10+ Phân tích một tác phẩm thơ: Mưa xuân (điểm cao)
Phân tích một tác phẩm thơ: Mưa xuân điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.
- Dàn ý Phân tích một tác phẩm thơ: Mưa xuân
- Phân tích một tác phẩm thơ: Mưa xuân (mẫu 1)
- Phân tích một tác phẩm thơ: Mưa xuân (mẫu 2)
- Phân tích một tác phẩm thơ: Mưa xuân (mẫu 3)
- Phân tích một tác phẩm thơ: Mưa xuân (mẫu 4)
- Phân tích một tác phẩm thơ: Mưa xuân (mẫu 5)
- Phân tích một tác phẩm thơ: Mưa xuân (mẫu 6)
- Phân tích một tác phẩm thơ: Mưa xuân (mẫu 7)
- Phân tích một tác phẩm thơ: Mưa xuân (mẫu 8)
- Phân tích một tác phẩm thơ: Mưa xuân (mẫu 9)
- Phân tích một tác phẩm thơ: Mưa xuân (mẫu khác)
10+ Phân tích một tác phẩm thơ: Mưa xuân (điểm cao)
Dàn ý Phân tích một tác phẩm thơ: Mưa xuân
a) Mở bài:
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Bính (hồn thơ chân quê, gắn bó với làng quê Bắc Bộ).
- Giới thiệu bài thơ "Mưa xuân" (tiêu biểu cho phong cách thơ Nguyễn Bính).
b) Thân bài:
- Bức tranh thiên nhiên và không gian làng quê:
+ Khung cảnh mưa xuân: mưa phùn lất phất, nhẹ nhàng, thấm đẫm không gian.
+ Hình ảnh làng quê thân thuộc: bến đò, con đò, hàng cau, áo the, quần lĩnh.
+ Tất cả tạo nên một bức tranh vừa thực, vừa thơ mộng, đậm chất Bắc Bộ.
- Hình ảnh cô gái và tâm trạng chờ đợi:
+ Cô gái xuất hiện với vẻ đẹp duyên dáng, e ấp, trong tà áo tứ thân.
+ Tâm trạng chờ đợi: háo hức, hồi hộp, rồi dần chuyển sang bâng khuâng, tiếc nuối.
+ Sự đối lập giữa thiên nhiên (mưa rơi, thời gian trôi) và lòng người (chờ mong, hy vọng).
- Nghệ thuật đặc sắc:
+ Thể thơ năm chữ, nhịp nhàng, nhẹ nhàng, phù hợp với tâm trạng.
+ Ngôn ngữ thơ mộc mạc, giản dị, giàu hình ảnh làng quê.
+ Giọng thơ nhẹ nhàng, sâu lắng, pha chút bâng khuâng, tiếc nuối.
+ Kết hợp tự sự và trữ tình, tạo nên một câu chuyện tình yêu nhẹ nhàng mà sâu sắc.
c) Kết bài:
- Khẳng định giá trị bài thơ: Một trong những bài thơ hay nhất của Nguyễn Bính về tình yêu và làng quê.
- Cảm nghĩ: "Mưa xuân" là tiếng lòng của tuổi trẻ, của những rung động đầu đời, của cái đẹp bình dị mà tinh khôi trong thơ ca Việt Nam.
- Liên hệ: Tình yêu làng quê và những giá trị văn hóa truyền thống được gìn giữ qua thơ Nguyễn Bính.
Phân tích một tác phẩm thơ: Mưa xuân - mẫu 1
Làng quê Việt Nam hiện lên trong thơ Nguyễn Bính vừa chân thực, vừa thơ mộng, vừa thấm đẫm hồn người. "Mưa xuân" là một trong những bài thơ đẹp nhất của ông về đề tài tình yêu và tuổi trẻ. Giữa cơn mưa phùn lất phất đầu mùa, một cô gái chờ người yêu qua bến đò, nhưng rồi chờ mãi không thấy. Chỉ một khoảnh khắc ấy, Nguyễn Bính đã gói ghém cả một trời thương nhớ, cả một nỗi lòng con gái với bao rung động bâng khuâng, tiếc nuối.
Mùa xuân là mùa của lễ hội, mùa của đôi lứa hẹn hò, trao nhau những lời hẹn ước. Mùa xuân cũng là mùa của cảm xúc thơ ca, thăng hoa trong tâm hồn các thi sĩ. Nếu như mùa xuân trong thơ Xuân Diệu đẹp đến vô thực, nồng cháy đến khiến ta say mê, điên cuồng muốn chiếm hữu thì mùa xuân trong thơ Nguyễn Bính lại hoàn toàn khác. Với Mưa xuân, mùa xuân của Nguyễn Bính cũng đậm chất giản dị, thanh bình của làng quê Việt Nam như chính tâm hồn ông vậy!
Câu chuyện về mưa xuân nhưng mở đầu bài thơ không phải mưa, không phải cảnh xuân, mà là sự xuất hiện trực tiếp của con người. Một người con gái:
“Em là cô gái trong khung cửi
Dệt lụa quanh năm với mẹ già.
Lòng trẻ còn như vuông lụa trắng
Mẹ già chưa bán chợ làng xa”
Đó là một cô gái trẻ làm nghề dệt lụa. Chắc hẳn đây là một cô gái đẹp, tấm lòng cô trong sáng, thuần khiết, được tác giả so sánh như một “vuông lụa trắng” vẫn chưa được mẹ già “bán chợ làng xa” tức là chưa có chồng. Cách nói thật lạ, thật hay! So sánh giản dị, giàu tính tượng hình mà cũng đầy tinh tế. Cô gái trẻ này chính là mẫu người thiếu nữ thôn quê trong trắng, thuần khiết, nét đẹp giản dị thường xuất hiện trong thơ Nguyễn Bính.
Nhắc đến sự quen thuộc, tôi chợt nhớ đến “Thôn Đoài ngồi nhớ Thôn Đông” từng xuất hiện trong “Tương Tư”. Sở dĩ có sự liên tưởng này, bởi vì trong 4 câu thơ tiếp theo, hình ảnh Thôn Đoài lại xuất hiện, trong một chiều mưa xuân:
“Bữa ấy, mưa xuân phơi phới bay,
Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy.
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ,
Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”.”
Đến đây, sau khi tả người, Nguyễn Bính đã kể đến chuyện mưa xuân, mưa xuân vào một buổi chiều. Cảnh nhà đơn chiếc chỉ có hai mẹ con bỗng trở lên vui tươi ở khổ thơ này. Bởi một bữa “mưa xuân phơi phới bay”. Đọc câu thơ, ta có cảm giác từ “phơi phới” như làm sống động cả khổ thơ, khiến cho mùa xuân cũng trở nên thật có hồn. Cảm giác như không phải mưa xuân phơi phới mà chính là lòng “em” đang “phơi phới” sắc xuân thì.
Mùa xuân như thổi sắc “phơi phới” vào hồn “em” tươi trẻ, khiến hoa xoan cũng nở rộ đẹp xinh, “phơi phới” báo hiệu mùa xuân về. Rồi “hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ” đã làm cho khung cảnh yên bình bị phá vỡ.
Tiếng trống hội làng thúc giục, với tiếng loa của “hội chèo” cộng thêm “mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”.làm cho “vuông lụa trắng” khấp khởi khi ngồi dệt bên khung cửi hay chính tấm lòng thiếu nữ đang mong ngóng nên khấp khởi?
“Lòng thấy giăng tơ một mối tình
Em ngừng thoi lại giữa tay xinh
Hình như hai má em bừng đỏ
Có lẽ là em nghĩ tới anh”
Ba câu trước miêu tả tâm trạng bối rối xen lẫn chờ đợi, khấp khởi nhưng cũng ngại ngùng e lệ điển hình của cô gái mới biết yêu. Không biết là do “mưa xuân phơi phới”, “hội chèo đi ngang ngõ” hay lời nói của mẹ đã làm cho “vuông lụa trắng” phải “ngừng thoi lại”.
Không biết có phải tay xinh ngừng dệt là do lòng “giăng tơ một mối tình”? Lòng mới chỉ “giăng tơ” mà sao “hai má em bừng đỏ”? Tất cả câu hỏi đều được trả lời bằng câu thơ cuối, là do anh, tại anh, là vì nghĩ đến nha: “Có lẽ là em nghĩ tới anh”.
Câu chuyện mưa xuân lại được kể tiếp như nối tiếp tâm trạng bâng khuâng, khấp khởi nhớ đến anh của cô thôn nữ:
“Bốn bên hàng xóm đã lên đèn
Em ngửa bàn tay trước mái hiên,
Mưa chấm tay em từng chấm lạnh,
Thế nào anh ấy chẳng sang xem”
Lòng người biết yêu thổi vào mùa xuân cũng có hồn hơn hẳn, bởi “vuông lụa trắng” khấp khởi trong lòng khi nghĩ tới “anh ấy”nên không ngần ngại dẫu ngoài trời đang mưa:
“Em xin phép mẹ, vội vàng đi
Mẹ bảo xem về kể mẹ nghe,
Mưa bụi nên em không ướt áo,
Thôn Đoài cách có một thôi đê”
Từ “vội vàng” xuất hiện trong khổ thơ thật đúng lúc, thật kịp thời, rất đúng với diễn biến tâm trạng của cô gái đang yêu. Đọc đoạn thơ này, nhịp thơ cũng vì từ “vội vàng” mà nhanh hơn một nhịp; có cảm giác như thể em đang vội vàng để đến Thôn Đoài, nhưng đi xem hát đấy mà chẳng phải vì hát đâu, mà là vì anh, vì muốn gặp anh.
“Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm
…
Lạnh lùng em tủi với canh khuya”
Đám hát tan nhưng đêm chưa tàn. Nếu như ở khổ thơ trước, với tâm trạng “phơi phới”, khoảng cách đến thôn Đoài chỉ ngắn ngủi có một thôi đê, đến nỗi mưa xuân cũng không làm em ướt áo; thì giờ đây, một thôi đê cũng trở nên dài bất tận.
“Bữa ấy, mưa xuân đã ngại bay
Hoa xoan đã nát dưới chân giầy
Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ
Mẹ bảo: “Mùa xuân đã cạn ngày””
Đúng là “Cảnh nào cảnh chẳng đeo tình. Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, mưa xuân giờ đã biết vui. Biết buồn theo em. Mưa “phơi phới” giờ cũng ngại bay, hoa xoan vẫn rụng nhưng không lớp lớp dày” nữa mà giờ thì “hoa xoan đã nát” dưới chân giầy”. Bởi “hội chèo làng Đặng về ngang ngõ”. Thôn Đoài đã hết hội rồi. Còn mẹ lại bảo “Mùa xuân đã cạn ngày”.
Em buồn, Xuân buồn, bởi hội tan, gánh chèo rời đi, em đâu còn cơ hội để tìm anh nữa. Hình ảnh hoa xoan bị đạp dưới chân giày cũng giống như sự ngóng trông, khắc khoải và hy vọng của em vỡ vụn theo trong chiều mưa nặng hạt ấy. Hy vọng không còn em chỉ còn biết tự thầm thì với lòng mình, như đang nói với anh thôi:
“Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày
Bao giờ em mới gặp anh đây?
Bao giờ hội Đặng đi ngang ngõ
Để mẹ bảo rằng: “Hát tối nay!””
Em không gặp được anh, em lủi thủi một mình, em tủi với canh khuya nhưng em không hề mất hết hy vọng. Cô gái trẻ ngây thơ, thuần khiết như “vuông lụa trắng” vẫn chờ đợi, vẫn tin tưởng đó chỉ là chưa gặp, có nghĩa là sẽ gặp, có điều không biết là bao giờ. Bởi biết đâu, hội sau em vẫn sẽ lại không may mắn, lại sẽ không gặp được anh?
"Mưa xuân" khép lại nhưng dư âm của nó thì không bao giờ tắt. Nguyễn Bính đã viết một bài thơ tưởng như đơn giản nhưng lại chạm đến tận cùng những rung động của trái tim tuổi trẻ. Cơn mưa xuân kia có thể đã tạnh từ lâu, nhưng nỗi nhớ, sự chờ đợi và cái tiếc nuối mơ hồ vẫn còn vương vấn mãi trong lòng người đọc. Bài thơ là một bức tranh tuyệt đẹp về tình yêu quê mùa, giản dị mà sâu lắng – thứ tình yêu chỉ có trong thơ Nguyễn Bính.
Phân tích một tác phẩm thơ: Mưa xuân - mẫu 2
Người ta thường nói, thơ Nguyễn Bính là thơ của đồng ruộng, của làng quê, của những mối tình chớm nở đầy e ấp. "Mưa xuân" là một minh chứng tiêu biểu. Bài thơ không kể một câu chuyện tình yêu lãng mạn, trái lại nó kể về một cuộc hẹn không thành, một nỗi chờ đợi vô vọng. Thế nhưng, chính sự dang dở ấy lại tạo nên cái đẹp đầy thi vị, cái bâng khuâng khó tả của tuổi trẻ. Qua những vần thơ mộc mạc, Nguyễn Bính đã làm sống dậy cả một không gian làng quê Bắc Bộ với những hàng cau, bến đò, áo the, quần lĩnh.
Câu chuyện về mưa xuân mở đầu bằng hình ảnh một cô gái:
"Em là cô gái trong khung cửi,
Dệt lụa cả năm với mẹ già.
Tâm hồn còn như vuông lụa trắng,
Mẹ già chưa đưa ra chợ xa."
Đó là hình ảnh một cô gái trẻ làm nghề dệt lụa. Điều này chắc chắn đây là một cô gái xinh đẹp, tấm lòng trong sáng và thuần khiết, được so sánh như một "vuông lụa trắng" chưa được mẹ bán ra chợ xa, tức là chưa lấy chồng. Cách miêu tả này thật sự đặc biệt và tinh tế. Cô gái trẻ này là hình ảnh của sự thuần khiết, đẹp đẽ thường xuất hiện trong thơ Nguyễn Bính.
Nhắc đến một sự liên kết thân thuộc, tôi nghĩ ngay đến câu "Thôn Đoài ngồi nhớ Thôn Đông" từ "Tương Tư". Điều này là do trong bốn câu thơ tiếp theo, hình ảnh của Thôn Đoài lại được tái hiện, trong một buổi chiều mưa xuân:
"Buổi ấy, mưa xuân rải rác rơi,
Hoa xoan lớp lớp rụng trên đường.
Hội chèo làng Đặng đi qua lối,
Mẹ bảo: 'Thôn Đoài hát tối nay'."
Sau khi miêu tả về con người, Nguyễn Bính lặp lại về chuyện mưa xuân, mưa xuân rơi trong một chiều chiều. Nhà cửa đơn sơ chỉ có mẹ con trở nên tươi tắn ở đoạn thơ này. Bởi một buổi "mưa xuân rải rác rơi". Đọc dòng thơ này, ta có cảm giác từ "rải rác" như làm sống động cả đoạn thơ, khiến cho mùa xuân càng trở nên sống động hơn. Cảm giác như không phải là mưa xuân "rải rác" mà chính là lòng "em" đang "rải rác" sắc xuân ấy.
Mùa xuân như thổi sắc "rải rác" vào hồn "em" tươi mới, khiến cho hoa xoan cũng nở rộ đẹp xinh, "rải rác" báo hiệu mùa xuân đã về. Sau đó, "hội chèo làng Đặng đi qua lối" đã làm cho cảnh quan yên bình bị phá vỡ.
Tiếng trống hội làng thúc giục, với tiếng loa của "hội chèo" cộng thêm "mẹ bảo: 'Thôn Đoài hát tối nay'." đã khiến cho "vuông lụa trắng" vui mừng khi ngồi dệt bên khung cửi hay chính tấm lòng thiếu nữ đang mong ngóng nên hát hò?
“Lòng thấy giăng tơ một mối tình
Em ngừng thoi lại giữa tay xinh
Hình như hai má em bừng đỏ
Có lẽ là em nghĩ tới anh”
Ba câu trước là mô tả tâm trạng hỗn loạn xen kẽ chờ đợi, vui mừng nhưng lại ngại ngùng, e dè, e lệ là nét điển hình của cô gái vừa biết yêu. Không biết là "mưa xuân rải rác", "hội chèo đi ngang ngõ" hay lời dặn của mẹ đã khiến "vuông lụa trắng" phải "ngừng dệt lại".
Không biết liệu tay xinh ngừng dệt có phải vì lòng "đang có mối tình"? Tâm hồn chỉ "đang có mối tình" nhưng sao "hai má em tươi cười"? Tất cả các câu hỏi được trả lời trong câu thơ cuối, vì anh, với anh, vì đã nghĩ đến anh: "Có lẽ vì đã nhớ anh".
Câu chuyện mưa xuân lại tiếp tục kể với sự tiếp nối của tâm trạng bối rối, hồi hộp nhớ đến anh của cô thôn nữ:
“Bốn bên hàng xóm đã lên đèn
Em ngửa bàn tay trước mái hiên,
Mưa chấm tay em từng chấm lạnh,
Thế nào anh ấy chẳng sang xem”
Lòng người biết yêu thổi vào mùa xuân cũng có hồn hơn nhiều, vì "vuông lụa trắng" hồi hộp trong lòng khi nghĩ đến "anh ấy", vì thế không ngần ngại dù ngoài trời đang mưa:
"Em xin phép mẹ, vội vã đi,
Mẹ bảo xem về kể mẹ nghe,
Mưa bụi nên em không ướt áo,
Thôn Đoài chỉ có một thôi đê."
Từ "vội vã" xuất hiện trong đoạn thơ thực sự rất phù hợp, thích hợp với sự phát triển tâm trạng của cô gái đang yêu. Đọc đoạn thơ này, nhịp thơ cũng vì từ "vội vã" mà nhanh hơn một nhịp; có cảm giác như em đang "vội vã" để đến Thôn Đoài, không phải vì hát, mà vì anh, vì muốn gặp anh.
“Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm ...
Lạnh lùng em tủi với canh khuya.”
Buổi hát tan chưa hết đêm. Nếu như trong đoạn thơ trước đó, với tâm trạng "rải rác", khoảng cách đến Thôn Đoài chỉ là ngắn ngủi, chỉ có một thôi đê, đến mức mưa xuân cũng không làm em ướt áo; thì giờ đây, một thôi đê cũng trở nên vô tận.
Buổi ấy, mưa xuân đã ngại bay, Hoa xoan đã rụng dưới chân giày, Hội chèo làng Đặng lặng im, Thôn Đoài chưa hát, đôi ấy đã về.
Mấy câu thơ cuối, cách miêu tả "hội chèo làng Đặng lặng im, Thôn Đoài chưa hát, đôi ấy đã về" thật sự rất phù hợp với cảnh quan của mùa xuân. Cũng như tâm trạng của em còn sót lại, vẫn chưa thể nào cảm thấy hạnh phúc sau hôm nay vì em thấy rất cô đơn.
Có lẽ, chính vì cuộc hẹn không thành mà bài thơ càng thêm đẹp, càng thêm ám ảnh. Bởi lẽ, tình yêu đẹp nhất không phải lúc nào cũng là khi được đáp trả – đôi khi, nó đẹp nhất trong những khoảnh khắc chờ đợi, trong những nỗi niềm thầm kín không thể nói thành lời. "Mưa xuân" đã làm được điều đó: nó khiến ta xót xa cho cô gái ấy, nhưng cũng khiến ta yêu cái xót xa ấy, bởi đó là chất liệu của thơ ca, của tình yêu và của tuổi trẻ.
Phân tích một tác phẩm thơ: Mưa xuân - mẫu 3
Nhắc đến Nguyễn Bính, người ta nhắc đến một hồn thơ chân quê, mộc mạc mà sâu lắng. "Mưa xuân" là một tuyệt phẩm trong gia tài thơ ca của ông. Bài thơ chỉ vỏn vẹn vài khổ, nhưng đã vẽ nên một bức tranh làng quê mưa bụi đầy thi vị, đồng thời khắc họa một tâm trạng con gái với bao rung động đầu đời. Không có biến cố lớn, không có kịch tính, chỉ có cơn mưa xuân và một nỗi chờ mong – nhưng chính sự bình dị ấy lại làm nên giá trị trường tồn của bài thơ.
Câu chuyện Mưa Xuân được thi sĩ mở đầu không phải là cảnh đẹp xuân, không phải tiết trời xuân mà là hình ảnh "em”:
“Em là con gái trong khung cửi
Dệt lụa quanh năm với mẹ già.
Lòng trẻ còn như vuông lụa trắng
Mẹ già chưa bán chợ làng xa”
Nhân vật trữ tình "em” hiện lên là một thiếu nữ làm nghề dệt lụa. Người con gái ấy quanh năm dệt lụa với mẹ già. Chắc hẳn đây là một cô gái đẹp, tấm lòng cô trong sáng, thuần khiết, được tác giả so sánh như một “vuông lụa trắng”. Em vẫn còn trẻ nên chưa được mẹ già “gả bán”. Cách nói so sánh giản dị, giàu tính tượng hình mà cũng đầy tinh tế. Cô gái trẻ này chính là mẫu người thiếu nữ thôn quê trong trắng, thuần khiết, nét đẹp giản dị thường xuất hiện trong thơ Nguyễn Bính.
Nhà thơ Nguyễn Bính rất hay và rất tài tình cảm nhận những cơn mưa xuân:
“Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ
Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”
Mưa xuân thường mang đến cảm giác nhẹ nhàng, êm ái như gieo vào lòng người biết bao nỗi niềm xao xuyến. Hình ảnh "mưa xuân”, "hoa xoan”, “ hội chèo” đều là những hình ảnh quen thuộc của mùa xuân. Từ láy "phơi phới” diễn tả niềm vui, làm khổ thơ sống động hơn, thổi hồn vào nhân vật "em”. Dường như không phải đất trời, thiên nhiên “phơi phới” mà chính là lòng "em” đang "phơi phới” cùng sắc xuân. Hình ảnh cô thiếu nữ ngồi khung cửi dệt vải nay đã ngập trong sắc xuân, trong hội chèo, hay đang mong ngóng người bạn trai của mình. Phải chăng, "em” đã biết yêu?
“Lòng thấy giăng tơ một mối tình
Em dừng thoi lại giữa tay xinh
Hình như hai má em bừng đỏ
Cỏ lẽ là em nghĩ đến anh…”
Nhà thơ Nguyễn Bính diễn tả tâm trạng bồi hồi có chút e thẹn của cô gái khi nghĩ đến chàng. Em ngừng thoi lại là bởi lòng đã giăng tơ một mối tình. Mối tình chớm nở làm em xao xuyến,"hai má bừng đỏ”. Đó là nét đáng yêu đáng quý của người con gái khi mới biết yêu. Người con gái không lúc nào ngừng nhớ về anh, nghĩ về anh "Cả trong mơ còn nhớ”. Bởi vậy, ngày hội chèo đến, “em xin phép mẹ vội vàng đi”
Nhà thơ Xuân Diệu đã từng nói:
"Làm sao sống được mà không yêu,
Không nhớ, không thương một kẻ nào?”
Quả thật, tình yêu làm cho con người ta không còn e ấp, rụt rè mà chủ động, mạnh mẽ hơn. Người con gái ấy đi tìm người mình yêu:
“Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm
Em mải tìm anh chả thiết xem
Chắc hẳn đêm nay dường cửi lạnh
Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em”
"Em” lặn lội sang thôn Đoài nhưng không hề có ý xem hội mà tâm trí của cô chỉ hướng đến người thương trong lòng, cô mải miết đi tìm anh trong vô thức. Nhà thơ đã sử dụng biện pháp nhân hóa thật khéo léo trong hai câu cuối. Mọi khi cô luôn gắn bó với khung cửi và thoi ngà nhưng hôm nay cô đã bỏ mặc tất cả để đi tìm chàng, đi tìm hạnh phúc của đời mình. Thế nhưng, cô gái chờ mãi đâu có thấy chàng trai tới:
“Chờ mãi anh sang chả sang
Thế mà hôm nọ hát bên làng
Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn
Để cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng”
Câu thơ như lời trách móc của người con gái. Tiếp nối mạch cảm xúc, tâm trạng bối rối yêu thương, nhớ nhung da diết nay đã trở thành nỗi nhớ của riêng "em”
“Mình em lầm lụi trên đường về
Có ngắn gì đâu một dải đê,
Áo em che đầu mưa nặng hạt.
Lạnh lùng thêm tủi với canh khuya”
Nếu như ở những khổ thơ trước, mưa xuân mang lại cho người đọc cảm giác phơi phới, tràn ngập sức sống thì đến khổ thơ này, mưa xuân làm cho lòng người xao xuyến, bồi hồi, nhớ thương. Bốn câu thơ ngắn gọn nhưng đã diễn tả hết nỗi buồn tủi của em qua các từ "mình em, lầm lụi, áo em, lạnh lùng, tủi, canh khuya”. Khoảng cách giữa nhân vật trữ tình “ em” và "anh” cũng dường như xa cách dần, không phải "một thôi đê” nữa mà nó dài "một dải đê”. Người con gái ấy càng yêu, càng thương bao nhiêu thì càng thất vọng bấy nhiêu. “Hoa xoan đã nát dưới chân giày” như diễn tả nỗi lòng buồn đau của cô gái. Hội đã tan, mùa xuân đã cạn ngày. Em đâu còn cơ hội để gặp anh lần nữa.
Thế nhưng, nhân vật trữ tình "em” vẫn luôn tin tưởng vào tình yêu lứa đôi, vẫn mong một ngày nào đó em sẽ gặp anh:
“Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày
Bao giờ em mới gặp anh đây
Bao giờ chèo Đặng đi ngang ngõ
Để mẹ em rằng hát tối nay”
Hai chữ "anh ạ!” vang lên như một lời gọi tha thiết. Em luôn hi vọng mùa xuân tới có thể gặp được anh. Điệp ngữ "bao giờ” lặp đi lặp lại trong khổ thơ, nó như một sự ngóng trông, mong mỏi của cô gái trong sự chờ đợi vô vọng. Bao giờ là không biết đến khi nào mới có thể gặp lại anh. Thời gian ngoằng ngoẵng, nỗi nhớ vô tận.
Đọc "Mưa xuân", ta thấy lòng mình lắng lại, dịu dàng hơn, bâng khuâng hơn. Nguyễn Bính đã viết về một thứ tình yêu rất đỗi Việt Nam: tình yêu e ấp, thầm kín, gắn liền với cây đa, bến nước, con đò, áo tứ thân. Cơn mưa xuân kia có thể chỉ là cơn mưa nhỏ, nhưng nó đã làm ướt đẫm bao trái tim người đọc. Và có lẽ, chính vì thế, "Mưa xuân" sẽ còn sống mãi trong lòng những ai yêu thơ, yêu cái đẹp giản dị mà tinh khôi của làng quê Việt Nam.
Phân tích một tác phẩm thơ: Mưa xuân - mẫu 4
Tình yêu tuổi trẻ trong thơ Nguyễn Bính thường gắn với những điều giản dị nhất: bờ tre, khóm chuối, con đò, bến sông. "Mưa xuân" kể về một cô gái chờ người yêu trong cơn mưa phùn đầu mùa, nhưng rồi người ấy không đến. Chỉ một câu chuyện nhỏ như thế, nhưng Nguyễn Bính đã thổi vào đó cả một bầu trời cảm xúc: sự háo hức, nỗi chờ mong, rồi cuối cùng là niềm tiếc nuối bâng khuâng. Bài thơ như một thước phim quay chậm, ghi lại những khoảnh khắc đẹp nhất của tình yêu đầu đời.
Mưa xuân là bài thơ mượn câu chuyện tình cảm của một cô gái bên khung cửi khi nhớ đến người yêu. Những tiếng lòng tha thiết khi cô gái nhớ mong người yêu được gửi gắm rất tha thiết:
“Em là con gái trong khung cửi
Dệt lụa quanh năm với mẹ già,
Lòng trẻ còn như cày lụa trắng,
Mẹ già chưa bán chợ làng xa…”
Cô gái trong bài thơ đã kể về chính mình là một cô gái dệt lụa suốt ngày quanh quẩn bên khung cửi và mẹ già. Tấm lòng ví như tấm lụa trắng mà chưa được bán vào tay ai cả. Thế nhưng sự đời đâu có bình yên trôi qua như vậy cho đến một ngày:
“Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy”
Hai câu thơ tả cảnh rất hay và rất tình. Mưa xuân thường mang đến cảm giác rất nhẹ nhàng, êm ái như gieo vào lòng người những xuyến xao. Mùa xuân đến với hoa xoan rụng từng lớp, từng lớp vẽ nên một bức tranh quê thật tuyệt vời. Và để tăng thêm cái ấm áp đó có thêm một sự kiện bất ngờ đó là:
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõMẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”…
Nếu hình ảnh hoa xoan làm cho câu thơ mang nét thi vị, thì sự xuất hiện của “hội chèo làng Đặng” lại làm cho bài thơ mang đậm chất quê, không lẫn vào đâu được. Trên thực tế, hội chèo mỗi năm chỉ diễn ra một lần duy nhất vào mùa xuân ở các làng, nhất là các vùng quê chèo như Thái Bình, Nam Định. Trong cái đêm hội chèo định mệnh ấy, “em” đã gặp anh. Và cuộc gặp gỡ ấy chỉ được diễn tả thoáng qua, thoáng qua đến mức làm cho người đọc dễ dàng bỏ qua sự kiện.
“Lòng thấy giăng tơ một mối tình
Em dừng thoi lại giữa tay xinh
Hình như hai má em bừng đỏ
Cỏ lẽ là em nghĩ đến anh…”
Vâng sự kiện hội chèo đã gieo rắc vào lòng em nụ hồng tình đầu chớm nở. Mối tình đầu xao xuyến ấy đã làm cho “hai má em bừng đỏ” khi em “nghĩ đến anh”. Mạch thơ vẫn tiếp tục với sự kể lể của nhân vật trữ tình như là để trình bày nguyên cớ, hay là để bộc lộ rõ sự vận động trong nội tâm nhân vật.
“Mình em lầm lụi trên đường về
Có ngắn gì đâu một dải đê,
Áo em che đầu mưa nặng hạt.
Lạnh lùng thêm tủi với canh khuya.”
Từ tâm trạng bối rối thương yêu đã trở nên buồn tủi hơn với nỗi nhớ của riêng mình. Lúc này chỉ còn mình cô giá trên đường về. Mưa xuân đã chuyển nặng hạt hơn không còn mang cho người ta cảm giác tươi mát như ban đầu. Mà ngược lại, mưa làm còn làm cho người con gái thêm buồn tủi trong đêm lạnh. Khoảng cách giữa nhân vật “em” và “anh” lúc này không còn là một “thôi đê” nữa mà là “một dải đê” xa tít tắt.
“Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay.
Hoa xoan đã nát dưới chân giày
Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ,
Mẹ bảo: “Mùa xuân đã cạn ngày”…”
Cũng là bữa ấy có mưa xuân, có hoa xoan, có hội chèo làng Đặng. Nhưng lúc này cảnh vật đã có sự đối lập rõ rệt. Đó là “mưa xuân đã ngại bay”, “hoa xoan đã nát”, lần này là hội chèo làng Đặng đi qua. Nghe lời người mẹ nói thì mùa xuân đã cạn ngày như chính tình yêu của cô gái vậy. Chữ “cạn” cũng được xem vừa là sự kết thúc, nhưng đồng thời nó cũng là sự mở đầu
“Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày”
Từ một cuộc hẹn không thành mà mối duyên lành vĩnh viễn trôi. Nỗi đau khổ đầu đời như một vết cứa vào tâm hồn người con gái. Những tưởng như nỗi đau đó làm mùa xuân đã cạn ngày và tình yêu cũng chết trong em. Nhưng không đến khổ thơ cuối là sự bùng cháy mãnh liệt ngọn lửa khao khát yêu thương trong em.
“Bao giờ em mới gặp anh đây
Bao giờ hội Đăng đi ngang ngõ
Để mẹ em rằng hát tối nay?”
Không có gì đau đớn, không có nước mắt hay chia ly – chỉ có một sự vắng mặt lặng lẽ. Thế nhưng, chính sự vắng mặt ấy lại làm nên cái hồn của bài thơ. "Mưa xuân" dạy ta rằng: đôi khi, cái không đến còn đẹp hơn cái đến, bởi nó để lại trong lòng ta một khoảng trống để tưởng tượng, để mơ mộng, để tiếc nuối. Và có lẽ, cái khoảng trống ấy chính là nơi trú ngụ của thơ ca.
Phân tích một tác phẩm thơ: Mưa xuân - mẫu 5
Nguyễn Bính được mệnh danh là "thi sĩ của đồng quê", bởi thơ ông luôn thấm đẫm hương vị làng quê Bắc Bộ. "Mưa xuân" là một bài thơ như thế: mộc mạc, chân quê, nhưng chứa chan tình cảm. Bài thơ không chỉ là bức tranh thiên nhiên tươi đẹp mà còn là tiếng lòng của một cô gái đang yêu. Giữa cơn mưa bụi lất phất, cô chờ người yêu qua bến đò. Cơn mưa càng lâu, nỗi chờ càng dài, và sự thất vọng càng lớn. Thế nhưng, chính sự thất vọng ấy lại được nhà thơ nâng lên thành một thứ đẹp đẽ, đầy chất thơ.
Mở đầu bài thơ là hình ảnh cô gái bên khung cửi nhỏ
“Em là con gái trong khung cửi
Dệt lụa quanh năm với mẹ già.
Lòng trẻ còn như vuông lụa trắng
Mẹ già chưa bán chợ làng xa”
Cô gái hiện lên với công việc dệt lụa quanh năm, ngày ngày gắn bó với khung cửi. Đây là một hình ảnh thơ rất đẹp, gợi ra hình ảnh của của cô gái chăm chỉ, tần tảo, gắn bó với công việc. Hình ảnh cô gái chịu thương chịu khó gợi lên cuộc sống nghèo khó của vùng quê nông thôn. Hiện lên cùng hình ảnh cô gái là người mẹ già. Họ nương tựa vào nhau sống. Nhà thơ miêu tả rất chân thật hình ảnh cô thiếu nữ mới lớn "lòng trẻ còn như vuông lụa trắng”. Nghệ thuật so sánh được thi sĩ sử dụng rất tài tình. Hình ảnh cô con gái còn trẻ nên chưa được mẹ gả chồng.
Khổ thơ tiếp theo, nhà thơ miêu tả khung cảnh đất trời mưa xuân
“Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ
Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”
Mưa xuân bao phủ khắp không gian trời đất, nó như màn sương khói mờ ảo. Từ láy "phấp phới” diễn tả tâm trạng vui tươi, tràn ngập sức sống của mùa xuân. Mưa xuân như luồng gió mới làm cho vạn vật sinh sôi, nảy nở, khoe hương, khoe sắc. Hội chèo là nét văn hóa đặc trưng của mùa xuân. Không khí tưng bừng của hội chèo dường như xua tan không gian im lặng của hai mẹ con ngày ngày bên khung cửi. Thời tiết mùa xuân "phơi phới” hay cũng chính là nhân vật "em” đang mong chờ, háo hức đi xem hội.
Niềm mong ngóng của cô gái đi xem hội hay chính là nỗi niềm tương tư, thầm thương trộm nhớ một mối tình, một chàng trai trong lòng:
“Lòng thấy giăng tơ một mối tình
Em dừng thoi lại giữa tay xinh
Hình như hai má em bừng đỏ
Có lẽ là em nghĩ đến anh…”
Người con gái ngày ngày bên khung cửi dệt lụa nay đã “dừng thoi lại”. Phải chăng lòng em đã giăng tơ một mối tình? Phải chăng "em” đã biết yêu? Hình ảnh em với hai má bừng đỏ thật đáng yêu, đáng mến. Đó là nét thường tình ta bắt gặp của một người con gái mới lớn, chớm nở với tình yêu. Người con gái ấy khi yêu bao giờ cũng nhớ nhung về người mình yêu, mình thương "Có lẽ là em nghĩ đến anh..” Câu thơ vang lên như một lời khẳng định chắc nịch đó là anh. Bởi vậy, em luôn tin rằng anh “ Thế nào anh ấy chẳng sang xem”.
Tiếng gọi của tình yêu, tiếng gọi của trái tim đã thôi thúc bước chân của cô
“Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm
Em mải tìm anh chả thiết xem
Chắc hẳn đêm nay dường cửi lạnh
Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em”
Nhân vật em vội vàng, khẩn trương sang thôn Đoài để mong ngóng được gặp chàng trai của mình. Trái tim thổn thức của tình yêu đã dẫn lối cho cô gái, “ Yêu nhau mấy núi cũng chèo, mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua”. Khoảng cách từ xa bỗng chốc trở thành gần. Thế nhưng người thiếu nữ đâu có thiết xem hội chèo mà cô gái ấy mải miết tìm anh, luôn mong gặp anh. Cô càng tìm, càng mong bao nhiêu thì cô càng buồn bấy nhiêu. Đáp lại nỗi niềm mong chờ của cô, chàng trai đã không tới “Chờ mãi anh sang anh chả sang”. Câu thơ như một lời trách móc của cô gái với chàng trai. Tuy chàng trai ấy không đến nhưng ở cô gái vẫn mang niềm tin mãnh liệt vào tình yêu, cô sẽ gặp được chàng trai vào mùa xuân
“Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày
Bao giờ em mới gặp anh đây
Bao giờ chèo Đặng đi ngang ngõ
Để mẹ em rằng hát tối nay”
"Mưa xuân" để lại trong lòng người đọc một dư vị ngọt ngào và hơi chút chua xót. Nguyễn Bính đã viết về một thứ tình yêu không thành, nhưng lại khiến ta yêu cái không thành ấy. Bởi lẽ, trong thế giới thơ ca, dang dở đôi khi lại trọn vẹn hơn cả viên mãn. Cô gái trong bài thơ có thể đã ra về với một nỗi buồn nhẹ nhàng, nhưng người đọc thì ở lại, lưu luyến mãi với cơn mưa xuân, với bến đò, với những rung động đầu đời không bao giờ quên.
Phân tích một tác phẩm thơ: Mưa xuân - mẫu 6
Người ta yêu thơ Nguyễn Bính bởi nó gần gũi như hơi thở, như lời mẹ ru, như tiếng trống chèo, như cơn mưa rơi trên mái lá. "Mưa xuân" là một bài thơ đẹp trong trẻo ấy. Không hoa mỹ, không cầu kỳ, chỉ một câu chuyện tình yêu giản đơn đến mức ai cũng có thể gặp một lần trong đời. Thế nhưng, chính cái giản đơn ấy lại khó viết, khó diễn tả. Và Nguyễn Bính đã làm được điều đó một cách tài tình: ông đã bắt được cái thần của tình yêu quê, của những rung động thầm kín trong trái tim người con gái.
“Em là con gái trong khung cửi
Dệt lụa quanh năm với mẹ già
Lòng trẻ còn như cây lụa trắng
Mẹ già chưa bán chợ làng xa”
Mở đầu bài thơ là hình ảnh của một cô gái sống bằng nghề dệt lụa cùng với mẹ già, tấm lòng trong sáng thuần khiết được ví như cây lụa trắng đã cho ta thấy đây là một cô gái có lòng lương thiện, luôn nghe lời mẹ. Nhà thơ đã sử dụng lối viết tự sự chân thật và gần gũi để giới thiệu về cuộc sống hàng ngày của cô gái làm cho người đọc hiểu hơn về nhân vật trong chuyện.
“Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ
Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”
Hình ảnh mưa xuân hiện lên thật đẹp chẳng trách Nguyễn Bính đã lấy hình ảnh này để đặt tên cho bài thơ. Các hình ảnh như: mưa xuân, hoa xoan, hội chèo đều là những hình ảnh quen thuộc của mùa xuân và có lẽ đây chính là cơ hội để cô gái có thể gặp chàng trai trong lòng của mình.
Tôi nhớ trong bài thơ Tương Tư, tác giả cũng đã sử dụng hình ảnh thôn Đoài trong câu thơ: “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông – một người chín nhớ mười thương một người”. Hình ảnh thôn quê hiện lên thật gần gũi tượng trưng cho tình cảm lứa đôi thật đẹp, đây chính là điểm đặc sắc trong thơ của Nguyễn Bính mà chúng ta không thể tìm thấy ở các nhà thơ khác.
Những câu thơ tiếp theo từ “em ngừng thoi lại giữa tay xinh… cho đến thế nào anh ấy chả sang xem” đã diễn tả tâm trạng bồi hồi có chút e thẹn của cô gái khi nghĩ đến chàng. Nguyễn Bính đã sử dụng lối viết tự sự kết hợp với miêu tả đem đến cho người đọc cảm giác rất chân thật, rất gần gũi, dù không có mặt ở đó nhưng người đọc vẫn có thể hình dung ra mọi hành động của cô gái.
“Em xin phép mẹ vội vàng đi
Mẹ bảo em về kể mẹ nghe
Mưa bụi nên em không ướt áo
Thôn Đoài cách có một thôi đê”
Nguyễn Bính đã thực sự hóa thân vào nhân vật, kể lại từng chi tiết cũng như diễn biến tâm trạng của cô gái giúp cho người đọc cảm thấy rất chân thực. Từ “vội vàng” đã cho thấy tâm trạng háo hức của cô gái chỉ muốn mau chóng đến hội hàng để có thể gặp được chàng, trái tim và lý trí của cô đều hướng đến chàng.
“Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm
Em mải tìm anh chả thiết xem
Chắc hẳn đêm nay dường cửi lạnh
Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em”
Những câu thơ vô cùng mộc mạc và giản dị, những câu nói rất đỗi đời thường, rất đỗi gần gũi với lối sống thôn quê bình dị đã được Nguyễn Bính sử dụng trong đoạn thơ trên. Cô gái lặn lội sang thôn Đoài nhưng không hề có ý xem hội mà tâm trí của cô chỉ hướng đến người thương trong lòng, cô mải miết đi tìm anh trong vô thức.
Biện pháp nhân hóa được sử dụng khéo léo trong hai câu cuối chứng tỏ mọi khi cô luôn gắn bó với khung cửi và thoi ngà nhưng hôm nay cô đã bỏ mặc tất cả để đi tìm chàng, đi tìm hạnh phúc của đời mình.
Sự chờ đợi trong vô vọng của cô gái đã dập tắt niềm hi vọng của cô, tâm trạng chuyển từ hồi hộp nhớ mong đến trách móc:
“Chờ mãi anh sang anh chẳng sang
Thế mà hôm nọ hát bên làng
Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn
Để cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng”
Những lời trách móc của cô gái rất chân thực, mang nỗi niềm của người con gái khi yêu mong muốn được gặp chàng để thỏa nỗi nhớ mong nhưng chàng lại không đến.
“Mình em lầm lũi trên đường về
Có ngắn gì đâu một dải đê!
Áo mỏng che đầu mưa nặng hạt
Lạnh lùng thêm tủi với canh khuya”
Chờ hoài mà chàng không đến, cô gái “lầm lũi” đi về trong màn đêm đầy sương gió mang theo bao nhiêu tâm sự với tủi hờn. Tôi rất khâm phục Nguyễn Bính trong việc miêu tả diễn biến tâm lí của cô gái, có lẽ đây chính là yếu tố tạo nên sự thành công và tên tuổi của nhà thơ.
Tâm trạng của cô gái trước khi đi xem hội là rất vui, rất háo hức vì tin rằng sẽ gặp được chàng, đường dù xa nhưng cô vẫn thấy rất gần điều này thể hiện rất rõ trong câu: “Thôn Đoài cách có một thôi đê”. Bởi vì cô háo hức muốn đi gặp chàng nên dù đường xa hay mưa gió cũng chẳng màng, đường dù xa nhưng cô vẫn thấy rất gần.
Nhưng đến khi không gặp được chàng trai, suy nghĩ của cô gái đã thay đổi hẳn: “Có ngắn gì đâu một dải đê”. Một mình cô trở về trong sự nhớ nhung, tủi hờn, con đường về nhà trở nên dài hơn bao giờ hết.
Mùa xuân đang dần qua đi, những cơn mưa xuân đã ngại bay, những cánh hoa xoan đã bị nát dưới giày, hội làng cũng sắp hết, không biết đến bao giờ cô mới gặp được chàng trai, không biết đến khi nào mùa xuân kia lại tươi thắm trở lại.
Nguyễn Bính đã viết bằng cả tình yêu làng quê, bằng cả sự tinh tế của một tâm hồn nhạy cảm. Và bởi thế, bài thơ vượt thoát khỏi thời gian, trở thành một trong những tác phẩm hay nhất viết về tình yêu tuổi trẻ. Đọc "Mưa xuân", ta như được trở về với những ngày tháng ngây thơ nhất, trong trẻo nhất của đời mình.
Phân tích một tác phẩm thơ: Mưa xuân - mẫu 7
Có những bài thơ chỉ cần đọc một lần là thuộc, nhưng phải sống đủ lâu mới thấm. "Mưa xuân" của Nguyễn Bính là một bài thơ như thế. Bề ngoài, nó chỉ là một câu chuyện nhỏ: một cô gái chờ người yêu trong mưa. Nhưng bên trong, nó chứa đựng cả một triết lý về tình yêu, về sự chờ đợi, về những điều mong manh và dễ vỡ trong cuộc đời. Nguyễn Bính đã lấy chất liệu từ làng quê Bắc Bộ, nhưng cái tình, cái hồn của bài thơ thì mang giá trị nhân văn sâu sắc.
Mưa xuân được xem như một sáng tác đầu tiên trong quá trình sáng tác của ông. Bài thơ là tâm tư, là nỗi lòng thầm lặng của cô gái quê khi phải lòng một chàng trai quê. Một câu chuyện tình nơi thôn quê, chân thành và sâu sắc. Ngay từ đầu, tác giả đã khắc họa hình ảnh người con gái ấy:
“Em là cô gái trong khung cửi
Dệt lụa quanh năm với mẹ già
Lòng trẻ con như cây lụa trắng
Mẹ già chưa bán chợ làng xa.”
Người con gái ấy sống bên mẹ mình bằng nghề dệt vải, hình ảnh một người con gái dịu dành tóc rủ bên thềm ngồi miệt mài trước khung cửi, cô gái ấy như “cây lụa trắng” tức là vẫn rất tho mộng,chớm tuổi xuân đến. “Chưa bán chợ làng xa” tức là cô vẫn chưa được gả đi. Ngay câu đầu vẻ đẹp của người con gái đã được hiện lên một cách tự nhiên với câu thơ của tác giả. Rồi người con gái ấy, thì ra cũng đang mang trong mình một mối tình thầm kín với chàng trai làng bên. Mùa xuân đến, hội hè bắt đầu, cũng là cơ hội tốt để hai người được gặp nhau…
“Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy…
Có lẽ là em nghĩ đến anh”.
Mưa xuân bay đầy trời, hoa xoan lớp lớp rụng đầy trên ngõ, xuân về. Hội chèo làng Đặn qua ngõ, mẹ nói “Thôn Đoài hát tối nay.” Thôn Đoài có hội, thôn Đoài chính là noi có chàng trai mà cô vẫn thương nhớ. Thế nên nghe tin ấy, lòng cô gái thấy xao xuyến, một mối tình đang giăng tơ trong lòng. Cô dừng đưa thoi, nghĩ ngợi thẹn thùng”hai má ửng đỏ”… cô đang nghĩ tới người mình yêu.
Chắc hẳn là cô sẽ đi xem hội, để mong gặp được chàng trai. Hai khổ thơ tiếp theo là tâm trạng ngổn ngang suy nghĩ của cô gái khi chuẩn bị đi.
“Bốn bên hàng xóm đã lên đèn
Em ngửa bàn tay trước mái hiên
Mưa thấm bàn tay từng chấm lạnh
…Thôn Đoài cách có một thôi đê.”
Khi nhà nhà lên đèn, màn đêm đến, đêm xuân chắc hẳn lạnh lắm “Mưa thấm bàn tay từng chấm lạnh”, cái lạnh ấy không là gì bởi lòng cô đang bừng lên ngọn lửa ấm ấp của tình yêu, của sự chờ mong, khát khao yêu thương. Cô thầm nghĩ rằng chắc hẳn anh cũng sang xem. Vội vàng đi, mưa bụi không làm áo cô ướt. Quãng đừng một thôi đê sao thấy ngắn thế, vì thôn Đoài bên kia là tình yêu của cô. Đường ngắn cũng là vì đến với tình yêu thôi.
Hội hè nhộn nhịp. liệu cô có thấy chàng trai, liệu mong mỏi của cô có được đáp lại?
“Thôn Đoài vào hội hát thâu đêm
Em mải tìm anh chả thiết xem…
Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn
Để cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng.”
Cô gái đến hội cũng chỉ là để tìm chàng trai, cô mải miết tìm không thiết xem gì cả. Rồi không thấy bóng chàng, một mình cô lại thoáng nhớ giường cửi, thôi ngà của mình. Nhớ những gì thân thuộc nhất, có lẽ đó cũng là cảm xúc bình thường của người con gái mỗi khi thấy bơ vơ, họ thường hay nghĩ về những gì thân thuộc nhất. Rồi thì, chàng trai ấy cũng không sang, sự chờ đợi của cô là vô ích.
Lời hò hẹn kia với chàng trai chắc hẳn chỉ là một lời hứa nơi hội hè nhưng cô gái lại rất xen trọng, vậy nên cô mới than lên “Để cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng”, mùa xuân hay chính là tuổi trả của cô gái, tình yêu sự trông mong của cô hay không vì lời hò hẹn của chàng trai thì giờ cô đã là người con gái của một người khác chứ không nhỡ nhàng thế này.
Sự chờ mong không được đáp lại, tình yêu khi đi giờ đã tàn vì thế mà cảnh vật và tâm trạng ở những khổ thơ còn lại mang nặng tâm trạng buồn, cảnh vật cũng nhuốm màu u ám, như đối lập hẳn với đoạn đầu.
“Mình em lầm lũi trên đường về
Có ngắn gì đâu một dải đê!…
Mẹ bảo: “Mùa xuân đã cạn ngày.”
Cô gái không gặp được chàng trai. Bước chân lầm lũi quay về. Lầm lũi, cái dáng gợi nên sao đàng thương đến thế, đáng thương và cô độc. Một thôi đê giờ đây “có ngắn gì đâu”, bước chân nặng trĩu như kéo dài cả đoạn đường. Mưa nặng hạt áo mỏng che sao hết, lạnh lẽo vây quanh khiến cô càng thêm đau buồn và tủi thân. Cô giận hờn chàng trai suốt cả quãng đường về, đến tận sáng hơn sau.
Ngày xuân, hội hè đã kết thúc rồi, chàng trai vẫn bặt vô âm tín khiến cô không thể bình yên. Cô thốt ra câu hỏi, chất vẫn chàng trai, câu hỏi mà chính cô cũng không đoán được câu trả lời. “Bao giờ em mới gặp anh đây?” Bao giờ hay mãi mãi là không bao giờ. Mùa xuân cũng đã cạn ngày rồi, niềm tin của cô vẫn còn nhưng nghe sao thật mỏng manh… Lời hứa hẹn với chàng trai vẫn luôn là nỗi trăn trở trong trái tim cô gái không thể giải đáp!
Ngòi bút đậm chất quê của Nguyễn Bính đã viết lên một câu chuyện về tâm tư, cảm xúc rung động của cô gái nơi thôn quê. Những diễn biến tâm lí đặc biệt được chú trọng, sự thay đổi của cảnh vật tương ứng với tâm trạng con người đã khiến bài thơ đem lại cho người đọc những cảm xúc và rung động sâu sắc.
Đến cuối bài thơ, người đọc vẫn không biết người yêu cô gái có đến hay không. Nhưng điều đó không còn quan trọng nữa. Quan trọng là cô gái ấy đã yêu, đã chờ, đã sống trọn vẹn với cảm xúc của mình. Và Nguyễn Bính đã kịp ghi lại khoảnh khắc ấy trước khi nó trôi qua. "Mưa xuân" vì thế không chỉ là một bài thơ – nó là một bảo tàng của những cảm xúc chân thật, một chứng nhân cho những rung động đầu đời mà ai cũng từng trải qua.
Phân tích một tác phẩm thơ: Mưa xuân - mẫu 8
Mưa xuân trong thơ Nguyễn Bính không phải là mưa giông, cũng không phải mưa bão – nó là cơn mưa phùn nhẹ nhàng, êm đềm, thấm đẫm không gian và lòng người. "Mưa xuân" mở ra một bức tranh làng quê thanh bình, nơi có cô gái mặc áo the, quần lĩnh, đứng chờ người yêu bên bến đò. Cơn mưa càng rơi, nỗi lòng càng da diết. Và từ cái khung cảnh dung dị ấy, Nguyễn Bính đã làm nên một tuyệt phẩm về tình yêu – thứ tình yêu không cần lời thề son sắt, chỉ cần một ánh mắt, một nụ cười, hay đơn giản chỉ là sự có mặt của nhau.
Mở đầu bài thơ, Nguyễn Bính giới thiệu một khung cảnh gia đình có lối sống nề nếp, có mẹ già và cô gái tuổi hoa niên. Dường như tác giả đã thấu hiểu được tâm trạng của cô gái trong gia đình ấy và đã nói thay tiếng lòng của cô gái:
“Em là cô gái trong khung cửi
Dệt lụa quanh năm với mẹ già
Lòng trẻ còn như cây lụa trắng
Mẹ già chưa bán chợ làng xa.”
Đây là một cô gái dịu dàng, ngây thơ, trong sáng. Song cuộc sống gia đình và công việc lao động cần mẫn quanh năm dường như đã tách biệt cô với cuộc sống bên ngoài. Hình ảnh thơ khiến ta liên tưởng tới câu ca dao:
“Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”
Hình ảnh “lụa trắng” gợi lên cái trinh trắng của một cô gái ít giao lưu, tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Có lẽ cô gái này đã lâu lắm rồi mới nghĩ đến chuyện gia đình. Thay lời muốn nói của cô gái. Nguyễn Bính đã mở đầu câu chuyện bằng khung cảnh thiên nhiên của một đêm xuân:
“Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy”
Chỉ có hai câu thơ thôi mà khiến lòng con người ta xốn xang và gợi không khí. Nếu như những ngày mưa bình thường chỉ là những giọt nước rơi thì “mưa xuân” của Nguyễn Bính lại “phấp phới bay” đã gợi cho ta một hình ảnh ngày xuân thật đẹp.
Hoa xoan ở làng quê không khoe hương khoe sắc mà lại rất quen thuộc. Những chùm hoa xoan tàn rụng, những cánh hoa bé li ti rụng đầy trên đường làm cho nỗi lòng của con người thêm buồn. Thiên nhiên nhiều màu vẻ đã làm mất đi không khí và cảm xúc bình lặng, nhất là gánh chèo làng Đặng đi qua càng gợi lên không khí vui chơi ngày xuân.
Nguyễn Bính đã diễn tả tình yêu của một cô gái quê thật nhẹ nhàng, tinh tế. Khởi đầu là dung cảm nhẹ như tơ vương gợi chút xao xuyến trong lòng. Những rung động lớn dần, con thoi dường như không đi về được như bình thường khi trái tim cô gái đã có những nhịp đập khác thường.
Hình bóng của một người con trai đã hiện lên trong suy nghĩ của cô gái mà cô cảm thấy có chút gì đó ngượng ngùng. Cô không soi gương cũng biết má mình bừng đỏ. Đó là tâm trạng đang yêu của những cô gái trẻ.
“Mưa xuân” cũng như nhiều bài thơ khác của Nguyễn Bính, thường có những yếu tố của cốt truyện: Từ tâm tình của cô gái chuyển sang hành động. Cô gái chỉ nghĩ đến chàng trai và những lời hò hẹn. Trời đã tối, hàng xóm đã lên đèn, mưa xuân vẫn bay phủ kín cả bầu trời đêm. Cô gái như có chút đắn đo ngập ngừng trước trời mưa lạnh nhưng ý nghĩ đó nhanh chóng bị lướt qua khi nghĩ đến sự có mặt của chàng trai trong đêm hội.
“Mưa bụi nên em không ướt áo
Thôn Đoài cách có một thôn Đê.”
Cô gái xin phép mẹ rồi vội vàng đi. Hình ảnh cô gái trẻ mải miết tìm người yêu trong đêm hội, không thiết đến chuyện xem hát cũng nói lên sức mạnh của tình yêu và gợi lòng thương cảm trong lòng con người ta. Không còn là chuyện lầm lẫn trong hẹn hò mà tuổi trẻ mạnh dạn dấn thân vào và nhận lại những sự bất ngờ và đau đớn của cảnh ngộ, tình yêu chung thủy và sự bội bạc phũ phàng.
Ở đây có sự đối lập giữa khung cảnh hội hè vui vẻ và cảnh cô đơn tủi phận của riêng ai:
“Chờ mãi anh sang anh chẳng sang
Thế mà hôm nọ hát bên làng
Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn
Để cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng.”
Trong ý thơ có lời trách cứ giận hờn. Chính ở giây phút đáng giận, đáng căm ghét này cô gái vẫn tỏ ra hiền dịu và chỉ biết trách cứ chàng trai. “Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn” nhung đã sớm quên lời hẹn ước.
Nếu như ở khổ thơ đầu, nhân vật trữ tình còn mong đợi, còn náo nức, còn hăng hái thì tất cả đến đây dường như đảo ngược. Thời gian trôi qua chưa lâu, vẫn là đêm xuân ấy nhưng sự cảm nhận về thời gian vẫn hoàn toàn khác biệt “Để cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng?”
Sự lỡ hẹn trong tình yêu của đôi lứa có thể dẫn đến sự nhỡ nhàng. Từ đây, mùa xuân với đơn vị thời gian vốn có đã được tác giả sử dụng với nhiều ý tứ nghệ thuật. Con đường trở về nhà của cô gái chắc là con đường xa.
Nếu như trước đây “Thôn Đoài cách có một thôn Đê” thôi thì bây giờ là “Có ngắn gì đâu một dải đê” và lúc đó mưa xuân còn nhẹ hạt thì bây giờ “Áo mỏng che đầu mưa nặng hạt”, lòng cô gái dường như nặng trĩu. Giữa tâm trạng của cô gái như vậy mưa xuân không còn “phơ phới” mà đã ngại bay. Hoa xoan cũng bị chà đạp trên lối về và “mùa xuân đã cạn ngày”.
Bây giờ chỉ còn nỗi buồn của cô gái, một nỗi buồn phải âm thầm chịu đựng. Nhưng niềm tin của cô gái vẫn chưa mất hẳn. Một câu hỏi không thể tìm được lời đáp vẫn được thốt lên “Bao giờ em mới gặp anh đây?”. Người con gái trong “mưa xuân” vẫn cứ chờ đợi một cái gì đó rất xa xôi.
Mùa xuân của trời đất hàng năm thì vẫn trở lại. Mưa xuân lại phơi phới bay nhưng mùa xuân của cuộc đời thì chỉ đến có một lần. Bài thơ “Mưa xuân” đã ghi lại cả hai mùa xuân ấy và gợi lên biết bao ngậm ngùi xót xa cho số phận và hạnh phúc của tuổi trẻ trong cuộc đời của thời đại cũ trước đây.
Khi cơn mưa xuân tạnh, bài thơ cũng khép lại. Nhưng cái dư vị bâng khuâng, tiếc nuối thì vẫn còn mãi. Nguyễn Bính đã cho ta thấy rằng: tình yêu đẹp nhất không phải là khi được ở bên, mà có khi lại là lúc phải chờ đợi. Bởi chờ đợi là hy vọng, và hy vọng là thứ đẹp nhất mà con người có thể dành cho nhau. "Mưa xuân" là một bài thơ như thế – nhẹ nhàng, trong trẻo, và đầy sức sống mãnh liệt.
Phân tích một tác phẩm thơ: Mưa xuân - mẫu 9
Trong dòng chảy của thơ ca Việt Nam hiện đại, Nguyễn Bính nổi lên như một giọng thơ độc đáo, gắn bó máu thịt với làng quê. "Mưa xuân" là một trong những sáng tác tiêu biểu cho phong cách ấy. Bài thơ không chỉ là bức tranh thiên nhiên mà còn là một câu chuyện tình yêu nhẹ nhàng, sâu lắng. Tất cả đều thấm đẫm chất chân quê: từ hình ảnh, ngôn ngữ đến cảm xúc. Và chính chất chân quê ấy đã làm nên sức sống bền bỉ của bài thơ qua bao thế hệ.
Câu chuyện Mưa xuân, được thi sĩ mở đầu không phải cảnh đẹp xuân, không phải tiết trời xuân, mà là
“Em là con gái trong khung cửi
Dệt lụa quanh năm với mẹ già.
Lòng trẻ còn như vuông lụa trắng
Mẹ già chưa bán chợ làng xa.”
Nhân vật trong thơ, người mà Nguyễn Bính muốn miêu tả ở đây là một thiếu nữ làm nghề dệt lụa. Cảnh nhà đơn chiếc em “dệt lụa quanh năm với mẹ già”. Em còn trẻ được tác giả ví “như vuông lụa trắng”. tức vuông lụa chưa thành phẩm. Trong bài Mưa xuân, nhân vật ấy cũng không ngoại lệ. Bài thơ được nối tiếp sau phần giới thiệu bây giờ là:
“Bữa ấy, mưa xuân phơi phới bay,
Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy.
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ,
Mẹ bảo: ‘Thôn Đoài hát tối nay’.”
Cảnh nhà đơn chiếc chỉ có hai mẹ con. Bỗng trở lên vui tươi ở khổ thơ này. Bởi một bữa “mưa xuân phơi phới bay”. Ta có cảm giác lòng em “phơi phới bay” chứ không phải “mưa xuân”. Hình ảnh hoa xoan (Sầu đông) là hình ảnh loài hoa hiện diện ở khắp các làng quê Bắc Bộ từ xưa đến nay, được thi sĩ đưa vào Mưa xuân với “hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy”.
Rồi “hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ” đã làm cho khung cảnh yên bình bị phá vỡ. Tiếng trống hội làng thúc giục, với tiếng loa của “hội chèo” cộng thêm “mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”.làm cho “vuông lụa trắng” khấp khởi khi ngồi dệt bên khung cửi.
Mưa xuân đã xuất hiện trong thơ làm cho trời xuân khởi sắc, làm cho lòng người khấp khởi. Câu chuyện Mưa xuân vẫn đang tiếp tục được Thi sĩ kể rằng:
“…Lòng thấy giăng tơ một mối tình
Em ngừng thoi lại giữa tay xinh
Hình như hai má em bừng đỏ
Có lẽ là em nghĩ tới anh…”
Ở đây có lẽ do “mưa xuân phơi phới” rồi “hội chèo” đi ngang ngõ. Hay lời nói của Mẹ đã làm cho “vuông lụa trắng” phải “ngừng thoi lại”. Vì sao “tay xinh”ngừng dệt? có phải bởi “lòng thấy giăng tơ một mối tình”. Tại sao mới chỉ “lòng thấy… “mà đã “hình như hai má em bừng đỏ”? Em sao lại ngượng ngùng khi mới chỉ “nghĩ tới anh”. Một khổ thơ với bao nhiêu câu hỏi, khiến người đọc phải suy ngẫm qua đi. Câu chuyện mưa xuân vẫn còn nối tiếp:
“…Bốn bên hàng xóm đã lên đèn
Em ngửa bàn tay trước mái hiên,
Mưa chấm tay em từng chấm lạnh,
Thế nào anh ấy chẳng sang xem”
Trời đã buông màn nhung tối đen xuống, bao phủ làng quê. Nhà nhà đã lên đèn, Em lúc này mới để ý và ra “trước mái hiên”,làm một hành động rất đẹp “ngửa bàn tay” ra đón “mưa xuân phơi phới bay”. Mặc dù “mưa chấm tay em từng chấm lạnh”. Nhưng em không cảm thấy mưa lạnh đang rót vào tay mình từng hạt, mà em chỉ nghĩ tới “thế nào anh ấy chẳng sang xem”.
Mưa xuân đã xuất hiện như có tâm hồn “phơi phới bay”. Ở đây, chúng ta càng thấy rõ tài sử dụng từ ngữ tài tình của thi sĩ. “Vuông lụa trắng” khấp khởi trong lòng khi nghĩ tới “anh ấy” nên không ngần ngại dẫu ngoài trời đang mưa lạnh:
“…Em xin phép mẹ, vội vàng đi
Mẹ bảo xem về kể mẹ nghe,
Mưa bụi nên em không ướt áo,
Thôn Đoài cách có một thôi đê.”
Bây giờ chúng ta mới thấy từ “vội vàng” xuất hiện. Sau khi em đã “xin phép mẹ”. Mẹ đồng ý nên “Mẹ bảo xem về kể mẹ nghe”. Đọc tới đây, tôi có cảm giác em đã vội để đến “thôn Đoài”, dù chỉ cách một “thôi đê”. Chỉ có đi nhanh như bay thì “mưa bụi” mới “không làm em ướt áo” được.
Một điều tôi muốn nói rằng, tâm lý chung của mấy cô con gái mới biết rung động trái tim yêu lần đầu, khi nghĩ đến hẹn hò thì sẽ “chân sáo” để đi là cái chắc.
Nếu ai đã từng đi dưới sương đông, chắc hẳn biết nếu đi chậm sương cũng sẽ làm ướt áo, chứ đừng nói đến “mưa bụi”. dẫu “mưa bụi” là mưa nhỏ li ti đi chăng nữa. Câu chuyện Mưa xuân vẫn còn lôi cuốn ta đi theo sau khi em đến thôn Đoài mà không bị mưa bụi làm ướt:
“…Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm
Em mải tìm anh chả thiết xem
Chắc hẳn đêm nay giường cửi lạnh
Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em”
“Hội Chèo làng Đặng” tới hát ở “thôn Đoài”, mùa lễ hội mà đặc biệt hôm nay, sẽ “Hát thâu đêm” tức tàn canh “đám hát” mới tan. Em đã xin phép mẹ đi xem hội. Vậy mà “Em mải tìm anh chả thiết xem”. Em có tìm thấy hay không? Giữa chốn đông người đi xem hát ấy, chưa biết.
Một khổ thơ diễn tả tâm trạng cũng như những lời trách rất thật, rất nhẹ nhàng của cô gái thôn quê. Hoá ra không dưng mà đầu câu chuyện Mưa xuân, em lại “hai má bừng đỏ” khi “nghĩ tới anh”.
Câu chuyện mưa xuân vẫn chưa dừng lại. Sau khi mưa xuân xuất hiện “phơi phới bay”. Rồi “mưa bụi không làm em ướt áo” và “mưa nặng hạt” đã trút lên đầu qua lớp “áo mỏng che đầu”. Bây giờ ta gặp lại mưa xuân và hoa xoan, hội chèo, mẹ bảo. Nhưng với hình ảnh khác:
“…Bữa ấy, mưa xuân đã ngại bay
Hoa xoan đã nát dưới chân giầy
Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ
Mẹ bảo: ‘Mùa xuân đã cạn ngày’”
Mưa xuân đã biết vui buồn theo em. Bây giờ mưa xuân “đã ngại bay”. Hoa xoan vẫn là hoa xoan rụng rơi trên mặt đất “bữa ấy”. Nó không còn lớp lớp dày” nữa mà giờ thì “hoa xoan đã nát” dưới chân giầy”. Bởi “hội chèo làng Đặng về ngang ngõ”. Thôn Đoài đã hết hội rồi. Còn mẹ lại bảo “Mùa xuân đã cạn ngày”.
Hội tan, gánh chèo rời đi.em đâu còn cơ hội để tìm anh nữa… Bao nhiêu hy vọng tiêu tan.Nỗi lòng “vuông lụa trắng”có lẽ là hình ảnh “Hoa xoan… dưới chân giầy”. Làm sao mà trong lòng không tan nát cho được khi mà đã tới thôn Đoài mà chỉ “tìm anh chả thiết xem”. Cuối cùng hết hội lủi thủi một mình “tủi với canh khuya”! Bây giờ thì “mùa xuân đã cạn ngày”. Hy vọng không còn em chỉ còn biết tự thầm thì với lòng mình, như đang nói với anh thôi:
“…Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày
Bao giờ em mới gặp anh đây?
Bao giờ hội Đặng đi ngang ngõ
Để mẹ bảo rằng: “Hát tối nay!””
Có thể nói, em đã không may mắn trong mùa xuân này! Với câu hỏi “bao giờ em mới gặp anh đây?” có nghĩa vẫn còn hy vọng. chỉ là chưa gặp thôi! Sẽ gặp! có điều là không biết “bao giờ hội Đặng đi ngang ngõ”, để mà em lại được nghe “mẹ bảo rằng: Hát tối nay”! Lại đợi chờ… và hy vọng…
"Mưa xuân" là bài thơ của những rung động đầu đời, của những nỗi niềm thầm kín, của cái đẹp bình dị mà tinh khôi. Nguyễn Bính đã viết nó bằng cả trái tim, bằng tình yêu làng quê tha thiết. Và bởi thế, dù thời gian có trôi qua, dù cuộc sống có thay đổi, "Mưa xuân" vẫn còn đó, như một chứng nhân cho một thời thơ ca rực rỡ, cho một hồn thơ chân quê không thể lẫn vào đâu được.
Phân tích một tác phẩm thơ: Mưa xuân - mẫu 10
Thơ Nguyễn Bính có một sức hút kỳ lạ: nó khiến người đọc nhớ về làng quê, nhớ về những ngày tháng êm đềm, nhớ về những rung động đầu đời. "Mưa xuân" là một bài thơ như thế. Chỉ vài khổ thơ ngắn ngủi, nhưng nó đã gói ghém cả một trời thương nhớ, cả một bức tranh làng quê Bắc Bộ với những hình ảnh thân thuộc: con đò, bến sông, cơn mưa phùn, tà áo tứ thân. Và giữa khung cảnh ấy, một cô gái chờ người yêu – một tình huống giản dị mà xúc động.
Nếu đứng ngoài mà nhận định thì mưa xuân vô tình trở thành kẻ ngăn cách hai không gian: khung cửi và cuộc đời. Nhưng nếu ta đặt mình vào vị trí của em (một nhân vật trữ tình) thì mạch thơ tự sự của bài thơ bắt đầu ngay từ những lời thơ đầu tiên:
“Em là con gái trong khung cửi
Dệt lụa quanh năm với mẹ già,
Lòng trẻ còn như cày lụa trắng,
Mẹ già chưa bán chợ làng xa…”
Lời giãi bày của nhân vật “em” muốn nói rằng: cuộc sống của “em” đang rất yên bình, thơ mộng, hay muốn giải thích cho hàng loạt sự biến đổi sau này? Khung cửi bản thân nó đã là sự biểu hiện cho cuộc sống ấm êm của làng quê. “Trong khung cửi” không chỉ là thế giới của riêng “em”, mà nó còn là thế giới con gái, thế giới bình yên của người con gái thôn quê. Trong cái thế giới bình yên đó, “em” vẫn vẹn nguyên một sự tinh khôi, tinh khiết như “cây lụa trắng”.
Nhưng cuộc đời sẽ cứ bình lặng trôi đi vô sự, cứ như hết ngày lại đêm, hết mưa rồi nắng, nếu không có một ngày, “hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ”. Và như vậy, sự giải thích ban đầu kia của “em” ‘sẽ chỉ cho người đọc nhận thấy sự biến đổi lớn lao trong cuộc đời “em”. Từ “bữa ấy”, khi “mưa xuân phơi phới bay, hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy”, “em” đã bước sang một thế giới khác.
Không còn là trong khung cửi nữa, em “đã bước ra ngoài trời, giữa cuộc đời theo tiếng gọi của mưa xuân”. Mưa xuân đến không chỉ giăng tơ cho trời đất mà giăng tơ vào hồn người. Nó gieo vào lòng “em” luyến ái đầu tiên hay hạt mầm vốn phong kín trong lớp vỏ êm đềm của thời thơ trẻ, gặp mưa xuân bỗng xốn xang tách vỏ.
“Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy”
Hai câu thơ rất hay, rất đẹp và rất tình. Mưa xuân thường đến rất nhẹ nhàng, êm ái như gieo vào lòng người những xuyến xao. Mưa xuân đến, hoa xoan rụng từng lớp, từng lớp vẽ nên một bức tranh quê trong tiết trời ấm áp của mùa xuân. Rồi như để tăng thêm cái ấm áp đó sự kiện đến với em cũng như những chàng trai, cô gái khác của làng em:
“Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ
Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”…”
Nếu hoa xoan làm cho câu thơ mang đậm hình ảnh quê, thì sự xuất hiện của “hội chèo làng Đặng” lại làm cho bài thơ mang đậm chất quê, không lẫn vào đâu được. Hai câu thơ rất thực mà cũng rất mộng. Hội chèo mỗi năm chỉ diễn ra một lần duy nhất vào mùa xuân ở các làng, nhất là quê chèo Thái Bình, Nam Định. Ấy là cái thực. Hội chèo đã kéo người gái quê ra khỏi khung cửi đến vói hẹn hò.
Song cái đêm chèo ở làng Đặng ấy dẫu thật bao nhiêu lại cũng như là sự tái hiện qua hồi ức. Ấy là cái mộng chăng? Trong cái đêm hội chèo ấy, “em” đã gặp anh, đâu có cuộc hò hẹn đầu tiên khi “em” bước ra khỏi khung cửi. Và cuộc gặp gỡ ấy chỉ được diễn tả thoáng qua, thoáng qua đến mức làm cho người đọc dễ dàng bỏ qua dẫu đó là hai câu thơ rực rỡ nhất.
Bốn khổ thơ tiếp theo là một sự kể lể dàn trải. Nhưng cái sự kể lể đó của cô gái lại khắc họa nên một thế giới thực, hiện hữu tuyệt đối.
“Lòng thấy giăng tơ một mối tình
Em dừng thoi lại giữa tay xinh
Hình như hai má em bừng đỏ
Cỏ lẽ là em nghĩ đến anh…”
Thế giới thơ Nguyễn Bính luôn đưa ta chao đảo giữa hai bờ hư ảo – hiện thực. Vậy nên dẫu cho mưa xuân phơi phới bay và hội chèo làng Đặng về biểu diễn là thực, thì cái việc “em ngửa bàn tay trước mái hiên” để định đoán “thế nào anh ấy cũng sang chơi” lại cũng chỉ là trong ảo tưởng, trong tưởng tượng của em. Và như vậy bài thơ trở nên hư ảo và lung linh hơn.
Tình yêu của Nguyễn Bính thật nhẹ, thật êm cũng như thật da diết, mạnh mẽ và kín đáo. Nó kín đáo nhu mưa xuân vậy. Mưa xuân đến báo hiệu một sức sống mới đang đâm chồi, báo hiệu một sự hồi sinh mạnh mẽ.
Trong “thế giới con gái”, cuộc sống của em” vốn ấm êm là vậy, “em” bước ra mùa xuân và “dệt cho mình tâm tình đầu”.
Nhưng người con gái,”chưa nếm ngọt ngào đã ngậm đắng cay. Nếu ở trên là một cảm giác ấm êm với bản sắc văn hoá đặc trưng của làng quê, thì bây giờ là sự lạnh lẽo, cô đơn, buồn tủi, tối tăm:
“Mình em lầm lụi trên đường về
Có ngắn gì đâu một dải đê,
Áo em che đầu mưa nặng hạt.
Lạnh lùng thêm tủi với canh khuya.”
Mưa xuân như nặng hạt hơn. Cũng không còn mang cho người ta cảm giác ấm êm tươi mát như nó vốn vậy. Mà ngược lại, mưa làm cho cõi lòng em thêm buồn tủi, đơn lạnh. Tình yêu vốn rất đẹp, rất nên tho, rất ngọt ngào. Chẳng phải “chàng thi sĩ của thơ tình ” đã phải thốt lên rằng “làm sao sống được mà không yêu”, dù cho “yêu là chết ở trong lòng một ít” đó sao? Nhưng tình yêu cũng có muôn vàn ngang trái.
“Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay.
Hoa xoan đã nát dưới chân giày
Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ,
Mẹ bảo: “Mùa xuân đã cạn ngày”…”
Cấu trúc bài thơ cũng thật cân xứng hợp lí. Cũng là bữa ấy có mùa xuân, có hoa xoan, có hội chèo làng Đặng. Nhưng lại có sự đối lập rõ rệt:
“Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát nay”…
Mẹ bảo: “Mùa xuân đã cạn ngày”...”
Sự cân xứng và đối lập ấy càng làm nổi rõ được cái tình trong bức tranh quê. Làm nổi bật những cung bậc cảm xúc, những rung cảm tinh tế trong tâm hồn con người. Mưa xuân đã không còn như trước, cả hoa xoan cũng không còn như trước vì “mùa xuân đã cạn ngày”. Mùa xuân đã cạn khi anh không đến.
Mùa xuân đã hết khi mối tình đầu tan vỡ. Ở đây, mùa xuân là của đất trời hay là mùa xuân của lòng người, của tình yêu? Có lẽ là cả hai? Chỉ một chủ “cạn” nhưng nó lại khái quát bao điều không thể nói. Nguyễn Bính đã nói được những tình ý kín đáo nhất trong tâm hồn con người”. Chữ “cạn” vừa là sự kết thúc, nhưng đồng thời nó cũng là sự mở đầu
“Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày”
Từ một cuộc hẹn không thành mà cơ duyên vĩnh viễn trôi. Nỗi đau khổ đầu đời như một tì vết sâu cứa vào tâm hồn em vào trái tim thơ trẻ của em. Những tưởng rằng mùa xuân đã cạn ngày thì tình yêu cũng chết trong em. Nhưng không. Khổ thơ cuối là sự bùng cháy mãnh liệt ngọn lửa khao khát yêu thương trong em. Đó là một sự tha thứ cho lỗi lầm muôn thuở trong tình yêu?
Hay là sự hồi sinh muốn sống lại sự yêu đời trong trắng trong em? Cô gái đã tha thứ tất cả và lại hi vọng vào tất cả. Vào tình yêu, vào mùa xuân, vào cuộc sống. Những “biến âm buồn trong nét nhạc” làm cho đêm chèo cùng trở nên lung linh huyền ảo.
Tưởng chừng như quá phũ phàng vói em, tưởng chừng như tất cả chỉ là ảo vọng vụt tan biến như bóng mây, nhưng cuối cùng niềm tin và hi vọng trong ẹm đã chiến thắng.
“Bao giờ em mới gặp anh đây
Bao giờ hội Đăng đi ngang ngõ
Để mẹ em rằng hát tối nay?”
“Mưa xuân” là nỗi lòng của những kẻ đang yêu, của những chàng trai, cô gái thôn quê, của chính tâm hồn thi sĩ. Cũng ấm ức tủi hờn với cô gái, để rồi lại băn khoăn, trăn trở, bàng hoàng trước những sự đối lập của cuộc đời. Ta băn khoăn tự hỏi mình: phải chăng đó chính là cõi lòng ta?
"Mưa xuân" sẽ còn mãi trong lòng người yêu thơ. Bởi nó là tiếng nói của làng quê, của tình yêu, của những gì thân thương và gần gũi nhất. Nguyễn Bính đã làm một điều tưởng chừng đơn giản nhưng vô cùng khó: ông đã bắt được cái hồn của người Việt, cái tình của đất Việt, và gửi gắm nó vào những vần thơ mộc mạc. Đọc "Mưa xuân", ta như được trở về với cội nguồn, với tuổi thơ, với những ngày mưa phùn tháng Giêng, lòng bâng khuâng, man mác.
Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:
- Phân tích một tác phẩm thơ: Miền quê
- Phân tích một tác phẩm thơ: Quê hương
- Phân tích một tác phẩm thơ: Nhớ rừng
- Phân tích một tác phẩm thơ: Mùa xuân chín
- Phân tích một tác phẩm thơ: Tiếng Việt
- Phân tích một tác phẩm thơ: Bến đò đêm trăng
Mục lục Văn mẫu | Văn hay 9 theo từng phần:
- Mục lục Văn thuyết minh
- Mục lục Văn tự sự
- Mục lục Văn nghị luận xã hội
- Mục lục Văn nghị luận văn học Tập 1
- Mục lục Văn nghị luận văn học Tập 2
Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.
Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:Loạt bài Tuyển tập những bài văn hay | văn mẫu lớp 9 của chúng tôi được biên soạn một phần dựa trên cuốn sách: Văn mẫu lớp 9 và Những bài văn hay lớp 9 đạt điểm cao.
Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.
- Giải Tiếng Anh 9 Global Success
- Giải sgk Tiếng Anh 9 Smart World
- Giải sgk Tiếng Anh 9 Friends plus
- Lớp 9 Kết nối tri thức
- Soạn văn 9 (hay nhất) - KNTT
- Soạn văn 9 (ngắn nhất) - KNTT
- Giải sgk Toán 9 - KNTT
- Giải sgk Khoa học tự nhiên 9 - KNTT
- Giải sgk Lịch Sử 9 - KNTT
- Giải sgk Địa Lí 9 - KNTT
- Giải sgk Giáo dục công dân 9 - KNTT
- Giải sgk Tin học 9 - KNTT
- Giải sgk Công nghệ 9 - KNTT
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 9 - KNTT
- Giải sgk Âm nhạc 9 - KNTT
- Giải sgk Mĩ thuật 9 - KNTT
- Lớp 9 Chân trời sáng tạo
- Soạn văn 9 (hay nhất) - CTST
- Soạn văn 9 (ngắn nhất) - CTST
- Giải sgk Toán 9 - CTST
- Giải sgk Khoa học tự nhiên 9 - CTST
- Giải sgk Lịch Sử 9 - CTST
- Giải sgk Địa Lí 9 - CTST
- Giải sgk Giáo dục công dân 9 - CTST
- Giải sgk Tin học 9 - CTST
- Giải sgk Công nghệ 9 - CTST
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 9 - CTST
- Giải sgk Âm nhạc 9 - CTST
- Giải sgk Mĩ thuật 9 - CTST
- Lớp 9 Cánh diều
- Soạn văn 9 Cánh diều (hay nhất)
- Soạn văn 9 Cánh diều (ngắn nhất)
- Giải sgk Toán 9 - Cánh diều
- Giải sgk Khoa học tự nhiên 9 - Cánh diều
- Giải sgk Lịch Sử 9 - Cánh diều
- Giải sgk Địa Lí 9 - Cánh diều
- Giải sgk Giáo dục công dân 9 - Cánh diều
- Giải sgk Tin học 9 - Cánh diều
- Giải sgk Công nghệ 9 - Cánh diều
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 9 - Cánh diều
- Giải sgk Âm nhạc 9 - Cánh diều
- Giải sgk Mĩ thuật 9 - Cánh diều


Giải bài tập SGK & SBT
Tài liệu giáo viên
Sách
Khóa học
Thi online
Hỏi đáp

