trong những bức tranh quê đẹp nhất của bà. Giữa không gian mưa ẩm ướt, lạnh lẽo, bến đò vắng vẻ hiện lên với những hình ảnh quen thuộc: tre rũ rợi ven bờ, chuối bơ phờ dầm mưa, dòng sông trôi rào rạt, con thuyền đậu trơ vơ. Tất cả như thấm đẫm một nỗi buồn man mác, gợi trong lòng người đọc sự xót xa, đồng cảm với những kiếp người nhỏ bé nơi thôn quê.
Là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ thơ ca cận hiện đại, Anh Thơ đã đem đến cho đời những tác phẩm đặc sắc với cấu trúc, giọng điệu, bút pháp tân kì nhưng cũng đầy ảo ảnh, mê say. "Bến đò ngày mưa" là một tác phẩm như thế với từng nét vẽ thực, dù không bộn bề nhiều chi tiết nhưng đủ để gợi nên cái cảnh cũ hồn xưa của một thôn quê Bắc bộ thuở xa xăm với bến đò nhỏ ngày mưa gió. Cái hay của tác phẩm này là mỗi nét vẽ đều đượm chất hồn nhiên quyện lẫn sự trong trẻo trong tâm hồn thi nhân.
“Tre rũ rượi ven bờ chen ướt át
Chuối bơ phờ đầu bến đứng dầm mưa.
Và dầm mưa dòng sông trôi rào rạt
Mặc con thuyền cắm lại đậu trơ vơ…”
Ngay từ những dòng thơ ca đầu tiên, người đọc dễ dàng hình dung về một khung cảnh miền quê nghèo Bắc Bộ với một loạt hình ảnh thân quen "dòng sông", "con thuyền", "bến đậu"... Trong không gian nghiêng nghiêng xa mờ ấy, những tạo vật "tre", "chuối" hiện lên nhẹ nhàng, mượt mà với thú vui tựa những đứa trẻ khi không ngại "phơi mình tắm mưa". Thủ pháp nghệ thuật nhân cách hóa được sử dụng khéo léo khiến người ta dễ liên tưởng, hóa ra cảnh vật thiên nhiên chốn quê cũng có chung nỗi niềm, chung sở thích dầm mưa lầy lội.
Tất cả chúng họa chăng giống như con người đều có cảm xúc vui, buồn đan xen trước khung cảnh xung quanh mình. Bên cạnh các động từ "chen", "đứng", "cắm"; tác giả còn cài cắm các tính từ cảm giác "ướt át", "bơ phờ", "rào rạt"... để khiến một tạo vật đều mang tâm hồn, sự sống riêng và “dám” nảy nở trong buổi chiều mưa. Bằng con mắt quan sát rất tình của thi sĩ, thiên nhiên hiện ra với dáng vẻ sao mà lay động nhưng cũng nhuốm màu đầy tâm trạng. Có lẽ, tác giả phải là người có con mắt tinh tế, một tâm hồn phiêu du lắm mới khám phá được nét riêng của tạo vật, mới cấp cho chúng một nét đẹp tâm hồn đến vậy.
Chỉ với vài câu thơ miêu tả, người đọc dễ dàng hình dung về khung cảnh chiều mưa ở một bãi vắng nơi miền quê hẻo lánh. Mưa bay khiến cho không gian và cảnh vật nhuốm màu tâm trạng. Hình ảnh “Mặc con thuyền cắm lại đậu chơ vơ” càng khiến người ta cảm nhận rõ cái nét tiêu điều, cô quạnh tới đáng thương của cảnh và vật giữa không gian rộng lớn. Có lẽ, mọi thứ chẳng có sợi tơ mảnh liên hệ nào. Xa lạ, thờ ơ, không gắn kết, không ràng buộc. Cái tình cảnh ấy phải chăng như nỗi lòng của con người cũng đang cô quạnh, lạnh lẽo nên mới cảm nhận tường tận đến thế?
Cảnh vật xung quanh bến đậu là vậy, trên bến vắng - trung tâm của bức tranh càng thêm vắng lặng, thê lương hơn trong màn mưa bàng bạc.
“Trên bến vắng, đắm mình trong lạnh lẽo
Vài quán hàng không khách đứng xo ro.
Một bác lái ghé buồm vào hút điếu,
Mặc bà hàng sù sụ sặc hơi, ho.”
Ở đây, ta thấy rõ, không gian thơ đã có sự chuyển dịch từ "sông" đến "bến", từ "mưa" đến "lạnh lẽo", từ "bến vắng" đến "quán hàng". Thuyền không có khách nên thả trôi theo dòng nước đục, quán hàng không có người nên đứng co ro trông đến tội. Giữa bối cảnh đìu hiu ấy, hơi thở con người xuất hiện với hai hoạt động tưởng chừng đối nghịch hóa ra lại kết nối lạ thường.
Đó là "bác lái" ghé vào "hút điều", đó là bà hàng "sặc hơi, ho". Tác giả tiếp tục sử dụng thủ pháp nghệ thuật nhân hóa, nét chấm phá ít ỏi nhưng dễ dàng cảm nhận được hơi ấm quen thuộc của lòng người. Bức tranh bến đò ngày mưa vì thế mà có sức sống hơn. Thử nghĩ mà xem, nếu không có những tiếng động quen thuộc của con người ấy, mọi thứ cứ lạnh lẽo như “quán hàng không khách đứng co ro”. Thơ lúc ấy, cảnh lúc ấy chỉ còn là bề nổi, đâu còn là sự sống đa chiều, sắc sâu nữa.
“Ngoài đường lội hoạ hoằn người đến chợ
Thúng đội đầu như đội cả trời mưa.
Và hoạ hoằn một con thuyền ghé chở
Rồi âm thầm bến lại lặng trong mưa.”
Không gian ngoại vi bến đò càng thấm đậm hơi thở con người bởi sự xuất hiện của "người đến chợ". Dù sức sống chỉ dừng lại ở mức "hòa hoằn người" nhưng bất chấp cơn mưa ảm đạm, họ vẫn "thúng đội đầu" như "đội cả cơn mưa". Lối tả thực tác giả sử dụng ở đây đã khơi gợi những nét rất riêng của cảnh vật. Giữa khoảng hở lạnh giữa đất trời và lòng người, giữa cái khốn khó của đời sống sinh hoạt vốn đã đìu hiu trong ngày tạnh ráo, vậy ngày mưa thì còn lại gì?
Đặc biệt, hai câu thơ "Ngoài đường lội hoạ hoằn người đến chợ/Thúng đội đầu như đội cả trời mưa” cho thấy rõ cái tình của thi sĩ với cảnh và con người lao động. Họ có cuộc sống lam lũ, vất vả nhưng vẫn luôn có sự lạc quan, dạt dào trong lao động, trong tâm hồn. Dù mưa gió nhưng "vẫn đội cả trời mưa" chứng tỏ, con người làm chủ được cả không gian và vũ trụ, sẵn sàng vươn lên để thay đổi cuộc đời mình.
Câu thơ đẹp nhờ lối so sánh đầy nghệ thuật. Và hai câu kết chính là như vậy! Nhà thơ lấy động để nói tĩnh, gợi được cái vắng của sông "hoạ hoằn con thuyền ghé chở" và cái lặng, âm thầm của "bến lại lặng trong mưa". Cái nỗi buồn của một hồn thơ vì thế trở nên đậm đà. Nỗi buồn ấy lặng lẽ như bến cô đơn đang cảm nghe mưa ngoài trời nay hoá thành mưa trong lòng của một hồn thơ bay bổng. Cả bài thơ không có lấy một chữ yêu hay thương nhưng thông qua những nét chấm phá nhẹ nhàng như thế, chúng ta cảm nhận được sự gắn bó tha thiết của tác giả với cảnh và người nơi miền quê.
Với cấu trúc chặt chẽ, ngôn ngữ dung dị mà đời thường cùng các biện pháp nghệ thuật so sánh, nhân hóa được sử dụng, bài thơ "Bến đò ngày mưa" của Anh Thơ mang đến cho người đọc cảm giác gần gũi, thân quen với những hình ảnh bình dị của bến đò ngày mưa. Thông qua đó là vẻ đẹp của con người cùng tình yêu quê hương kín đáo mà thi nhân gửi gắm. Thế mới thấy tâm hồn của thi sĩ Anh Thơ là một trái tim đa sầu đa cảm, khát khao được sống và cống hiến hết mình cho nghệ thuật.
Khép lại bài thơ, dư âm của nó vẫn còn đọng mãi trong lòng người đọc. "Bến đò ngày mưa" không chỉ là một bức tranh thiên nhiên buồn – nó còn là khúc ca trữ tình về cuộc sống lam lũ, âm thầm của người dân quê. Anh Thơ đã viết bài thơ này bằng tình yêu làng quê tha thiết, bằng sự thấu hiểu và đồng cảm sâu sắc với những số phận bình dị. Và bởi thế, mỗi khi nhớ về quê hương, ta lại tìm về những vần thơ ấy, để thấy lòng mình lắng lại, yêu thương hơn những gì giản dị, thân thương.
Phân tích một tác phẩm thơ: Bến đò ngày mưa - mẫu 2
Có những bài thơ không cần biến cố lớn, không cần kịch tính, chỉ bằng những hình ảnh giản dị của làng quê mà đủ sức làm rung động trái tim người đọc. "Bến đò ngày mưa" của Anh Thơ là một bài thơ như thế. Chỉ một bến đò vắng, một dòng sông trôi, vài quán hàng không khách, bác lái ghé buồm hút điếu, bà hàng sù sụ ho – tất cả đã tạo nên một bức tranh thơ vừa chân thực, vừa buồn bã, vừa gợi lên sự đồng cảm sâu sắc. Bài thơ mời gọi ta trở về với những giá trị bình dị nhất của cuộc sống, nơi con người âm thầm mưu sinh giữa mưa gió.
Thơ ca là tri thức đầu tiên và cuối cùng, nó bất diệt như trái tim con người (William Wordsworth). Thật vậy, thơ là tiếng nói của tình cảm xuất phát từ những rung cảm của trái tim với cuộc đời của người nghệ sĩ. Đến với Bến đò ngày mưa của Anh Thơ là đến với nỗi buồn của một hồn thơ trước cảnh quê mưa dầm, một nỗi buồn lặng như bến cô đơn đang cảm nghe mưa ngoài trời hóa thành mưa trong lòng của một hồn thơ lãng mạn:
“Tre rũ rượi ven bờ chen ướt át,
Chuối bơ phờ đầu bến đứng dầm mưa.
Và dầm mưa dòng sông trôi rào rạt
Mặc con thuyền cắm lái đậu chơ vơ.
Trên bến vắng, đắm mình trong lạnh lẽo,
Vài quán hàng không khách đứng xo ro,
Một bác lái ghé buồm vào hút điếu
Mặc bà già sù sụ sặc hơi, ho.
Ngoài đường lội họa hoằn người đến chợ
Thúng đội đầu như đội cả trời mưa.
Và họa hoằn một con thuyền ghé chở
Rồi âm thầm bến lại lặng trong mưa.”
Anh Thơ là một gương mặt hiền hòa lặng lẽ, nhưng cũng không kém vẻ tân kỳ. Chị đem lại cho Thơ mới một phong cách độc đáo, đặc biệt. Sau Tương Phố mười lăm năm, cùng các nhà thơ nữ đương thời Vân Ðài, Mộng Tuyết, Hằng Phương…, Anh Thơ đã góp phần chứng tỏ truyền thống nữ lưu văn học không hề đứt đoạn, mà càng nảy nở. Thơ của Anh Thơ hiền hoà ở cấu trúc, giọng điệu, ở bút pháp, nhưng tân kì ở những chi tiết. hình ảnh, những câu thơ rất ảo rất say. Bến đò ngày mưa dựng lại một khung cảnh bến đò nhỏ nơi làng quê vào ngày mưa. Nét vẽ thơ là nét tả thực, không bộn bề chi tiết, nhưng cũng gợi được cái hồn xưa cảnh cũ của thôn cảnh xứ Bắc thuở nào.
Cái hay của bài thơ là mỗi nét vẽ đượm thấm chất hồn nhiên của cảnh quyện lẫn với sự hồn nhiên của tâm hồn thi nhân. Bức tranh bến đò ngày mưa vì thế mà có hồn vía, có nét đẹp riêng.
Bài thơ mở ra là cảnh ven bờ, đầu bến. Trong không gian nghiêng nghiêng xa cách ấy, những tạo vật tre, chuối, dòng sông, con đò – những hình ảnh quen thuộc ở làng quê Bắc Bộ – như đang phơi mình tắm mưa.
“Tre rũ rượi ven bờ chen ướt át,
Chuối bơ phờ đầu bến đứng dầm mưa.
Và dầm mưa dòng sông trôi rào rạt
Mặc con thuyền cắm lái đậu chơ vơ.”
Tạo vật thiên nhiên tưởng như có chung một nỗi niềm, ngỡ như sum vầy, chung cùng một tình điệu mưa, cùng dầm mưa, ướt át . Thế mà, ở chúng chẳng có sợi tơ mảnh liên hệ nào. Mọi tạo vật là một hồn đơn, có sự sống riêng. Sở dĩ cảm nhận được như vậy là nhờ nhà thơ đã cài vào thơ những từ ngữ: rũ rượi, chen, bơ phờ, trôi rào rạt, chơ vơ,… rất nghệ thuật ứng với mỗi sự vật. Tre chen chúc nhau tìm hơi ấm. Chuối bất lực đành chịu bơ phờ trong mưa giầm. Dòng sông xuôi nhanh trốn mưa bỏ mặc con đò trơ vơ dưới mưa. Phải có con mắt tinh tế mới khám phá được nét riêng của tạo vật, mới cấp cho chúng một nét đẹp tâm hồn như thế.
Cảnh đầu bến ven bờ là vậy. Còn cảnh bến đò, trung tâm của bức tranh càng vắng lặng hơn trong mưa lạnh.
“Trên bến vắng, đắm mình trong lạnh lẽo,
Vài quán hàng không khách đứng co ro.
Một bác lái ghé buồm vào hút điếu
Mặc bà hàng sù sụ sặc hơi, ho.”
Không gian thơ đã có sự chuyển dịch từ sông đến bến, từ mưa đến lạnh, từ bến vắng đến quán nghèo và hẹp. Đắm mình trong không gian ấy là những quán hàng ế khách đang co ro vì lạnh và hai con người với hai hoạt động “thù nghịch” nhau, nối kết nhau. Ba hình ảnh vừa gợi được cái lạnh của mưa, vừa gợi được không khí vắng lặng của bến đò vừa gợi được sự ấm áp của lòng người. Giả như khổ thơ không có âm thanh rít lên của điếu thuốc lào, tiếng họ sù sụ vì sặc khói thuốc của bà hàng thì có lẽ thơ cũng chỉ như quán hàng không khách đứng co ro mà thôi. Thơ lúc ấy chỉ là thơ mặt phẳng, đâu còn là thơ sự sống ba chiều.Mạch thơ như mở rộng ra. Không gian ngoại vi bến đò đã có phần đông người hơn.
“Ngoài đường lội họa hoằn người đến chợ
Thúng đội đầu như đội cả trời mưa
Và hoạ hoằn một con thuyền ghé chở
Rồi âm thầm bến lại lặng trong mưa.”
Khổ thơ có hai nét cảnh với hai không gian con đường và bến sông. Hai không gian gợi sự chuyển vận, gợi sự sống của con người. Thế nhưng, sức sống ở làng quê cũng chỉ là hoạ hoằn người, hoạ hoằn thuyền (một hoán dụ nghệ thuật) đứt quãng để lại những khoảng hở lạnh giữa đất trời và trong lòng người.
Hai câu đầu vẽ ra không gian con đường ướt sũng nước mưa lầy lội. Trên con đường đó, những người dân quê thưa thớt đến chợ quê. Cảnh chẳng có chút gì vui. Cuộc sống người dân quê ngày xưa là thế. Người dân quê với những phiên chợ nghèo trong những ngày tạnh ráo đã buồn rồi huống hồ là phiên chợ ngày mưa ! Thế nên, con người có rời rạc đến phiên chợ buồn cũng chẳng có gì là lạ. Anh Thơ hẳn đã sống sâu với người dân quê mới có được một câu thơ thực đến thế. Nhưng nữ sĩ là một nhà thơ lãng mạn nên hình ảnh thơ từ cõi thực đã bay vào cõi ảo: Thúng đội đầu như đội cả trời mưa. Một câu thơ đẹp đến say người. Câu thơ như là một nút nhấn trong một bản đàn cung trầm. Câu thơ đẹp nhờ một lối so sánh đẹp. Người dân quê nghèo nhưng tâm hồn cũng dào dạt chất thơ.
Hai câu kết là không gian bến sông, nhưng thực ra là cả dòng sông dài qua hoạt động của thuyền đến đổ bến rồi ra đi. Nhà thơ đã lấy động để nói tĩnh gợi được cái vắng của sông: hoạ hoằn con thuyền đến chở và cái lặng của bến lại lặng trong mưa. Bài thơ mở ra là ven bờ, đậu bến và khép lại với hình ảnh bến âm thầm lặng trong mưa. Bài thơ như vậy là có một cái tứ xuyên suốt: nỗi buồn của một hồn thơ trước cảnh quê mưa dầm, một nỗi buồn lặng như bến cô đơn đang cảm nghe mưa ngoài trời hóa thành mưa trong lòng của một hồn thơ lãng mạn.
Bến đò ngày mưa có cấu trúc chặt chẽ, chi tiết bình thường đã được nhà thơ thổi vào đấy sức sống mới nên có sức hấp dẫn riêng. Bài thơ tái hiện không khí vắng vẻ, ngưng đọng cũ kĩ ở chốn quê một thời đã qua, nên có thể xem bài thơ như là một chứng tích văn hoá của quê hương Việt một thời đã qua, nhưng lại là một thời để nhớ, để yêu. Đó là điều đáng trân trọng của hồn thơ Anh Thơ.
"Bến đò ngày mưa" là bài thơ của những thương cảm, của sự xót xa trước cuộc sống nhọc nhằn nơi thôn quê. Anh Thơ đã viết nó bằng cả trái tim, bằng tình yêu làng quê sâu nặng. Và bởi thế, dù thời gian có trôi qua, dù cuộc sống có thay đổi, bài thơ vẫn còn đó, như một chứng nhân cho vẻ đẹp bình dị mà đầy ám ảnh của làng quê Việt Nam – nơi con người lam lũ, kiên cường, vẫn bền bỉ sống và yêu thương giữa muôn vàn khó khăn.
Phân tích một tác phẩm thơ: Bến đò ngày mưa - mẫu 3
Trong làng Thơ mới, Anh Thơ nổi lên như một giọng thơ riêng biệt, gắn bó máu thịt với cảnh sắc đồng quê. "Bến đò ngày mưa" là một trong những sáng tác tiêu biểu cho phong cách ấy. Bài thơ mở ra một không gian mưa ẩm ướt, lạnh lẽo, nơi cảnh vật và con người hòa quyện trong một bức tranh vừa thực, vừa buồn, vừa gợi lên nỗi cô quạnh khó tả. Từ tre rũ rợi, chuối bơ phờ đến bến vắng, quán hàng không khách, tất cả như chìm trong màn mưa trắng xóa, chỉ còn lại sự lặng lẽ, đìu hiu.
Mở đầu bài thơ là khung cảnh uể oải, ướt át của thiên nhiên trong mưa:
“Tre rũ rợi ven bờ chen ướt át,
Chuối bơ phờ đầu bến đứng dầm mưa.
Và dầm mưa dòng sông trôi rào rạt
Mặc con thuyền cắm lái đậu chơ vơ.”
Cây tre, cây chuối là hình ảnh quen thuộc ở làng quê, nhưng qua cách miêu tả của Anh Thơ, chúng trở nên tàn tạ, dầm dề và trông thật cam chịu. Những từ như "rũ rợi" và "bơ phờ" giúp người đọc cảm nhận được sự mệt mỏi của thiên nhiên khi bị mưa làm ướt át, trĩu nặng. Dòng sông trong mưa "trôi rào rạt" với con thuyền "cắm lái đậu chơ vơ" tạo nên khung cảnh hoang vắng, cô quạnh. Hình ảnh con thuyền chơ vơ giữa dòng sông trong mưa như chính tâm trạng của tác giả – một nỗi buồn lặng lẽ, nhẹ nhàng thấm vào không gian.
Trong khung cảnh ấy, bến đò trở nên vắng vẻ và đắm mình trong cái lạnh lẽo của mưa. Anh Thơ đã khéo léo khắc họa cảnh bến đò bằng những chi tiết thực và gần gũi:
“Trên bến vắng, đắm mình trong lạnh lẽo,
Vài quán hàng không khách đứng xo ro,
Một bác lái ghé buồm vào hút điếu
Mặc bà già sù sụ sặc hơi, ho.”
Bức tranh làng quê hiện lên rõ nét qua hình ảnh những quán hàng không có khách, trống trải, lạnh lẽo. Người lái đò, biểu tượng cho hình ảnh của người lao động nơi bến sông, xuất hiện qua chi tiết "ghé buồm vào hút điếu," bất chấp cái lạnh và mưa vẫn đều đặn làm công việc hằng ngày. Bên cạnh đó, hình ảnh "bà già sù sụ sặc hơi, ho" cũng thật quen thuộc và chân thật. Như vậy, cảnh mưa không chỉ làm thiên nhiên mệt mỏi mà còn khiến con người thêm cam chịu, lặng lẽ và nhẫn nại trong cuộc sống thường nhật.
Khép lại bài thơ là hình ảnh con người đang hoạt động dưới cơn mưa:
“Ngoài đường lội họa hoằn người đến chợ
Thúng đội đầu như đội cả trời mưa.
Và họa hoằn một con thuyền ghé chở
Rồi âm thầm bến lại lặng trong mưa.”
Tác giả miêu tả cảnh đường làng lầy lội trong mưa, nơi có "họa hoằn người đến chợ." Người nông dân ở đây đội "thúng trên đầu như đội cả trời mưa" – hình ảnh miêu tả sự vất vả, nặng nhọc của người dân quê khi phải đối mặt với thời tiết khắc nghiệt. Sự khắc khổ, nhọc nhằn của họ được thể hiện qua chi tiết chân thực ấy. Hình ảnh "họa hoằn một con thuyền ghé chở" và rồi "bến lại lặng trong mưa" gợi lên một bức tranh tĩnh lặng, như một khoảnh khắc bất động trong không gian. Mưa khiến mọi thứ trở nên trầm lặng, nhịp sống của người dân dường như chậm lại, và bến đò lại chìm vào sự quạnh hiu, vắng lặng.
Tâm nhờ tài mà tỏa sáng vì thế hình thức nghệ thuật là yếu tố không thể thiếu trong mỗi tác phẩm bài thơ. Anh Thơ sử dụng ngôn từ bình dị, chân chất nhưng giàu sức gợi. Những từ ngữ như "rũ rợi," "bơ phờ," "xo ro" đều là những từ dân dã, gần gũi, mô tả sự mệt mỏi, ướt át của cảnh vật và sự cam chịu của con người trong mưa. Cách miêu tả của Anh Thơ không hề cầu kỳ, hoa mỹ, mà chọn lọc từ ngữ đơn giản, súc tích, giúp người đọc cảm nhận được trọn vẹn cảnh sắc và tâm trạng trong một ngày mưa u ám ở làng quê. Các hình ảnh như cây tre, cây chuối, dòng sông, con thuyền, bến đò và con người đều được miêu tả chân thực, sinh động, như một bức tranh thủy mặc buồn man mác.
Bên cạnh đó, giọng thơ của Anh Thơ nhẹ nhàng, trầm lắng, tạo nên cảm giác cô tịch, u buồn và hoài niệm. Nhịp điệu chậm rãi, từ tốn làm tăng thêm sự trống trải của khung cảnh, khiến người đọc cảm nhận được sâu sắc tâm trạng hoang vắng, lạnh lẽo của bến đò ngày mưa. Điểm nhấn của bài thơ là sự kết hợp giữa hình ảnh thiên nhiên và con người trong mưa, qua đó tác giả truyền tải sự khắc khổ và vẻ đẹp bình dị của làng quê, đặc biệt là sự chịu đựng, chấp nhận của con người trước những khó khăn trong cuộc sống.
Hoài Thanh có viết: "Nhà văn không có phép thần thông để vượt ra khỏi thế giới này, nhưng thế giới này trong con mắt nhà văn phải có một hình sắc riêng". Bến đò ngày mưa có cấu trúc chặt chẽ, chi tiết bình thường đã được nhà thơ thổi vào đấy sức sống mới nên có sức hấp dẫn riêng. Bài thơ không chỉ là bức tranh thiên nhiên, mà còn chứa đựng thông điệp sâu sắc về cuộc sống. Qua những hình ảnh giản dị và chân thực, Anh Thơ khéo léo gửi gắm sự đồng cảm với cuộc sống vất vả của người nông dân. Người đọc không chỉ nhìn thấy bức tranh làng quê mà còn thấu hiểu hơn vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên, cùng với sự chịu đựng, nhẫn nại của con người nơi thôn quê. Bến đò ngày mưa vì thế đã chạm vào lòng người bằng vẻ đẹp chân thật và giàu cảm xúc, khiến ta thêm trân trọng những giá trị giản dị trong cuộc sống.
"Bến đò ngày mưa", ta thấy lòng mình lắng lại, bồi hồi, xao xuyến. Anh Thơ đã không chỉ vẽ nên một bức tranh phong cảnh – bà còn gửi gắm vào đó tình yêu tha thiết với mảnh đất nơi mình sinh ra, cùng sự đồng cảm sâu sắc với những con người nhọc nhằn nơi thôn dã. Bài thơ như một lời nhắn nhủ dịu dàng: hãy trân trọng những gì bình dị, thân thương nhất, bởi đó chính là cội nguồn nuôi dưỡng tâm hồn mỗi con người.
Phân tích một tác phẩm thơ: Bến đò ngày mưa - mẫu 4
Người ta thường nói, thơ Anh Thơ là thơ của làng quê, của những ngày mưa buồn, của những bến đò vắng lặng. "Bến đò ngày mưa" là một bài thơ như thế. Viết về một bến đò trong ngày mưa, nhà thơ đã tạo nên một không gian nghệ thuật đầy ám ảnh: vừa tĩnh lặng, vừa sống động, vừa thực, vừa buồn, vừa gợi lên sự xót xa cho những mảnh đời nhỏ bé. Bài thơ là tiếng nói của một tâm hồn nhạy cảm trước nỗi vất vả, lam lũ của người dân quê trong cuộc sống thường nhật.
Bài thơ triển khai theo mạch quan sát từ gần đến xa, từ cảnh vật đến con người, từ tĩnh lặng đến những chuyển động thưa thớt. Ngay từ khổ thơ đầu, không gian ven sông hiện ra trong màn mưa xám lạnh:
“Tre rũ rợi ven bờ chen ướt át,
Chuối bơ phờ đầu bến đứng giầm mưa.
Và giầm mưa dòng sông trôi rào rạt
Mặc con thuyền cắm lái đậu chơ vơ”.
Những hình ảnh tre, chuối, dòng sông, con thuyền đều rất quen thuộc của làng quê Bắc Bộ. Song qua cái nhìn tinh tế của nhà thơ, chúng như mang tâm trạng. Tre “rũ rợi”, chuối “bơ phờ”, con thuyền “chơ vơ” – các từ láy giàu sắc thái gợi tả đã nhân hóa cảnh vật, khiến thiên nhiên dường như cũng thấm mệt, buồn bã trong mưa. Không gian mở rộng nhưng vắng lặng, chỉ có dòng sông “trôi rào rạt” làm nền cho sự tĩnh mịch bao trùm.
Sang khổ thơ tiếp, điểm nhìn dịch chuyển vào bến vắng và quán nhỏ:
“Trên bến vắng, đắm mình trong lạnh lẽo,
Vài quán hàng không khách đứng co ro.
Một bác lái ghé buồm vào hút điếu,
Mặc bà hàng sù sụ sặc hơi, ho”.
Cảnh vật và con người hòa vào nhau trong cái lạnh mưa phùn. Những quán hàng “đứng co ro” vừa tả thực vừa gợi cảm giác heo hút. Hình ảnh bác lái đò lặng lẽ hút thuốc, bà hàng ho sù sụ làm hiện lên nhịp sống chậm rãi, tẻ nhạt mà chân thực. Con người nơi bến đò không nhộn nhịp, không ồn ào; họ tồn tại lặng lẽ giữa không gian xám lạnh, tạo nên vẻ đẹp mộc mạc của đời sống thôn quê.
Khổ cuối mở rộng không gian ra con đường và bến sông:
“Ngoài đường lội họa hoằn người đến chợ
Thúng đội dầu như đội cả trời mưa.
Và họa hoằn một con thuyền ghé chở
Rồi âm thầm bến lại lặng trong mưa”.
Từ “họa hoằn” được lặp lại nhấn mạnh sự thưa thớt của sinh hoạt. Hình ảnh so sánh “thúng đội dầu như đội cả trời mưa” gợi cảm giác nặng nề, nhọc nhằn. Sau vài chuyển động hiếm hoi ấy, bến đò lại trở về trạng thái “âm thầm”, “lặng trong mưa”. Nhịp điệu bài thơ vì thế khép lại trong sự tĩnh lặng triền miên.
Qua toàn bộ bức tranh, có thể thấy cảnh quê hiện lên bình dị, hoang vắng và phảng phất buồn. Nhưng ẩn sâu trong đó là một tình yêu quê hương tha thiết. Nhà thơ không trực tiếp bộc lộ cảm xúc, song từng chi tiết tả thực đều thấm đượm sự gắn bó và nâng niu.
Thành công nổi bật của bài thơ là bút pháp tả thực giàu tính tạo hình. Anh Thơ lựa chọn những chi tiết rất đời thường: tre, chuối, quán hàng, con đò, người đi chợ… nhưng qua cách quan sát tinh tế, chúng trở nên có hồn.
Ngôn ngữ thơ giàu sức gợi với hàng loạt từ láy: “rũ rợi”, “ướt át”, “bơ phờ”, “rào rạt”, “chơ vơ”, “lạnh lẽo”, “co ro”, “sù sụ”, “họa hoằn”, “âm thầm”… Những từ ngữ ấy không chỉ tạo nhạc tính mà còn khắc sâu ấn tượng về cái lạnh, cái vắng và nỗi buồn thấm thía của không gian.
Bên cạnh đó, nghệ thuật nhân hóa, so sánh, điệp từ được sử dụng linh hoạt, góp phần làm nổi bật bút pháp “lấy động tả tĩnh”. Có chuyển động của mưa, của dòng sông, của con thuyền ghé bến, nhưng tất cả chỉ càng làm rõ hơn cái tĩnh lặng bao trùm.
Nhịp thơ chậm rãi, đều đặn, phù hợp với việc khắc họa một không gian mưa buồn, qua đó thể hiện rõ phong cách riêng của Anh Thơ – nhẹ nhàng mà sâu lắng.
Bến đò ngày mưa không chỉ là bức tranh tả cảnh đơn thuần mà còn là bức tranh tâm trạng. Với bút pháp tả thực tinh tế, ngôn ngữ giàu giá trị biểu cảm và giọng điệu trầm lắng, bài thơ đã tái hiện chân thực vẻ đẹp bình dị, hoang vắng của làng quê Bắc Bộ trong ngày mưa, đồng thời thể hiện tình yêu quê hương sâu kín của nhà thơ. Tác phẩm góp phần khẳng định vị trí riêng của Anh Thơ trong phong trào Thơ mới và để lại dư vị man mác buồn, đầy chất thơ trong lòng người đọc.
"Bến đò ngày mưa" khép lại nhưng dư âm của nó vẫn còn vọng mãi. Anh Thơ đã viết bài thơ này bằng tất cả tình yêu và sự tinh tế của một hồn thơ. Có thể cuộc sống hôm nay đã thay đổi nhiều, nhưng những hình ảnh về bến đò, dòng sông, con thuyền trong bài thơ vẫn còn vẹn nguyên giá trị. Bởi lẽ, dù thời gian có trôi qua, sự đồng cảm với những số phận lam lũ, nhọc nhằn vẫn mãi là thứ tình cảm thiêng liêng nhất trong trái tim mỗi con người.
Phân tích một tác phẩm thơ: Bến đò ngày mưa - mẫu 5
Giữa những bộn bề của cuộc sống hiện đại, đôi khi ta muốn tìm về một không gian yên bình, nơi có bến đò xưa, có dòng sông chậm chảy, có bóng dáng người lao động âm thầm. "Bến đò ngày mưa" của Anh Thơ chính là một không gian như thế. Bài thơ đưa ta trở về với làng quê Việt Nam thanh bình, nơi thiên nhiên và con người hòa quyện trong một bức tranh vừa thực, vừa buồn, vừa gợi lên biết bao suy tư. Đó là thứ không gian tinh thần mà bất cứ ai xa quê cũng khao khát được trở về.
Ngay từ những câu thơ đầu, nhà thơ đã dựng lên một bức tranh thiên nhiên thấm đẫm hơi nước và nỗi buồn:
“Tre rủ rợi ven bờ chen ướt át,
Chuối bơ phờ đầu bến đứng dầm mưa.”
Chỉ bằng vài nét phác họa, Anh Thơ đã làm hiện lên cả một không gian ẩm ướt, nặng trĩu. Hình ảnh “tre rủ rợi”, “chuối bơ phờ” không đơn thuần là miêu tả ngoại cảnh mà còn là sự nhân hóa đầy tinh tế. Cây tre, bụi chuối vốn quen thuộc, gần gũi của làng quê giờ đây như mang tâm trạng của con người: mệt mỏi, uể oải, rũ xuống dưới làn mưa dai dẳng. Từ láy “rủ rợi”, “bơ phờ” gợi cảm giác kiệt sức, khiến cảnh vật dường như cũng biết buồn, biết mỏi. Mưa không ập đến dữ dội mà “dầm”, “trôi rào rạt” – một kiểu mưa kéo dài, bền bỉ, khiến không gian càng thêm trầm lắng và hiu quạnh.
Bức tranh thiên nhiên tiếp tục được mở rộng với hình ảnh dòng sông và bến đò:
“Mặc con thuyền cắm lái đậu chơ vơ,
Trên bến vắng, đám mình trong lạnh lẽo.”
Ở đây, nghệ thuật lấy động tả tĩnh được vận dụng khéo léo. Mưa vẫn rơi, nước vẫn chảy, nhưng chính sự chuyển động ấy lại làm nổi bật cái tĩnh lặng đến rợn ngợp của không gian. Con thuyền “chơ vơ” trở thành điểm nhấn giàu sức gợi. Nó không chỉ đơn giản là một phương tiện qua sông mà còn như biểu tượng của sự cô đơn, lạc lõng giữa thiên nhiên rộng lớn. “Bến vắng” càng nhấn mạnh sự trống trải, thiếu vắng hơi ấm con người. Từ “lạnh lẽo” không chỉ miêu tả thời tiết mà còn gợi cảm giác buốt giá trong tâm hồn, khiến người đọc như cảm nhận được cái lạnh thấm sâu qua từng câu chữ.
Không chỉ dừng lại ở cảnh vật, bài thơ còn khắc họa sinh hoạt con người trong ngày mưa, nhưng tất cả đều nhuốm màu hiu hắt:
“Vài quán hàng không khách đứng xơ ro,
Một bác lái ghé buồm vào hút điếu.”
Hình ảnh “quán hàng không khách” gợi sự ế ẩm, vắng vẻ của cuộc sống thường nhật. Từ láy “xơ ro” vừa tả dáng vẻ co ro của con người trong mưa lạnh, vừa gợi sự tội nghiệp, nhỏ bé. Con người xuất hiện nhưng không làm cho bức tranh trở nên nhộn nhịp hơn, trái lại càng làm nổi bật sự buồn tẻ, quạnh hiu. Hình ảnh “bác lái đò hút điếu” là một chi tiết rất đời thường nhưng lại giàu sức gợi. Đó là dáng vẻ của sự chờ đợi, của nhịp sống chậm rãi và có phần ngưng đọng. Trong làn mưa dầm, con người như thu mình lại, lặng lẽ tồn tại giữa không gian tĩnh mịch.
Đến những câu thơ cuối, bức tranh đạt đến chiều sâu của cảm xúc khi có thêm sự xuất hiện của những người đi chợ:
“Ngoài đường lội lội hóa hoang người đến chợ,
Thúng đội đầu như đội cả trời mưa.
Và họa hoằn một con thuyền ghé chở,
Rồi âm thầm bến lại lặng trong mưa.”
Hình ảnh “đội cả trời mưa” là một sáng tạo nghệ thuật đặc sắc. Nó không chỉ tả thực cái nặng nề của những gánh hàng, mà còn gợi lên cảm giác con người đang phải gánh chịu cả sức nặng của thiên nhiên. Cuộc sống vẫn tiếp diễn, con người vẫn đi chợ, vẫn mưu sinh, nhưng tất cả đều trở nên nhọc nhằn, vất vả hơn trong cơn mưa dầm. Từ “họa hoằn” cho thấy sự thưa thớt, hiếm hoi, càng làm nổi bật sự vắng vẻ của bến đò. Và rồi, tất cả lại chìm vào “âm thầm”, “lặng trong mưa” – một cái kết khép lại bức tranh bằng nốt trầm sâu lắng, để lại dư âm buồn nhưng rất đẹp trong lòng người đọc.
Về nghệ thuật, bài thơ là minh chứng rõ nét cho tài năng của Anh Thơ trong việc “vẽ” cảnh bằng thơ. Mỗi câu thơ như một nét cọ, góp phần tạo nên một bức tranh thủy mặc nhẹ nhàng mà giàu sức gợi. Việc sử dụng từ láy giàu giá trị biểu cảm (“rủ rợi”, “bơ phờ”, “chơ vơ”, “xơ ro”…), kết hợp với thủ pháp nhân hóa và tả cảnh ngụ tình đã khiến cảnh và tình hòa quyện vào nhau một cách tự nhiên. Không có những lời bộc lộ cảm xúc trực tiếp, nhưng người đọc vẫn cảm nhận rõ một nỗi buồn man mác lan tỏa trong toàn bài.
Về nội dung, “Bến đò ngày mưa” không chỉ đơn thuần là bức tranh thiên nhiên mà còn là bức tranh đời sống. Qua đó, nhà thơ đã tái hiện vẻ đẹp bình dị, chân thực của làng quê Việt Nam, đồng thời gợi lên nhịp sống chậm rãi, lặng lẽ của con người nơi đây. Đó là một cuộc sống tuy giản dị, có phần buồn tẻ nhưng lại rất đỗi chân thực và giàu sức gợi. Nỗi buồn trong bài thơ không bi lụy mà nhẹ nhàng, thấm sâu – một nỗi buồn rất “quê”, rất Việt Nam.
"Bến đò ngày mưa" sẽ còn mãi trong lòng người yêu thơ. Bởi nó là tiếng nói của làng quê, của những con người lao động nhọc nhằn, của những gì thân thương và gần gũi nhất. Anh Thơ đã làm một điều tưởng chừng đơn giản nhưng vô cùng khó: bà đã bắt được cái hồn của làng quê Việt Nam, cái tình của đất nước, và gửi gắm nó vào những vần thơ mộc mạc mà sâu lắng. Đọc bài thơ, ta như được trở về với cội nguồn, với những giá trị bình dị mà thiêng liêng.
Phân tích một tác phẩm thơ: Bến đò ngày mưa - mẫu 6
Anh Thơ sinh ra và lớn lên ở vùng đồng bằng Bắc Bộ – nơi có những dòng sông hiền hòa, những bến đò thân thuộc. Có lẽ vì thế, thơ bà luôn thấm đượm hồn quê, vị quê. "Bến đò ngày mưa" là một bài thơ như thế. Dưới ngòi bút tài hoa của Anh Thơ, bến đò vắng, dòng sông trôi, con thuyền cắm lại, quán hàng không khách hiện lên như một bức tranh thủy mặc buồn. Tất cả hòa quyện tạo nên một không gian vừa thực, vừa buồn, vừa gợi nhớ, vừa nuối tiếc, vừa thấm đẫm tình người.
Bài thơ mở ra là cảnh ven bờ, đầu bến. Trong không gian nghiêng nghiêng xa cách ấy, những tạo vật tre, chuối, dòng sông, con đò – những hình ảnh quen thuộc ở làng quê Bắc Bộ – như đang phơi mình tắm mưa.
“Tre rũ rợi ven bờ chen ướt át,
Chuối bơ phờ đầu bến đứng giầm mưa.
Và giầm mưa dòng sông trôi rào rạt
Mặc con thuyền cắm lái đậu chơ vơ.”
Tạo vật thiên nhiên tưởng như có chung một nỗi niềm, ngỡ như sum vầy, chung cùng một tình điệu mưa, cùng giầm mưa, ướt át . Thế mà, ở chúng chẳng có sợi tơ mảnh liên hệ nào. Mỗi tạo vật là một hồn đơn, có sự sống riêng. Sở dĩ cảm nhận được như vậy là nhờ nhà thơ đã cài vào thơ những từ ngữ: rũ rượi, chen, bơ phờ, trôi rào rạt, chơ vơ,… rất nghệ thuật ứng với mỗi sự vật. Tre chen chúc nhau tìm hơi ấm. Chuối bất lực đành chịu bơ phờ trong mưa giầm. Dòng sông xuôi nhanh trốn mưa bỏ mặc con đò trơ vơ dưới mưa. Phải có con mắt tinh tế mới khám phá được nét riêng của tạo vật, mới cấp cho chúng một nét đẹp tâm hồn như thế.
Cảnh đầu bến ven bờ là vậy. Còn cảnh bến đò, trung tâm của bức tranh càng vắng lặng hơn trong mưa lạnh.
“Trên bến vắng, đắm mình trong lạnh lẽo,
Vài quán hàng không khách đứng co ro.
Một bác lái ghé buồm vào hút điếu
Mặc bà hàng sù sụ sặc hơi, ho.”
Không gian thơ đã có sự chuyển dịch từ sông đến bến, từ mưa đến lạnh, từ bến vắng đến quán nghèo và hẹp. Đắm mình trong không gian ấy là những quán hàng ế khách đang co ro vì lạnh và hai con người với hai hoạt động “thù nghịch” nhau, nối kết nhau. Ba hình ảnh vừa gợi được cái lạnh của mưa, vừa gợi được không khí vắng lặng của bến đò vừa gợi được sự ấm áp của lòng người. Giả như khổ thơ không có âm thanh rít lên của điếu thuốc lào, tiếng họ sù sụ vì sặc khói thuốc của bà hàng thì có lẽ thơ cũng chỉ như quán hàng không khách đứng co ro mà thôi. Thơ lúc ấy chỉ là thơ mặt phẳng, đâu còn là thơ sự sống ba chiều.Mạch thơ như mở rộng ra. Không gian ngoại vi bến đò đã có phần đông người hơn.
“Ngoài đường lội họa hoằn người đến chợ
Thúng đội dầu như đội cả trời mưa
Và hoạ hoằn một con thuyền ghé chở
Rồi âm thầm bến lại lặng trong mưa.”
Khổ thơ có hai nét cảnh với hai không gian con đường và bến sông. Hai không gian gợi sự chuyển vận, gợi sự sống của con người. Thế nhưng, sức sống ở làng quê cũng chỉ là hoạ hoằn người, hoạ hoằn thuyền (một hoán dụ nghệ thuật) đứt quãng để lại những khoảng hở lạnh giữa đất trời và trong lòng người.
Hai câu đầu vẽ ra không gian con đường ướt sủng nước mưa lầy lội. Trên con đường đó, những người dân quê thưa thớt đến chợ quê. Cảnh chẳng có chút gì vui. Cuộc sống người dân quê ngày xưa là thế. Người dân quê với những phiên chợ nghèo trong những ngày tạnh ráo đã buồn rồi huống hồ là phiên chợ ngày mưa ! Thế nên, con người có rời rạc đến phiên chợ buồn cũng chẳng có gì là lạ. Anh Thơ hẳn đã sống sâu với người dân quê mới có được một câu thơ thực đến thế. Nhưng nữ sĩ là một nhà thơ lãng mạn nên hình ảnh thơ từ cõi thực đã bay vào cõi ảo: Thúng đội đầu như đội cả trời mưa. Một câu thơ đẹp đến say người. Câu thơ như là một nốt nhấn trong một bản đàn cung trầm. Câu thơ đẹp nhờ một lối so sánh đẹp. Người dân quê nghèo nhưng tâm hồn cũng dào dạt chất thơ.
Hai câu kết là không gian bến sông, nhưng thực ra là cả dòng sông dài qua hoạt động của thuyền đến đỗ bến rồi ra đi. Nhà thơ đã lấy động để nói tĩnh gợi được cái vắng của sông: hoạ hoằn con thuyền đến chở và cái lặng của bến lại lặng trong mưa. Bài thơ mở ra là ven bờ, đầu bến và khép lại với hình ảnh bến âm thầm lặng trong mưa. Bài thơ như vậy là có một cái tứ xuyên suốt: nỗi buồn của một hồn thơ trước cảnh quê mưa giầm, một nỗi buồn lặng như bến cô đơn đang cảm nghe mưa ngoài trời hoá thành mưa trong lòng của một hồn thơ lãng mạn.
"Bến đò ngày mưa" là bài thơ của những thương cảm, của sự xót xa trước cuộc sống lam lũ, nhọc nhằn. Anh Thơ đã viết nó bằng cả trái tim, bằng tình yêu làng quê sâu nặng. Và bởi thế, dù thời gian có trôi qua, dù cuộc sống có thay đổi, bài thơ vẫn còn đó, như một chứng nhân cho vẻ đẹp bình dị mà đầy ám ảnh của làng quê Việt Nam – nơi con người âm thầm mưu sinh, kiên cường vượt qua khó khăn.
Phân tích một tác phẩm thơ: Bến đò ngày mưa - mẫu 7
Người ta bảo rằng, thơ ca đích thực phải bắt nguồn từ những rung động chân thành trước cuộc sống. "Bến đò ngày mưa" của Anh Thơ chính là một bài thơ như thế. Không cầu kỳ, không hoa mỹ, chỉ những hình ảnh giản dị của làng quê: tre rũ rợi, chuối bơ phờ, dòng sông trôi rào rạt, con thuyền đậu trơ vơ – tất cả đã tạo nên một bức tranh thiên nhiên vừa buồn bã, vừa chân thực, vừa gợi lên trong lòng người đọc những cảm xúc xót xa, thương cảm.
Mở đầu bài thơ, Anh Thơ không giới thiệu bối cảnh bằng những danh từ tĩnh lặng mà bằng những động từ và tính từ mang tính biểu cảm mạnh mẽ. Dưới màn mưa giăng lối, cảnh vật không còn vẻ tươi tắn thường ngày mà hiện lên trong sự rệu rã:
"Tre rũ rượi ven bờ chen ướt át,
Chuối bơ phờ đầu bến đứng dầm mưa."
Nghệ thuật nhân hóa đã biến những hàng tre, rặng chuối vô tri trở thành những thực thể có linh hồn, có cảm xúc. Từ láy "rũ rượi" gợi lên hình ảnh những cành tre lòa xòa, ướt sũng, xơ xác dưới gió mưa. Trong khi đó, tính từ "bơ phờ" lại cực tả sự mệt mỏi, dường như cái lạnh của nước mưa đã thấm sâu vào từng phiến lá, khiến chúng không còn sức sống.
Sự đối lập giữa cái tĩnh và cái động được tác giả cài cắm tinh tế ở hai câu tiếp theo. Dòng sông thì "trôi rào rạt" – một trạng thái chuyển động hối hả, dữ dội của thiên nhiên, nhưng con thuyền lại "cắm lái đậu chơ vơ". Hình ảnh con thuyền cô độc giữa dòng nước xiết không chỉ là tả thực mà còn là một biểu tượng nghệ thuật cho sự lạc lõng, bơ vơ của kiếp người trước những biến động của cuộc đời.
Từ dòng sông, ánh mắt của thi sĩ dời về phía bến đò – nơi vốn dĩ phải là trung tâm của sự giao thương, gặp gỡ. Nhưng dưới cơn mưa dai dẳng, bến đò lại hiện ra với vẻ tiêu điều đến nao lòng:
"Trên bến vắng, đắm mình trong lạnh lẽo,
Vài quán hàng không khách đứng xo ro,"
Cái "xo ro" của những quán hàng chính là cái xo ro của những phận đời nghèo khổ. Quán hàng không khách đồng nghĩa với việc mưu sinh đình trệ. Hình ảnh con người xuất hiện ở khổ thơ thứ hai càng làm đậm thêm không khí u buồn: một bác lái lánh vào hút điếu thuốc để tìm chút hơi ấm, một bà già ho "sụ sụ" vì cái lạnh ngấm vào phổi. Những chi tiết này không hề được thi vị hóa hay tô hồng; chúng thực đến mức ta như nghe thấy tiếng ho lụ khụ, ngửi thấy mùi thuốc lào nồng nặc và cảm nhận được cái khí lạnh len lỏi qua làn áo mỏng. Anh Thơ đã nhìn đời bằng đôi mắt của một người con xứ sở, đầy thấu cảm và xót thương.
Điểm sáng nghệ thuật rực rỡ nhất, cũng là câu thơ ám ảnh nhất bài thơ nằm ở khổ cuối:
"Ngoài đường lội họa hoằn người đến chợ
Thúng đội đầu như đội cả trời mưa."
Trên con đường lầy lội, sự sống chỉ xuất hiện "họa hoằn" (hiếm hoi). Hình ảnh người đi chợ với chiếc thúng đội trên đầu là một hình ảnh rất quen thuộc của nông thôn xưa. Thế nhưng, qua phép so sánh "như đội cả trời mưa", Anh Thơ đã nâng tầm ý nghĩa của nó. "Trời mưa" ở đây không chỉ là hiện tượng thời tiết, mà là gánh nặng của thiên tai, là sự khắc nghiệt của số phận. Câu thơ gợi lên sức mạnh tiềm tàng và sự nhẫn nại phi thường của người phụ nữ Việt Nam. Họ lặng lẽ bước đi, gánh trên đầu cả một bầu trời xám xịt để đổi lấy chén cơm, manh áo cho gia đình.
Thành công của bài thơ trước hết nằm ở hệ thống từ láy đậm chất hội họa. Anh Thơ đã dùng ngôn từ để vẽ nên một bức tranh có độ phân giải cao, nơi người đọc không chỉ "thấy" mà còn "cảm" được độ ẩm của không khí, độ lạnh của nước sông.
Bên cạnh đó, nhịp điệu của bài thơ chậm rãi, đều đặn như nhịp rơi của những hạt mưa thu, tạo nên một không gian trầm mặc, suy tư. Cách chọn lọc chi tiết của bà rất tinh tế: bà không tả cả cơn mưa mà tả cái "hậu quả" của nó lên vạn vật (tre rũ, chuối bơ phờ, người xo ro). Đó chính là bút pháp "lấy điểm gợi diện" đặc trưng của thi pháp cổ điển nhưng được làm mới bằng cái tôi cá nhân của Thơ mới.
"Bến đò ngày mưa" là bài thơ của sự tĩnh lặng và những thương cảm thầm kín. Anh Thơ đã viết nó bằng tình yêu và sự thấu hiểu sâu sắc về làng quê. Những câu thơ cuối với hình ảnh "âm thầm bến lại lặng trong mưa" là một kết thúc đẹp, gợi lên sự trở về của tĩnh lặng sau những họa hoằn của sự sống. Bài thơ khép lại nhưng dư âm của nó vẫn còn vọng mãi, nhắc nhở ta về vẻ đẹp bình dị mà thiêng liêng của quê hương.
Phân tích một tác phẩm thơ: Bến đò ngày mưa - mẫu 8
Trong bức tranh đa sắc màu của phong trào Thơ mới, Anh Thơ nổi lên như một gam màu riêng biệt – gam màu của làng quê thanh bình với những bến đò, dòng sông, cây tre, bụi chuối. "Bến đò ngày mưa" là một bức tranh thơ tiêu biểu cho phong cách ấy. Bài thơ mở ra trước mắt người đọc một không gian mưa ẩm ướt, lạnh lẽo, nơi thiên nhiên và con người hòa quyện trong một bức tranh vừa buồn, vừa chân thực, vừa gợi lên sự đồng cảm sâu sắc. Đọc bài thơ, ta như lạc vào một thế giới vừa gần gũi, vừa xa xôi, vừa thân thương, vừa xót xa.
Anh Thơ không miêu tả cơn mưa bằng âm thanh ào ạt hay những tia chớp chói lòa. Bà chọn tả cái "hệ quả" của mưa lên vạn vật. Hãy nhìn cách bà phù phép cho cây cối:
"Tre rũ rượi ven bờ chen ướt át,
Chuối bơ phờ đầu bến đứng dầm mưa."
Ở đây, thiên nhiên không còn là ngoại cảnh vô tri. Những từ "rũ rượi", "bơ phờ" đã biến rặng tre, tàu chuối thành những "nhân chứng" đang mệt nhoài dưới sức nặng của bầu trời xám xịt. Cảnh vật như đang cùng con người chia sẻ một gánh nặng tâm trạng chung: sự uể oải, nhạt nhòa và bất lực. Con thuyền "cắm lái đậu chơ vơ" không đơn thuần là một phương tiện giao thông, mà nó là biểu tượng của sự ngưng trệ. Giữa dòng đời trôi "rào rạt", sự tĩnh lặng của con thuyền tạo nên một khoảng trống hun hút, gợi nhắc về sự cô đơn tột cùng của cá thể trước dòng chảy thời gian.
Nếu thiên nhiên là cái nền xám, thì con người chính là những nét chấm phá bạc nhược trên cái nền ấy. Anh Thơ đã nắm bắt được những khoảnh khắc cực kỳ tinh tế của sự sống:
"Vài quán hàng không khách đứng xo ro,"
Từ "xo ro" là một nhãn tự đắt giá. Nó gợi ra tư thế của người nghèo trước cái lạnh, nhưng cũng là tư thế của những phận đời nhỏ bé trước sự khắc nghiệt của mưu sinh. Cái lạnh ở đây không chỉ là nhiệt độ, mà là cái lạnh của sự vắng lặng, của những sạp hàng trống huếch.
Tiếng ho "sụ sụ" của bà cụ hay làn khói thuốc lào của bác lái đò là những âm thanh duy nhất phá tan sự im lìm, nhưng chúng lại mang theo dư vị của sự già nua và mệt mỏi. Con người hiện lên không phải để làm chủ thiên nhiên, mà để nhẫn nại tồn tại bên lề của nó.
Đỉnh cao của bài thơ nằm ở hình ảnh cuối cùng, một sự kết hợp hoàn hảo giữa bút pháp tả thực và lãng mạn:
"Thúng đội đầu như đội cả trời mưa."
Câu thơ này làm ta liên tưởng đến những bức tranh sơn mài cổ điển, nơi con người hiện lên nhỏ bé nhưng kiên cường. Cái thúng nhỏ trên đầu người đi chợ gánh vác cả một "bầu trời mưa" – đó là một hình ảnh mang tính siêu thực. "Trời mưa" lúc này đã hóa thành hiện thân của số phận, của những lo toan cơm áo gạo tiền đè nặng lên vai người phụ nữ. Người đi chợ không chỉ đang bước qua những con đường lội, mà họ đang đi qua những đoạn gập ghềnh của cuộc đời với một sự nhẫn nại phi thường.
4. Dư âm từ những khoảng lặng
Nghệ thuật của Anh Thơ là nghệ thuật của sự gợi. Bà không nói ta phải buồn, nhưng cách bà sắp xếp những từ láy rào rạt, chơ vơ, lạnh lẽo, xo ro khiến nỗi buồn tự nhiên thấm vào lòng người đọc. Bài thơ khép lại khi bến lại "lặng trong mưa", trả lại không gian cho sự tĩnh mịch tuyệt đối.
"Bến đò ngày mưa" là một trong những bài thơ hay nhất viết về làng quê Việt Nam. Anh Thơ đã viết nó bằng cả tấm lòng, bằng sự tinh tế của một hồn thơ nhạy cảm. Đọc bài thơ, ta không chỉ thấy một bến đò cụ thể – ta thấy quê hương trong mỗi chúng ta, thấy những kỷ niệm, những yêu thương, những nỗi nhớ chẳng thể gọi tên. Và có lẽ, đó chính là sức mạnh của bài thơ: nó đánh thức trong mỗi người tình yêu quê hương – thứ tình cảm thiêng liêng nhất, bền chặt nhất, và cũng đẹp đẽ nhất.
Phân tích một tác phẩm thơ: Bến đò ngày mưa - mẫu 9
Có một điều kỳ diệu: những bài thơ hay nhất thường đến từ những điều giản dị nhất. "Bến đò ngày mưa" của Anh Thơ là một minh chứng. Không có biến cố lớn, không có kịch tính, chỉ một bến đò vắng dưới màn mưa, vài quán hàng không khách, bác lái ghé buồm hút điếu, bà hàng sù sụ ho – vậy mà bài thơ đã chạm đến trái tim biết bao thế hệ người đọc. Bởi lẽ, trong sự tĩnh lặng ấy, ta tìm thấy sự bình yên, tìm thấy chính mình, và tìm thấy tình yêu quê hương da diết.
Mở đầu bài thơ, nhà thơ không chỉ “vẽ cảnh” mà còn “gieo tâm trạng” vào từng hình ảnh:
“Tre rủ rợi ven bờ chen ướt át,
Chuối bơ phờ đầu bến đứng dầm mưa.”
Tre và chuối vốn là biểu tượng quen thuộc của làng quê Việt Nam – những gì bền bỉ, gần gũi và đầy sức sống. Nhưng dưới ngòi bút Anh Thơ, chúng không còn mang dáng vẻ khỏe khoắn mà trở nên “rủ rợi”, “bơ phờ”. Đây không đơn thuần là sự thay đổi do thời tiết mà là sự phản chiếu tâm trạng. Thiên nhiên như thấm đẫm nỗi buồn, như đang cùng con người chia sẻ một trạng thái mệt mỏi, u hoài. Cơn mưa không dữ dội mà dai dẳng, kéo dài, khiến cảnh vật như chìm trong một lớp sương buồn không dứt.
Không gian ấy tiếp tục lan rộng ra bến sông – nơi vốn là điểm giao thoa của sự sống:
“Mặc con thuyền cắm lái đậu chơ vơ,
Trên bến vắng, đám mình trong lạnh lẽo.”
Bến đò thường gắn với sự qua lại, tấp nập, nhưng ở đây lại “vắng”. Con thuyền – biểu tượng của sự di chuyển, kết nối – lại “chơ vơ”, bất động. Sự đối lập này tạo nên một cảm giác hụt hẫng: mọi hoạt động như bị ngưng trệ. Không gian không chỉ vắng vẻ mà còn “lạnh lẽo” – cái lạnh không chỉ của thời tiết mà còn của sự cô đơn, thiếu vắng hơi người. Đó chính là nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc: cảnh buồn vì lòng người buồn, hay chính cảnh đã làm dậy lên nỗi buồn trong lòng người.
Khi con người xuất hiện, bức tranh không trở nên ấm áp hơn mà ngược lại càng làm nổi bật sự hiu quạnh:
“Vài quán hàng không khách đứng xơ ro,
Một bác lái ghé buồm vào hút điếu.”
Những “quán hàng không khách” cho thấy nhịp sống bị chững lại. Từ “xơ ro” gợi hình ảnh co ro, tội nghiệp, vừa tả dáng người vừa tả cả không gian lạnh lẽo bao trùm. Hình ảnh bác lái đò hút thuốc là một chi tiết rất đời thường nhưng lại mang tính biểu tượng: đó là sự chờ đợi vô định, là nhịp sống chậm rãi đến mức gần như ngưng đọng. Con người không làm chủ được hoàn cảnh mà chỉ lặng lẽ thích nghi với nó.
Đặc biệt, ở khổ cuối, bài thơ mở ra chiều sâu nhân sinh qua hình ảnh những người đi chợ:
“Ngoài đường lội lội hóa hoang người đến chợ,
Thúng đội đầu như đội cả trời mưa.”
Câu thơ “đội cả trời mưa” là một sáng tạo nghệ thuật đặc sắc. Nó không chỉ tả cái nặng của mưa mà còn mang ý nghĩa biểu tượng: con người nhỏ bé đang gánh trên mình cả sức nặng của thiên nhiên, của cuộc sống mưu sinh vất vả. Những con người ấy vẫn bước đi, vẫn tiếp tục công việc, dù hoàn cảnh không thuận lợi. Đây chính là nét đẹp âm thầm của người nông dân: chịu thương chịu khó, bền bỉ và kiên nhẫn.
“Và họa hoằn một con thuyền ghé chở,
Rồi âm thầm bến lại lặng trong mưa.”
Tất cả lại quay về với sự tĩnh lặng ban đầu. Nhịp sống có chuyển động nhưng rất khẽ, rất chậm, rồi nhanh chóng chìm vào im lặng. Hai chữ “âm thầm” như một nốt nhạc trầm khép lại toàn bộ bài thơ. Không có cao trào, không có bùng nổ, chỉ có sự lặng lẽ kéo dài – đúng như bản chất của cơn mưa và cũng là nhịp điệu của cuộc sống nơi đây.
Đi sâu hơn, có thể thấy bài thơ không chỉ là bức tranh thiên nhiên mà còn là bức tranh tâm trạng. Nỗi buồn trong bài không phải nỗi buồn cá nhân rõ rệt mà là một nỗi buồn mang tính “không tên” – buồn vì cảnh vắng, buồn vì nhịp sống chậm, buồn vì sự đơn điệu của đời sống thường nhật. Chính điều này tạo nên chất trữ tình sâu lắng cho bài thơ.
Về nghệ thuật, Anh Thơ đã thể hiện một phong cách rất riêng: Miêu tả cảnh vật bằng những chi tiết chọn lọc, giàu sức gợi. Sử dụng từ láy tinh tế, tạo nhạc điệu buồn nhẹ nhưng ám ảnh. Kết hợp nhuần nhuyễn giữa tả thực và biểu cảm, khiến cảnh và tình hòa quyện.
Có thể nói, “Bến đò ngày mưa” không chỉ là một bài thơ tả cảnh mà còn là một “bức tranh tâm hồn”. Qua đó, nhà thơ đã ghi lại một lát cắt rất chân thực của đời sống nông thôn Việt Nam: bình dị, lặng lẽ, có chút buồn nhưng cũng rất đỗi thân thương. Chính sự giản dị ấy lại tạo nên sức sống lâu bền cho tác phẩm, khiến người đọc dù ở thời đại nào cũng có thể tìm thấy sự đồng cảm trong đó.
"Bến đò ngày mưa" là bài thơ của sự bình yên và những thương cảm thầm lặng. Anh Thơ đã viết nó bằng cả trái tim, bằng tình yêu làng quê sâu nặng. Và bởi thế, dù thời gian có trôi qua, dù cuộc sống có thay đổi, bài thơ vẫn còn đó, như một lời nhắn nhủ: hãy trân trọng những phút giây bình yên trong cuộc sống, hãy yêu thương và cảm thông với những mảnh đời nhọc nhằn, lam lũ. Bởi đó chính là hạnh phúc đích thực.
Phân tích một tác phẩm thơ: Bến đò ngày mưa - mẫu 10
Trong dòng chảy của thơ ca Việt Nam, Anh Thơ để lại một dấu ấn riêng với những vần thơ đậm chất làng quê. "Bến đò ngày mưa" là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách ấy. Bài thơ là bức tranh thiên nhiên buồn dưới màn mưa – nơi tre rũ rợi, chuối bơ phờ, dòng sông trôi rào rạt, con thuyền đậu trơ vơ – tất cả tạo nên một không gian vừa thực, vừa buồn, vừa gợi lên sự cô quạnh, lạnh lẽo. Và giữa khung cảnh ấy, hình ảnh con người với bác lái hút điếu, bà hàng sù sụ ho, người đi chợ "đội cả trời mưa" đã thổi hồn vào bức tranh, làm cho nó thêm sống động, thêm xót xa, thêm đáng thương.
Mở đầu bài thơ, Anh Thơ phác họa khung cảnh thiên nhiên trong trạng thái rệu rã dưới sức nặng của cơn mưa dai dẳng:
"Tre rũ rượi ven bờ chen ướt át,
Chuối bơ phờ đầu bến đứng dầm mưa."
Bằng nghệ thuật nhân hóa tài tình qua các từ láy "rũ rượi", "bơ phờ", tác giả đã biến những hàng tre, rặng chuối vốn vô tri trở nên có hồn, mang dáng vẻ mệt mỏi như những con người đang kiệt sức. Giữa dòng sông "trôi rào rạt" – cái động duy nhất của tự nhiên – thì con thuyền lại hiện lên với vẻ "chơ vơ". Sự đối lập này cực tả nỗi cô đơn, trống trải của bến quê khi mọi hoạt động giao thương dường như bị ngưng trệ bởi thời tiết khắc nghiệt.
Bước sang khổ thơ thứ hai, ống kính nghệ thuật của nhà thơ cận cảnh hơn vào nhịp sống con người. Tuy nhiên, sự xuất hiện của con người không làm không gian ấm lên mà trái lại, càng làm đậm thêm vẻ tiêu điều:
"Trên bến vắng, đắm mình trong lạnh lẽo,
Vài quán hàng không khách đứng xo ro,"
Hình ảnh những quán hàng "xo ro" – một từ láy gợi hình rất đắt – cho thấy cái lạnh không chỉ thấm vào da thịt mà còn thấm vào cả sự nghèo nàn, ế ẩm. Ở đó, bác lái đò tìm chút hơi ấm qua làn khói thuốc, và đặc biệt là hình ảnh "bà già sụ sụ sặc hơi ho". Tiếng ho khắc khổ của bà cụ không chỉ tả thực cái lạnh ngấm vào người già mà còn là âm thanh biểu tượng cho sự già nua, mệt mỏi của một vùng quê nghèo.
Tiếp đến khổ thơ thứ ba, không gian được mở rộng ra con đường dẫn đến chợ, nơi sự sống hiện lên thưa thớt và nhọc nhằn:
"Ngoài đường lội họa hoằn người đến chợ
Thúng đội đầu như đội cả trời mưa."
Đây là đoạn thơ mang tính biểu tượng cao nhất của bài. Trên con đường lầy lội ("đường lội"), sự sống chỉ xuất hiện một cách "họa hoằn". Hình ảnh người đàn bà đi chợ với chiếc thúng trên đầu được so sánh như "đội cả trời mưa". Câu thơ này nâng tầm vóc của người phụ nữ nông thôn: họ không chỉ chống chọi với cơn mưa trước mắt, mà dường như đang gánh vác cả bầu trời khó khăn, cả gánh nặng mưu sinh trên đôi vai gầy nhẫn nại.
Bài thơ khép lại trong sự im lìm tuyệt đối:
"Và họa hoằn một con thuyền ghé chở
Rồi âm thầm bến lại lặng trong mưa."
Sự xuất hiện của con thuyền ghé chở chỉ là một thoáng chốc ngắn ngủi, không đủ để làm bến đò xôn xao. Để rồi sau đó, bến đò lại trở về với trạng thái "âm thầm", "lặng trong mưa". Từ "lặng" kết thúc bài thơ tạo nên một dư âm buồn thăm thẳm, cho thấy một nhịp sống quẩn quanh, tẻ nhạt của làng quê Việt Nam thời tiền chiến.
Về nghệ thuật, Anh Thơ đã sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình điêu luyện, phối hợp với hệ thống từ láy giàu tính tạo hình và khả năng quan sát chi tiết sắc sảo. Bài thơ không chỉ là một bức tranh phong cảnh mà còn là một tiếng thở dài nhân hậu dành cho những kiếp người nhỏ bé.
"Bến đò ngày mưa" là một bài thơ đẹp, buồn và đầy thương cảm. Anh Thơ đã viết nó bằng tất cả tình yêu dành cho làng quê, cho thiên nhiên, cho con người. Đọc bài thơ, ta cảm nhận được sự tĩnh lặng, buồn bã của một miền quê, và cũng cảm nhận được sự thấu hiểu, đồng cảm sâu sắc trong tâm hồn nhà thơ. Bài thơ như một lời ru buồn, đưa ta trở về với những giá trị bình dị, thân thương nhất của cuộc sống, để rồi khi thức dậy, ta thấy yêu quê hương mình hơn, yêu những con người lao động lam lũ hơn, và trân trọng từng khoảnh khắc bình yên của cuộc đời.
Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:
- Phân tích một tác phẩm thơ: Yêu
- Phân tích một tác phẩm thơ: Mùi cơm cháy
- Phân tích một tác phẩm thơ: Buổi gặt chiều
- Phân tích một tác phẩm thơ: Trưa hè
- Phân tích một tác phẩm thơ: Tổ quốc nhìn từ biển
- Phân tích một tác phẩm thơ: Chiều xuân
Mục lục Văn mẫu | Văn hay 9 theo từng phần:
- Mục lục Văn thuyết minh
- Mục lục Văn tự sự
- Mục lục Văn nghị luận xã hội
- Mục lục Văn nghị luận văn học Tập 1
- Mục lục Văn nghị luận văn học Tập 2
Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.
Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:Loạt bài Tuyển tập những bài văn hay | văn mẫu lớp 9 của chúng tôi được biên soạn một phần dựa trên cuốn sách: Văn mẫu lớp 9 và Những bài văn hay lớp 9 đạt điểm cao.
Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.
- Giải Tiếng Anh 9 Global Success
- Giải sgk Tiếng Anh 9 Smart World
- Giải sgk Tiếng Anh 9 Friends plus
- Lớp 9 Kết nối tri thức
- Soạn văn 9 (hay nhất) - KNTT
- Soạn văn 9 (ngắn nhất) - KNTT
- Giải sgk Toán 9 - KNTT
- Giải sgk Khoa học tự nhiên 9 - KNTT
- Giải sgk Lịch Sử 9 - KNTT
- Giải sgk Địa Lí 9 - KNTT
- Giải sgk Giáo dục công dân 9 - KNTT
- Giải sgk Tin học 9 - KNTT
- Giải sgk Công nghệ 9 - KNTT
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 9 - KNTT
- Giải sgk Âm nhạc 9 - KNTT
- Giải sgk Mĩ thuật 9 - KNTT
- Lớp 9 Chân trời sáng tạo
- Soạn văn 9 (hay nhất) - CTST
- Soạn văn 9 (ngắn nhất) - CTST
- Giải sgk Toán 9 - CTST
- Giải sgk Khoa học tự nhiên 9 - CTST
- Giải sgk Lịch Sử 9 - CTST
- Giải sgk Địa Lí 9 - CTST
- Giải sgk Giáo dục công dân 9 - CTST
- Giải sgk Tin học 9 - CTST
- Giải sgk Công nghệ 9 - CTST
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 9 - CTST
- Giải sgk Âm nhạc 9 - CTST
- Giải sgk Mĩ thuật 9 - CTST
- Lớp 9 Cánh diều
- Soạn văn 9 Cánh diều (hay nhất)
- Soạn văn 9 Cánh diều (ngắn nhất)
- Giải sgk Toán 9 - Cánh diều
- Giải sgk Khoa học tự nhiên 9 - Cánh diều
- Giải sgk Lịch Sử 9 - Cánh diều
- Giải sgk Địa Lí 9 - Cánh diều
- Giải sgk Giáo dục công dân 9 - Cánh diều
- Giải sgk Tin học 9 - Cánh diều
- Giải sgk Công nghệ 9 - Cánh diều
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 9 - Cánh diều
- Giải sgk Âm nhạc 9 - Cánh diều
- Giải sgk Mĩ thuật 9 - Cánh diều


Giải bài tập SGK & SBT
Tài liệu giáo viên
Sách
Khóa học
Thi online
Hỏi đáp

