100+ Nhận định hay về Thơ ca lớp 9 (siêu hay)

Tổng hợp Dẫn chứng nghị luận văn học Nhận định hay về Thơ ca lớp 9 hay nhất giúp học sinh có thêm dẫn chứng để viết bài văn NLVH hay hơn. Mời các bạn đón đọc:

100+ Nhận định hay về Thơ ca lớp 9 (siêu hay)

Quảng cáo

I. Khái niệm dẫn chứng trong văn bản nghị luận

- Dẫn chứng là những sự kiện, số liệu, hiện tượng, ví dụ cụ thể được đưa vào bài viết nhằm làm sáng tỏ và tăng sức thuyết phục cho luận điểm.

- Nói cách khác, dẫn chứng chính là “bằng chứng thực tế” giúp người viết chứng minh rằng ý kiến của mình không chỉ là nhận định chủ quan mà có cơ sở xác đáng, cụ thể, khách quan.

- Vai trò của dẫn chứng:

+ Cụ thể hóa luận điểm (tránh nói chung chung, mơ hồ)

+ Tăng độ tin cậy và sức thuyết phục

+ Làm cho bài viết sinh động, giàu tính thực tiễn

II. Khái niệm dẫn chứng nghị luận văn học

- Dẫn chứng trong nghị luận văn học là những chi tiết, hình ảnh, câu văn, đoạn thơ, ngoại hình và tâm lí nhân vật, tình huống… được trích từ tác phẩm văn học để phân tích, chứng minh cho nhận định về nội dung hoặc nghệ thuật của tác phẩm.

Quảng cáo

- Đặc điểm:

+ Xuất phát từ tác phẩm văn học cụ thể

+ Gắn với phân tích (không chỉ kể lại)

+ Phải chọn lọc tiêu biểu, chính xác và có giá trị làm sáng tỏ vấn đề nghị luận

- Ví dụ:

+ Khi phân tích nhân vật, dẫn chứng có thể là hành động, lời nói, tâm lí của nhân vật trong tác phẩm văn học.

+ Khi phân tích nghệ thuật, dẫn chứng có thể là hình ảnh, biện pháp tu từ, ngôn ngữ trong tác phẩm văn học.

- Phân biệt: Có thể phân biệt hai loại dẫn chứng cơ bản: 

+ Dẫn chứng nội tại là những chi tiết, hình ảnh, câu chữ trực tiếp lấy từ tác phẩm đang được nghị luận. Đây là loại dẫn chứng quan trọng nhất, bắt buộc phải có và cần được phân tích kĩ.

+ Dẫn chứng liên hệ là những ví dụ ngoài tác phẩm như tác phẩm khác, sự kiện đời sống, hay ý kiến của nhà phê bình, được dùng để mở rộng và làm sâu sắc thêm vấn đề.

Quảng cáo

III. Các hình thức nêu dẫn chứng trong bài văn nghị luận văn học

1. Dẫn nguyên văn cả câu, đoạn, văn bản ngắn.

Đây là cách nêu dẫn chứng được sử dụng phổ biến nhất trong các văn bản văn nghị luận đặc biệt trong nghị luận văn học. Khi đưa ra dẫn chứng là một câu thơ, câu văn hay một đoạn, một bài văn ngắn người ta thường dùng cách nêu dẫn chứng này và thường được sử dụng viết thành một đoạn văn riêng. Việc trích dẫn nguyên văn cả câu, đoạn, văn bản ngắn đòi hỏi việc trích dẫn mang tính chính xác cao vì thế người viết phải nắm được, hiểu được và thuộc dẫn chứng. Nếu sử dụng dẫn chứng ở nhiều bài khác nhau người ta phải chú thích dẫn chứng (Dùng ngoặc đơn để ghi tên tác giả, tác phẩm của dẫn chứng).

Ví dụ: Tạo hóa đã ban tặng cho con người một đặc quyền thiêng liêng – đó là sống. Van-gốc đã từng thốt lên rằng: “Đối với tôi không có gì tốt đẹp hơn là cuộc sống”. Dù cho ai nói với bạn điều gì đi chăng nữa, hãy vững tin rằng cuộc sống xung quanh ta chứa đầy hạnh phúc và niềm vui. Xuân Diệu, “thi sĩ mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh), đã hơn một lần khẳng định lối sống “vội vàng” của mình:

Quảng cáo

Mau với chứ, vội vàng lên với chứ,

Em, em ơi, tình non đã già rồi

(Giục giã – Xuân Diệu).

2. Trích từ ngữ tiêu biểu.

Khi làm bài văn nghị luận, đôi khi người viết có thể trích dẫn các từ ngữ tiêu biểu. Lúc ấy các dẫn chứng được kết hợp vào trong lời văn nghị luận của người viết.

Ví dụ: Quê hương Việt Nam qua bức tranh thôn Vĩ Dạ của xứ Huế sao mà xinh xắn thế, mơ mộng và trữ tình đến thế. Bằng những hình ảnh bình dị, thân thương như “nắng hàng cau” trong khu vườn “mướt” “xanh như ngọc”, nhà thơ cho chúng ta thêm yêu và trân trọng xứ Huế. Những “bến sông trăng” với con thuyền “chở trăng” gợi lên chất mộng, chất thơ nhưng cũng rất thực. Đấy chính là tấm lòng của nhà thơ đối với quê hương, với thiên nhiên đất nước. Ta có thể nhận thấy ngay các dẫn chứng trong đoạn văn trên là những từ ngữ tiêu biểu được trích dẫn bằng cách đặt trong ngoặc kép, hòa vào lời văn của người viết như:“nắng hàng cau”, “mướt”, “xanh như ngọc”, “bến sông trăng”, “chở trăng”.

3. Tóm lược nội dung chính.

Đây là cách trích dẫn dẫn chứng theo hình thức gián tiếp và khá phổ biến trong văn nghị luận, người viết chỉ dẫn ý của câu thơ, câu văn, lời nói, tóm lược nội dung câu chuyện… và không cần đặt trong ngoặc kép để đưa vào văn nghị luận.

Ví dụ: Mở đầu tác phẩm, Nam Cao đã đảo lộn thời gian tuyến tính, không đi từ quá khứ mà xuất phát từ tương lai, đẩy ngay Chí Phèo ra giữa sân khấu cuộc đời bằng những tiếng chửi sặc mùi rượu. Ban đầu hắn chửi trời, rồi hắn chửi đời, hắn chửi ngay tất cả làng Vũ Đại. Nhưng không ai đáp lời thằng say rượu. Tức mình, hắn phải chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn, đến cuối cùng hắn đau đớn, hắn nghiến răng vào mà chửi cái đứa đã đẻ ra Chí Phèo.

IV. Chọn lọc và sử dụng dẫn chứng nghị luận văn học hiệu quả

Để sử dụng dẫn chứng hiệu quả trong bài nghị luận văn học, người viết cần tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản theo trình tự logic. Trước hết là chọn lọc dẫn chứng: không phải chi tiết nào trong tác phẩm cũng có giá trị như nhau, vì vậy cần ưu tiên những chi tiết tiêu biểu, giàu ý nghĩa, có khả năng làm nổi bật trực tiếp luận điểm. Việc ghi nhớ có chọn lọc các “chi tiết đắt giá” sẽ giúp bài viết chủ động và chính xác hơn.

Tiếp đó, dẫn chứng phải đảm bảo tính chính xác. Khi trích dẫn cần đúng từ ngữ, đúng nội dung; nếu không nhớ nguyên văn, có thể diễn đạt lại nhưng vẫn phải giữ đúng ý nghĩa cốt lõi. Sự sai lệch trong dẫn chứng sẽ làm giảm độ tin cậy của lập luận.

Bên cạnh đó, việc đưa dẫn chứng cần theo trình tự hợp lí: có lời dẫn để giới thiệu, nêu dẫn chứng ngắn gọn, và quan trọng nhất là phân tích. Dẫn chứng chỉ thực sự có giá trị khi được phân tích rõ ràng nhằm làm sáng tỏ luận điểm; nếu chỉ nêu mà không phân tích, bài viết sẽ trở nên kể lể, thiếu chiều sâu.

Trong quá trình phân tích, cần kết hợp nội dung và nghệ thuật, không chỉ chỉ ra ý nghĩa mà còn làm rõ cách tác giả thể hiện qua hình ảnh, ngôn ngữ hay biện pháp tu từ. Đồng thời, cần sử dụng dẫn chứng với số lượng hợp lí: chọn ít nhưng tiêu biểu và tập trung phân tích sâu để tránh lan man.

Ngoài ra, có thể liên hệ mở rộng ở mức độ vừa phải với tác phẩm khác hoặc đời sống để tăng chiều sâu, nhưng vẫn phải đảm bảo trọng tâm là dẫn chứng từ tác phẩm chính.

Tóm lại, sử dụng dẫn chứng hiệu quả đòi hỏi người viết phải biết chọn đúng, trích đúng, đưa đúng và phân tích sâu. Khi đó, bài văn nghị luận sẽ trở nên chặt chẽ, thuyết phục và có giá trị cao.

Nhận định hay về Thơ ca lớp 9

1. Anđecxen đã lượm lặt những hạt thơ trên luống đất của người dân cày, ấp ủ chúng nơi trái tim ông rồi gieo vào những túp liều, từ đó lớn lên và nở ra những đóa hoa thơ tuyệt đẹp, chúng an ủi trái tim những người cùng khổ. (Pauxtopxki)

2. Nhà thơ như con ong biến trăm hoa thành mật ngọt.

3. Một mật ngọt thành đòi vạn chuyến ong bay. (Chế Lan Viên)

4. Vạt áo của triệu nhà thơ không bọc hết vàng mà đời rơi vãi.

5. Hãy nhặt lấy chữ của đời mà góp nên trang. (Chế Lan Viên)

6. Cuộc sống là cánh đồng màu mở để cho thơ bén rễ sinh sôi. (Puskin)

7. Thơ ca mang đến cho con người những điều kỳ diệu.

8. Người giai nhân: bến đợi dưới cây già . Tình du khách: thuyền qua không buộc chặt. (Xuân Diệu)

10. Thơ ca mang đến cho con người những điều kỳ diệu.

11. Thi ca là một tôn giáo không kì vọng.

12. Thơ là âm nhạc của tâm hồn, nhất là những tâm hồn cao cả, đa cảm. (Voltaire)

13. Thơ là viên kim cương lấp lánh dưới ánh mặt trời. (Sóng Hồng)

14. Thơ là thần hứng. (Platon)

15. Thơ là ngọn lửa thần. (Đecgiavin)

16. Thơ ca là niềm vui cao cả nhất mà loài người đã tạo ra cho mình.(C. Mac)

17. Thơ trước hết là cuộc đời sau đó mới là nghệ thuật. (Bêlinxki)

18. Thơ là cái nhụy của cuộc sống, nên nhà thơ phải đi hút cho được cái nhụy ấy và phấn đấu làm sao cho cuộc đời của mình cũng có nhụy. (Phạm Văn Đồng)

19. Bài thơ anh, anh làm một nửa mà thôi.

20. Còn một nửa để mùa thu làm lấy.

21. Cái xào xạc hồn anh chính là xào xạc lá.

22. Nó không là anh nhưng nó là mùa. (Chế Lan Viên)

23. Đối với nhà thơ thì cách viết, bút pháp của anh ta là một nửa việc làm. Dù bài thơ thể hiện ý tứ độc đáo đến đâu, nó cũng nhất thiết phải đẹp. Không chỉ đơn giản là đẹp mà còn đẹp một cách riêng. Đối với nhà thơ, tìm cho ra bút pháp của mình – nghĩa là trở thành nhà thơ. (Raxun Gamzatop)

24. Thơ chỉ bật ra trong tim khi cuộc sống đã thật tràn đầy. (Tố Hữu)

25. Làm thơ là cân một phần nghìn milligram quặng chữ.(Maiacopxki)

26. Một câu thơ hay là một câu thơ có sức gợi. (Lưu Trọng Lư)

27. Cái kết tinh của mỗi vần thơ và muối bể 28. Muối lắng ở ô nề, thơ đọng ở bể sâu. (Nghĩ về thơ – Chế Lan Viên)

29. Hình thức cũng là vũ khí

30. Sắc đẹp câu thơ cũng phải đấu tranh cho chân lí. (Nghĩ về thơ – Chế Lan Viên) 31. Đời thi sĩ là thơ, như đời một nông dân là lúa.

32. Nhan sắc của viên ngọc ư! Có khi là nhiệm vụ nó đấy rồi. (Sổ tay thơ – Chế Lan Viên)

33. Câu thơ phải luôn bất ổn và xôn xao.

34. Không thể nằm yên mà ngủ được nào. (Chế Lan Viên)

35. “Ta là ai?” Như ngọn gió siêu hình 36. Câu hỏi hư vô thổi nghìn nến tắt.

37. “Ta vì ai?” Khẽ xoay chiều ngọn bất.

38. Bàn tay người thắp lại triệu chồi xanh. (Chế Lan Viên)

39. Thi sĩ là con chim sơn ca ngồi trong bóng tối hát lên những tiếng êm dịu để làm vui cho sự cô độc của chính mình. (B. Shelly)

40. Để trong lòng là chí, ngụ ra ý là thơ. Người có sâu, cạn cho nên thơ mờ có tỏ, rộng hẹp khác nhau. Người làm thơ không ngoài lấy trung hậu làm gốc, ý nghĩa phải hàm súc, lời thơ phải giản dị.(Nguyễn Cư Trinh)

41. Thơ là một bức họa để cảm nhận thay vì để ngắm. (Leonardo DeVinci)

42. Thơ ca làm cho tất cả những gì tốt đẹp nhất trên đời trở thành bất tử. (Shelly)

43. Thơ là rượu của thế gian. (Huy Trực)

44. Trong tâm hồn của con người đều có cái van mà chỉ có thơ ca mới mở được. (Nhêcơraxop)

45. Trên đời có những thứ chỉ giải quyết được bằng thơ.(Maiacopxki)

46. Nhà thơ, ngay cả các nhà thơ vĩ đại nhất cũng phải đồng thời là những nhà tư tưởng. (Bêlinxki)

47. Thơ là chuyện đồng điệu. (Tố Hữu)

48. Thơ là tiếng gọi đàn. (Xuân Diệu)

49. Thơ là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp. (Sóng Hồng)

50. Thơ sinh ra từ tình yêu và lòng căm thù, từ nụ cười trong sáng hay giọt nước mắt đắng cay. (Raxun Gamzatôp) 51. Thơ ca là tiếng hát của trái tim, là nơi dừng chân của tinh thần, do đó không đơn giản mà cũng không thần bí, thiêng liêng… Thơ ca chân chính phải là nguồn thức ăn tinh thần nuôi tâm hồn phát triển, nó không được là thứ thuốc phiện tinh thần êm ái, nhỏ nhen mà độc hại… (LLVH)

52. Tôi thu thập hình tượng như con ong hút mật vậy. Một con ong phải bay một đoạn đường bằng sáu lần xích đạo trong một năm ba tháng và đậu trên bảy triệu bông hoa để làm nên một gam mật.(P. Povienko)

53. Những câu thơ lấp lánh như những tấm huy chương.(Pauxtopxki)

54. Thơ là bà chúa của nghệ thuật. (Xuân Diệu)

55. Thơ là tiếng nói của tri âm. (Tố Hữu)

56. Giọng ca buồn là thích hợp nhất cho thơ. (Etga Pô)

57. Thơ ca phải say mới thích. (Tố Hữu)

58. Từ bao giờ cho đến bây giờ, từ Hômerơ đến kinh thi, đến ca dao Việt Nam, thơ vẫn là một sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại. Nó đã ra đời giữa những vui buồn của loài người và nó sẽ kết bạn với loài người cho đến ngày tận thế. (Hoài Thanh)

59. Thơ chính là tâm hồn. (M. Gorki)

60. Thơ là thơ đồng thời là họa, là nhạc, là chạm khắc theo một cách riêng. (Sóng Hồng)

61. Thơ là tiếng lòng. (Diệp Tiếp)

62. Thơ là thư kí chân thành của trái tim. (Duy bra lay)

63. Thơ hay là thơ giản dị, xúc động và ám ảnh. Để đạt được một lúc ba điều ấy đối với các thi sĩ vẫn còn là điều bí mật. (Trần Đăng Khoa)

64. Thơ là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp. (Sóng Hồng)

65. Bài thơ hay là bài thơ đọc lên không còn thấy câu thơ mà chỉ còn thấy tình người và tôi muốn thơ phải thật là gan ruột của mình.(Tố Hữu)

66. Hãy hát lên khi mỗi mảnh hồn anh là một sợi dây đàn (Platông)

67. Thơ là hiện thực, thơ là cuộc đời, thơ còn là thơ nữa. (Xuân Diệu)

68. Thơ cũng như nhạc có thể trở thành một sức mạnh phi thường khi nó chinh phục được trái tim của quần chúng nhân dân. (Sóng Hồng)

69. Câu thơ hay là câu thơ có khả năng đánh thức bao ấn tượng vốn ngủ quên trong kí ức của con người. (Chu Văn Sơn)

70. Thơ ca bắt rễ từ lòng người, nở hoa từ từ ngữ.

71. Mỗi chữ phải là hạt ngọc buông xuống trang bản thảo. Hạt ngọc mới nhấy của mình tìm được do phong cách riêng của mình mà có. (Tô Hoài)

72. Thơ là tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm hồn con người trước cuộc đời. (Tố Hữu)

73. Thơ là cây đàn muôn điệu của tâm hồn, của nhịp thở con tim. Xưa nay thơ vẫn là cuộc đời, là lương tri, là tiếng gọi con người hãy quay về bản chất thực của mình để vươn lên cái chân, thiện, mỹ, tới tầm cao của khát vọng sống, tới tầm cao của giá trị sống.

74. Thơ là tâm hồn, tình cảm. Nó diễn đạt rất thành công mọi cung bậc tình cảm đa dạng và phong phú của con người: niềm vui, nỗi buồn, sự cô đơn, tâm trạng chán chường, tuyệt vọng, nỗi trăn trở, băn khoăn, sự hồi hợp, phấp phỏng, một nỗi buồn vu vơ. Một nỗi niềm bâng khuâng khó tả, một sự run rẩy thoáng qua, một phút chốc ngẩn ngơ… Có những tâm trạng và cung bậc tình cảm của con người chỉ có thể diễn đạt bằng thơ. Chính vì thế thơ không chỉ nói hộ lòng mình, thơ còn là sự an ủi, vỗ về, động viên khích lệ người ta đứng dậy đi tới.

75. Thơ ca đồng thời song hành với con người chức năng thức tỉnh lương tri đang ngủ. (Eptusencô)

76. Cũng như nụ cười và nước mắt, thực chất của thơ là phản ánh một cái gì đó hoàn thiện từ bên trong. (R.Tagore)

77. Thơ phát khởi trong lòng người ta.(Lê Quý Đôn)

78. Hãy xúc động hồn thơ cho ngọn bút có thần.(Ngô Thì Nhậm)

79. Sáng tác thơ là một việc do cá nhân thi sĩ làm, một thứ sản xuất đặc biệt và cá thể. Anh phải đi sâu vào tâm hồn cá biệt của anh để nói cái to tát của xã hội, cái tốt đẹp của chế độ, để tránh cái khô khan, nhạt nhẽo, anh phải có cá tính, anh phải trau dồi cái độc đáo mà công chúng rất đòi hỏi. Nhưng đồng thời anh phải đấu tranh để cái việc sự sáng tạo ấy không trở thành anh hùng chủ nghĩa. (Xuân Diệu)

80. “Thơ là lửa và sáng tác của nhà thơ là sự cháy lên.” (R. Gamtatov)

81. “Chim ưng bay ngược gió, cá bơi ngược dòng. Nhà thơ làm thơ khi đón nhận những cảm xúc mạnh mẽ, những cảm xúc nhiều khi không phải niềm vui sướng mà là nỗi đau.” (R. Gamtatov)

82. “Thơ là âm nhạc của tâm hồn, nhất là những tâm hồn cao cả, đa cảm.” (Voltaire)

83. Thơ “là sự hiện thân cho những gì thần kín nhất của con người và thiêng liêng nhất của tâm hồn con người, và cho những hình ảnh tươi đẹp nhất, âm thanh huyền diệu nhất trong thiên nhiên.” (Lamactin)

84. “Văn xuôi lôi cuốn người đọc như dòng nước đưa ta đi lần lượt từ điểm này đến điểm khác. Thơ trái lại chỉ chọn một ít điểm chính, bấm vào những điểm ấy thì tất cả động lên theo.” (Nguyễn Đình Thi)

85. “Thơ là bức họa để cảm nhận thay vì để ngắm.” (Leonardo De Vinci)

86. “Nhà thơ không như kì họa dị thảo trồng trong chậu cảnh, đem ra triển lãm một hai tuần. Nhà thơ như cây tùng bách mà sự trưởng thành đồng hởi có nhiều thời gian, qua bao thử thách sương tuyết. Thi ca giống như rượu ngon phải được ủ trong hầm nhiều chục năm thì hương vị mới đắm say mặn mà.” (Trần Đình Sử trích dẫn một nhà thơ Trung Quốc)

87. “Tôi là người đầu tiên làm cho thơ ca rời khỏi núi Parnasse, tôi đã tặng cho cái gọi là nàng thơ không phải cây đàn li–a 7 dây quy ước, mà là những thớ của trái tim con người, bị xúc cảm do những rung động của tâm hồn và của thiên nhiên.” (Lamactin)

88. “Cũng như nụ cười và nước mắt, thực chất của thơ là phản ánh một cái gì đó hoàn thiện từ bên trong.” (R.Tagore)

89. “Thơ là ảnh, là nhân ảnh. Thơ cũng ở loại cụ thể, hữu hình. Nhưng nó khác với cái hữu hình của văn. Cùng mọc lên từ cái đống tài liệu thực tế, nhưng từ một cái hữu hình, nó thức dậy được những vô hình bao la và điệp mãi lên trong ta một tâm hồn sứ điệp.” (Nguyễn Tuân)

90. “Hãy hát lên mỗi khi tâm hồn anh là một sợi dây đàn.” (Platon)

91. “Dầu theo con đường nào, một nhà thơ cũng phải cúc cung tận tụy đem hết tâm trí, dìu mài và lao động chữ, biến ngôn ngữ công cộng thành ngôn ngữ đặc sản độc nhất làm phong phú cho tiếng mẹ như một lão bậc trung thành của ngôn ngữ.” (Lê Đạt)

92. “Thơ là một tiếng nói ly khai chống lại sự lãng phí từ ngữ và sự thừa thãi điên rồ của chữ in.” (Laurena Folinghetti)

93. “Những chữ xơ xác nhất mà chúng ta đã nói đến cạn cùng, mất sạch tính chất hình tượng đối với mỗi chúng ta, những chữ ấy trong thơ ca lại lấp lánh, lại kêu giòn và tỏa hương.” (Paustovsky)

94. “Đừng lo đi tìm ngôn ngữ. Cảm xúc sẽ tự chọn ngôn ngữ của mình.” (Xuân Quỳnh)

95. “Nếu tự anh phải dằn vặt khổ sở để làm được một bài thơ thì anh sẽ cảm thấy quyện từng chữ, từng dấu phẩy trong đó.” (R. Gamtatov)

96. “Thơ là cái đó: sự im lặng giữa các từ. Nếu người ta lắng nghe cái im lặng đó, thì có những tiêng dội rất đa dạng và tinh tế.” (Tố Hữu)

97. “Thơ có chỗ khả giải, bất khả giải, bất tất giải, giống như hoa dưới nước, trăng trong gương, không cần câu nệ tới dấu tích.” (Tạ Trân)

98. “Chữ trong thơ và văn xuôi tuy giống nhau về hình thức nhưng khác nhau về giá trị.” (Valery)

99. “Thi nghi đạm bất nghi nồng, nhiên tất tu nồng hậu chi đạm.” (Thơ thích đạm hơn thích nồng, nhưng phải là sự đạm sau khi đã nồng) (Viên Mai)

100. “Cái cảm hoá được lòng người chẳng gì trọng yếu bằng tình cảm, chẳng gì đi trước được ngôn ngữ, chẳng gì gần gũi bằng âm thanh, chẳng gì sâu sắc bằng ý nghĩa. Với thơ, gốc là tình cảm, mầm lá là ngôn ngữ, hoa là âm thanh, quả là ý nghĩa”. (Bạch Cư Dị)

Xem thêm các Dẫn chứng Nghị luận văn học hay, chọn lọc khác:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.


Giải bài tập lớp 12 sách mới các môn học