80+ Nhận định hay về văn chương lớp 9 (siêu hay)
Tổng hợp Dẫn chứng nghị luận văn học Nhận định hay về văn chương lớp 9 hay nhất giúp học sinh có thêm dẫn chứng để viết bài văn NLVH hay hơn. Mời các bạn đón đọc:
- 171+ Dẫn chứng nghị luận văn học cho mọi đề
- 94+ Dẫn chứng nghị luận văn học về thơ
- 103+ Dẫn chứng nghị luận văn học về truyện
- 150+ Dẫn chứng nghị luận văn học tiêu biểu
- 313+ Dẫn chứng nghị luận văn học lớp 9
- 315+ Dẫn chứng nghị luận văn học lớp 12
- 66+ Dẫn chứng nghị luận văn học về tuổi trẻ
- 183+ Dẫn chứng nghị luận văn học cho học sinh giỏi
80+ Nhận định hay về văn chương lớp 9 (siêu hay)
I. Khái niệm dẫn chứng trong văn bản nghị luận
- Dẫn chứng là những sự kiện, số liệu, hiện tượng, ví dụ cụ thể được đưa vào bài viết nhằm làm sáng tỏ và tăng sức thuyết phục cho luận điểm.
- Nói cách khác, dẫn chứng chính là “bằng chứng thực tế” giúp người viết chứng minh rằng ý kiến của mình không chỉ là nhận định chủ quan mà có cơ sở xác đáng, cụ thể, khách quan.
- Vai trò của dẫn chứng:
+ Cụ thể hóa luận điểm (tránh nói chung chung, mơ hồ)
+ Tăng độ tin cậy và sức thuyết phục
+ Làm cho bài viết sinh động, giàu tính thực tiễn
II. Khái niệm dẫn chứng nghị luận văn học
- Dẫn chứng trong nghị luận văn học là những chi tiết, hình ảnh, câu văn, đoạn thơ, ngoại hình và tâm lí nhân vật, tình huống… được trích từ tác phẩm văn học để phân tích, chứng minh cho nhận định về nội dung hoặc nghệ thuật của tác phẩm.
- Đặc điểm:
+ Xuất phát từ tác phẩm văn học cụ thể
+ Gắn với phân tích (không chỉ kể lại)
+ Phải chọn lọc tiêu biểu, chính xác và có giá trị làm sáng tỏ vấn đề nghị luận
- Ví dụ:
+ Khi phân tích nhân vật, dẫn chứng có thể là hành động, lời nói, tâm lí của nhân vật trong tác phẩm văn học.
+ Khi phân tích nghệ thuật, dẫn chứng có thể là hình ảnh, biện pháp tu từ, ngôn ngữ trong tác phẩm văn học.
- Phân biệt: Có thể phân biệt hai loại dẫn chứng cơ bản:
+ Dẫn chứng nội tại là những chi tiết, hình ảnh, câu chữ trực tiếp lấy từ tác phẩm đang được nghị luận. Đây là loại dẫn chứng quan trọng nhất, bắt buộc phải có và cần được phân tích kĩ.
+ Dẫn chứng liên hệ là những ví dụ ngoài tác phẩm như tác phẩm khác, sự kiện đời sống, hay ý kiến của nhà phê bình, được dùng để mở rộng và làm sâu sắc thêm vấn đề.
III. Các hình thức nêu dẫn chứng trong bài văn nghị luận văn học
1. Dẫn nguyên văn cả câu, đoạn, văn bản ngắn.
Đây là cách nêu dẫn chứng được sử dụng phổ biến nhất trong các văn bản văn nghị luận đặc biệt trong nghị luận văn học. Khi đưa ra dẫn chứng là một câu thơ, câu văn hay một đoạn, một bài văn ngắn người ta thường dùng cách nêu dẫn chứng này và thường được sử dụng viết thành một đoạn văn riêng. Việc trích dẫn nguyên văn cả câu, đoạn, văn bản ngắn đòi hỏi việc trích dẫn mang tính chính xác cao vì thế người viết phải nắm được, hiểu được và thuộc dẫn chứng. Nếu sử dụng dẫn chứng ở nhiều bài khác nhau người ta phải chú thích dẫn chứng (Dùng ngoặc đơn để ghi tên tác giả, tác phẩm của dẫn chứng).
Ví dụ: Tạo hóa đã ban tặng cho con người một đặc quyền thiêng liêng – đó là sống. Van-gốc đã từng thốt lên rằng: “Đối với tôi không có gì tốt đẹp hơn là cuộc sống”. Dù cho ai nói với bạn điều gì đi chăng nữa, hãy vững tin rằng cuộc sống xung quanh ta chứa đầy hạnh phúc và niềm vui. Xuân Diệu, “thi sĩ mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh), đã hơn một lần khẳng định lối sống “vội vàng” của mình:
Mau với chứ, vội vàng lên với chứ,
Em, em ơi, tình non đã già rồi
(Giục giã – Xuân Diệu).
2. Trích từ ngữ tiêu biểu.
Khi làm bài văn nghị luận, đôi khi người viết có thể trích dẫn các từ ngữ tiêu biểu. Lúc ấy các dẫn chứng được kết hợp vào trong lời văn nghị luận của người viết.
Ví dụ: Quê hương Việt Nam qua bức tranh thôn Vĩ Dạ của xứ Huế sao mà xinh xắn thế, mơ mộng và trữ tình đến thế. Bằng những hình ảnh bình dị, thân thương như “nắng hàng cau” trong khu vườn “mướt” “xanh như ngọc”, nhà thơ cho chúng ta thêm yêu và trân trọng xứ Huế. Những “bến sông trăng” với con thuyền “chở trăng” gợi lên chất mộng, chất thơ nhưng cũng rất thực. Đấy chính là tấm lòng của nhà thơ đối với quê hương, với thiên nhiên đất nước. Ta có thể nhận thấy ngay các dẫn chứng trong đoạn văn trên là những từ ngữ tiêu biểu được trích dẫn bằng cách đặt trong ngoặc kép, hòa vào lời văn của người viết như:“nắng hàng cau”, “mướt”, “xanh như ngọc”, “bến sông trăng”, “chở trăng”.
3. Tóm lược nội dung chính.
Đây là cách trích dẫn dẫn chứng theo hình thức gián tiếp và khá phổ biến trong văn nghị luận, người viết chỉ dẫn ý của câu thơ, câu văn, lời nói, tóm lược nội dung câu chuyện… và không cần đặt trong ngoặc kép để đưa vào văn nghị luận.
Ví dụ: Mở đầu tác phẩm, Nam Cao đã đảo lộn thời gian tuyến tính, không đi từ quá khứ mà xuất phát từ tương lai, đẩy ngay Chí Phèo ra giữa sân khấu cuộc đời bằng những tiếng chửi sặc mùi rượu. Ban đầu hắn chửi trời, rồi hắn chửi đời, hắn chửi ngay tất cả làng Vũ Đại. Nhưng không ai đáp lời thằng say rượu. Tức mình, hắn phải chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn, đến cuối cùng hắn đau đớn, hắn nghiến răng vào mà chửi cái đứa đã đẻ ra Chí Phèo.
IV. Chọn lọc và sử dụng dẫn chứng nghị luận văn học hiệu quả
Để sử dụng dẫn chứng hiệu quả trong bài nghị luận văn học, người viết cần tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản theo trình tự logic. Trước hết là chọn lọc dẫn chứng: không phải chi tiết nào trong tác phẩm cũng có giá trị như nhau, vì vậy cần ưu tiên những chi tiết tiêu biểu, giàu ý nghĩa, có khả năng làm nổi bật trực tiếp luận điểm. Việc ghi nhớ có chọn lọc các “chi tiết đắt giá” sẽ giúp bài viết chủ động và chính xác hơn.
Tiếp đó, dẫn chứng phải đảm bảo tính chính xác. Khi trích dẫn cần đúng từ ngữ, đúng nội dung; nếu không nhớ nguyên văn, có thể diễn đạt lại nhưng vẫn phải giữ đúng ý nghĩa cốt lõi. Sự sai lệch trong dẫn chứng sẽ làm giảm độ tin cậy của lập luận.
Bên cạnh đó, việc đưa dẫn chứng cần theo trình tự hợp lí: có lời dẫn để giới thiệu, nêu dẫn chứng ngắn gọn, và quan trọng nhất là phân tích. Dẫn chứng chỉ thực sự có giá trị khi được phân tích rõ ràng nhằm làm sáng tỏ luận điểm; nếu chỉ nêu mà không phân tích, bài viết sẽ trở nên kể lể, thiếu chiều sâu.
Trong quá trình phân tích, cần kết hợp nội dung và nghệ thuật, không chỉ chỉ ra ý nghĩa mà còn làm rõ cách tác giả thể hiện qua hình ảnh, ngôn ngữ hay biện pháp tu từ. Đồng thời, cần sử dụng dẫn chứng với số lượng hợp lí: chọn ít nhưng tiêu biểu và tập trung phân tích sâu để tránh lan man.
Ngoài ra, có thể liên hệ mở rộng ở mức độ vừa phải với tác phẩm khác hoặc đời sống để tăng chiều sâu, nhưng vẫn phải đảm bảo trọng tâm là dẫn chứng từ tác phẩm chính.
Tóm lại, sử dụng dẫn chứng hiệu quả đòi hỏi người viết phải biết chọn đúng, trích đúng, đưa đúng và phân tích sâu. Khi đó, bài văn nghị luận sẽ trở nên chặt chẽ, thuyết phục và có giá trị cao.
Nhận định hay về văn chương lớp 9
1. “Tầm văn hóa càng sâu rộng, tác phẩm của nhà văn càng đạt được tới gần hơn nỗi niềm và tiếng lòng của nhân dân thời đại mình”. (Bảo Ninh)
2. “Người làm xiếc đi dây rất khó
Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn
Đi trọn trên con đường chân thật.”
(Phùng Quán)
3. “Văn học và đời sống là những vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người.” (Nguyễn Minh Châu)
4. “Anh ta lấy tất cả những lo âu, suy tư, hạnh phúc, khổ đau một đời làm củi
Có khi nhen nhóm cả một đời mới thiêu được một mồi Ngồi lên chất liệu đời mình Rót vào đấy xăng của thời đại
Rồi lấy mình ra làm lửa châm vào Bài thơ rực cháy.
(Chế Lan Viên)
5. “Văn học là nhân học.” (Macxim Gorki)
6. “Lấy con ngươi làm đối tương miêu tả chủ yếu, văn học có đươc một điểm tựa để nhı̀n ra toàn thế giới.” (Cac Mac)
7. “Mọi lý thuyết chỉ là màu xám, chỉ cây đời mãi mãi xanh tươi.”
8. “Văn chương có loại đáng thờ và không đáng thờ. Loại không đáng thờ là loại chuyên chú ở văn chương. Loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người.” (Nguyễn Văn Siêu)
9. “Cái kết tinh của mỗi vần thơ và muối bể/Muối lắng ở ô nề và thơ đọng ở bề sâu.” (Chế Lan Viên)
10. “Văn chương như một mạng nhện có thể kết nối hơi lỏng lẻo nhưng vẫn luôn kết nối với cuộc sống từ bốn góc.” (Virginia Woolf)
11. “Bất cứ thi sĩ vĩ đại nào, sở dĩ họ vĩ đại bởi vì những đau khổ và hạnh phúc của họ bắt nguồn từ khoảng sâu thẳm của lịch sử xã hội, bởi vì họ là khí quan và đại biểu của xã hội, của thời đại và của nhân loại. (Belinxki)”
12. “Thơ chỉ bật ra khi cuộc sống đã tràn đầy”. (Tố Hữu)
13. “Nhà văn là người thư kí trung thành của thời đại.” (Balzac)
14. “Nghệ thuật phải bắt nguồn từ đời sống, thoát li đời sống nghệ thuật nhất định sẽ khô héo.” (Phạm Văn Đồng)
15. “Văn học là tiếng nói của các thời đại, là cuộc đối thoại chứa chan tình nghĩa.” (Nguyễn Khánh Toàn Tài)
16. “Vạt áo triệu nhà thơ không bọc hết vàng mà đời rơi vãi/ Hãy nhặt lấy chữ ở đời mà góp nên trang.” (Chế Lan Viên)
17. “Gieo vần như thể gieo hạt Nhịp sống làm nên những nhịp thơ.” (Huy Cận)
18. “Không có sách chúng tôi làm ra sách Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình.” (Hữu Thỉnh)
19. “Chỉ có cuộc đời rộng rãi, chỉ có trường đời vô thường định mới dạy cho người ta viết được những câu đẹp đẽ.” (Nguyễn Tuân)
20. “Với tư cách là văn nghệ sĩ, ta hãy vui lên vì ta đã bị dứt khỏi giấc ngủ mê và khỏi sự đui điếc, bị bắt buộc phải đứng trước sự thống khổ, những trại giam và máu. (Albert Camus)
21. “Bể khổ của nhân loại là nguồn khai thác không bao giờ vơi cạn của đời tôi.” (Victor Hugo)
22. “Nghệ thuật chỉ đạt đến đỉnh cao của nó khi được chắt lọc từ những nỗi đau đích thực của cuộc đời.” (Lê Huy Bắc)
23. “Không có câu chuyện cổ tích nào đẹp hơn câu chuyện cổ tích do chính cuộc sống viết ra.” (Andecxen)
24. “Nghệ sĩ là người biết khai thác những ấn tượng riêng chủ quan của mình, tìm thấy những ấn tượng có giá trị khái quát và làm cho những ấn tượng ấy có được hình thức riêng.”
25. “Nhà văn là một danh hiệu lạ lùng, vừa hữu ích lại vừa phù phiếm. Nó không phải danh hiệu anh ta tự đứng ra xưng danh được, mà là một danh hiệu do độc giả đặt tên” (Nguyễn Huy Thiệp)
26. “Nghệ thuật bao giờ cũng là tiếng nói của tình cảm con người, là sự tự giãi bày và gửi gắm tâm tư.” (Lê Ngọc Trà)
27. “Văn học thế giới đã có trọn vẹn hai trăm năm huy hoàng của thế kỷ XIX và XX, lịch sử nhân loại đã không phụ văn học. Việc những nhà văn còn sót lại nên làm, chính là diễn xuất một cách hết sức vẻ vang vai diễn phụ của mình. Nhưng chúng ta cũng chớ quên diễn viên chính vẫn là diễn viên chính, diễn viên phụ vẫn phải diễn vai phụ mà lịch sử đã phân công. Chấp nhận sự bên lề của văn học chẳng phải một việc tồi tệ.” (Diêm Liên Khoa)
28. “Văn học là thế giới hoang tưởng, ảo tưởng, hão huyền trong cuộc đời thực tẻ nhạt, dung tục, của cảm xúc (Khuyết danh)
29. “Những chữ xơ xác nhất mà chúng ta đã nói đến cạn cùng, mất sạch tính hình tượng đối với chúng ta, những chữ ấy trong thơ ca lại lấp lánh, lại kêu giòn và tỏa hương”. (Pautopsky)
30. “Nhân giả trí nhân” (Người có lòng nhân luôn thương con người) (Khổng Tử)
31. “Tác phẩm văn học là sự cưới xin giữa ngoại vật và nội tâm nhà văn” (Xuân Diệu)
32. “Nghệ thuật không tái tạo những gì ta thấy đúng hơn là nó mở mắt cho ta” (Picasso)
33. “Khi văn xuôi đã đạt tới mức toàn Thiện Toàn Mỹ thì về bản chất nó đã thực là thơ” (Paustovsky)
34. “Mặt trời chói lọi của chí tưởng tượng chỉ có thể cháym sáng khi được cọ xát với mặt đất. Nó không thể cháy trong khoảng trống rỗng. Trong khoảng trống rỗng nó sẽ tắt” (Paustovsky)
35. “Trong bụng không có ba vạn quyển sách, trong mắt không có núi sông kỳ lạ thì không thể làm văn được.” (Lê Quý Đôn)
36. “Thơ không cần nhiều từ ngữ. Nó cũng không quan tâm đến hình xác của sự sống. Nó chỉ cần cảm nhận và truyền đi 1 chút linh hồn cùa cảnh vật thông qua linh hồn thi sĩ” (Nguyễn Đăng Mạnh)
37. “Thơ là tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm hồn con người trước cuộc đời” (Tố Hữu)
38. “Cái bóng của độc giả luôn luôn cúi xuống sau lưng nhà văn, ngay khi mà nhà văn ngồi trước trang giấy trắng.” (Aimatov)
39. “Bài thơ là sợi dậy truyền tình cảm cho người đọc” (Nguyễn Đình Thi)
40. “Cuộc sống là cánh đồng màu mở để cho thơ bén rễ sinh sôi” (Puskin)
41. “Câu thơ phải luôn bất ổn và xôn xao – Không thể nằm yên mà ngủ được nào” (Chế Lan Viên)
42. Sáng tác thơ là một việc do cá nhân thi sĩ làm, một thứ sản xuất đặc biệt và cá thể” (Xuân Diệu)
43. “Câu thơ hay là câu thơ có khả năng đánh thức bao ấn tượng vốn ngủ quên trong kí ức của con người” (Chu Văn Sơn)
44. “Khi tác phầm kết thúc, ấy là sự sống của nó mới thực sự bắt đầu” (Aimatov)
45. “Thơ là hiện thực, thơ là cuộc đời, thơ còn là thơ nữa” (Xuân Diệu)
46. “Đụng chạm với cuộc sống hằng ngày tâm trạng nảy lên bao nhiêu hình ảnh như lúc búa đập vào sắt trên đe. Người làm thơ lượm lặt những tia sáng ấy, kết thành một bó sáng. Đó là hình ảnh thơ” (Nguyễn Đình Thi)
47. “Văn chương sẽ là hình dung của sự sống muôn hình vạn trạng” (Hoài Thanh)
48. “Nhà văn là người đi tìm, gắng đi tìm những hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người” (Nguyễn Minh Châu)
49.“Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết. Tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi muốn tiểu thuyết là thực sự ở đời.” (Vũ Trọng Phụng)
50. “Người sáng tác là nhà văn và người tạo nên số phận cho tác phẩm là độc giả.” (M. Go-rơ-ki)
51. “Trước hết là các nghệ sĩ lớn, sau đó mới đến các nhà khoa học, họ xứng đáng hơn ai hết được hưởng sự kính trọng của con người.” (Einstein)
52. “Những gì tôi viết ra là những gì thương yêu nhất của tôi, những ước mong nhức nhối của tôi.” (Nguyên Hồng)
53. “Mỗi tác phẩm đều có ít nhiều nhà văn.” (Thạch Lam)
54. “Nghệ thuật đó là sự mô phỏng tự nhiên.” (Pu-skin)
55. “Đau đớn thay cho những kiếp sống muốn cất cánh bay cao nhưng lại bị cơm áo ghì sát đất…” (Sống mòn, Nam Cao)
56. “Điều quan trọng hơn hết trong sự nghiệp của những nhà văn vĩ đại ấy lại là cuộc sống, trường đại học chân chính của thiên tài. Họ đã biết đời sống xã hội của thời đại, đã cảm thấy sâu sắc mọi nỗi đau đớn của con người trong thời đại, đã rung động tận đáy tâm hồn với những nỗi lo âu, bực bội, tủi hổ và những ước mong tha thiết nhất của loài người. Đó chính là cái hơi thở, cái sức sống của những tác phẩm vĩ đại.” (Đặng Thai Mai)
57. “Người làm văn nhờ xúc cảm dồi dào, mà viết thành văn, thì người đọc cũng phải biết rẽ văn mà thâm nhập vào tình cảm” (Lưu Hiệp)
58. “Có lẽ không ai phủ nhận rằng chúng ta viết là để được đọc. Một tác phẩm dường như lúc nào cũng chờ được đọc tới. Nó là lời kêu gọi gửi gắm tới mọi người như nỗi dở dang đang chờ để hoàn thành, như lỗ hổng đang chờ được lấp đầy”. (Huỳnh Phan Anh)
59. “Tác phẩm chân chính không kết thúc ở trang cuối cùng, không bao giờ hết khả năng kể chuyện. Khi câu chuyện về các nhân vật khác, tác phẩm nhập vào tâm hồn và ý thức bạn đọc, tiếp tục sống và hành động như một lực lượng nội tâm, như sự dằn vặt và ánh sáng của lương tâm không báo giờ tan tụ như thi ca của sự thật.” (Aimatop)
60. “Tác phẩm thực ra chỉ được tạo thành bởi những kí hiệu câm lặng, những ngôn ngữ chết, cho nên bản thân nó chưa có giá trị gì, nếu có cũng chỉ là đôi chút. Cái quan trọng là vai trò của người đọc. Chính bạn đọc sẽ tạo nên giá trị cho tác phẩm.” (Mosac)
61. “Cái bóng của độc giả đang cúi xuống sau lưng nhà văn khi nhà văn ngồi trước tờ giấy trắng. Nó có mặt ngay cả khi nhà văn không muốn thừa nhận sự có mặt đó. Chính độc giả đã ghi lên trên tờ giấy trắng cái dấu hiệu không thể tấy xóa được của mình”. (I.Laltich)
62. “Văn học là tiếng nói của các thời đại, là cuộc đối thoại chan chứa nghĩa tình giữa người với người”. (Nguyễn Khánh Toàn)
63. “Tiếp nhận văn học là quá trình người đọc hòa mình vào tác phẩm, rung động với nó, đắm chìm trong thế giới nghệ thuật được dựng lên bằng ngôn ngữ, lắng nghe tiếng nói của tác giả, thưởng thức cái hay, cái đẹp, tài nghệ của người nghệ sĩ sáng tạo. (SGK Ngữ Văn 12)
64. “Tác phẩm văn học giống như một con quay kì lạ, chỉ có thể xuất hiện trong vận động. Muốn làm cho nó xuất hiện cần phải có một hoạt động cụ thể được gọi là sự đọc. Và tác phẩm văn học có thể kéo dài chừng nào khi sự đọc còn có thể tiếp tục. Ngoài sự đọc ra nó chỉ còn là những vệt đen trên giấy trắng.” (J.Paul Sartre)
65. “Có lẽ việc đặt tên cho một tác phẩm cũng cần sự chân thành không kém gì đặt tên cho một con người. […] Từng chữ được tác giả lấy tâm hồn và nước mắt làm mực, tận tụy viết ra trang viết giấy trắng với ao ước chạm đến trái tim người đọc.”
(Ki Ju Lee, trích Phẩm cách của văn chương)
66. “Tác phẩm văn học bắt đầu từ cái tên.”
(Pushkin)
67. “Nhan đề là một lời hứa với người đọc.”
(Umberto Eco)
68. “Một nhan đề hay là một nửa thành công của tác phẩm.”
(Khuyết danh)
69. “Ngòi bút có uy lực hơn cả lưỡi gươm.”
(Edward Bulwer Lytton)
70. “Cuối cùng văn chương cũng chính là nghề mộc. Anh đều làm việc với hiện thực, một vật liệu cũng cứng như gỗ.”
(Gabriel Garcia Marquez)
71. “Quy luật tổng quát, bao trùm của văn học là “tương ứng với cuộc sống, với thời đại, là độc đáo, là không lặp lại.”
(Nguyễn Văn Hạnh & Huỳnh Như Phương)
72. “Sống trong văn học, sống trong cuộc đời.”
(Nguyễn Tuân)
73. “Nghệ thuật là biết tước bỏ và tập trung.”
(L.Tolstoy)
74. “Nếu như cảm hứng nhân vản nghiêng về đồng cảm với những khát vọng rất người của con người, cảm hứng nhân văn thiên về ngợi ca vẻ đẹp của con người thì cảm hứng nhân đạo là cảm hứng bao trùm.”
(Hoài Thanh)
75. “Có thể xem quá trình sáng tạo là quá trình luyện ngọc. Tác phẩm được hình thành, hình tượng được tạo ra lung linh ánh sáng của ngọc quý. Nhưng nếu tinh ý, ta có thể nhìn thấy máu, thấy nước mắt, thấy niềm vui và nỗi buồn của người thợ kỳ tài.”
76. “Mọi lí thuyết đều là màu xám, chỉ cây đời mãi mãi xanh tươi.”
(Goethe)
77. “Văn chương có đủ sức để sửa sang cuộc đời mới đáng lưu truyền ở đời.”
(Ngô Thế Vinh)
78. “Văn học là tấm gương lớn di chuyển dọc theo đường đời.”
(Stendhal)
79. “Một tác phẩm nghệ thuật là kết quả của tình yêu.”
(L.Tolstoy)
80. “Tôi tin văn chương không chỉ đem lại mỹ cảm, mà đó còn là một phương tiện tuyệt vời để khám phá một vùng đất thấu hiểu một quốc gia và cảm mến một dân tộc.”
(Nguyễn Nhật Ánh)
Xem thêm các Dẫn chứng Nghị luận văn học hay, chọn lọc khác:
- Dẫn chứng nghị luận văn học Nhận định hay về người sáng tác lớp 9
- Dẫn chứng nghị luận văn học Nhận định hay theo thể loại lớp 9
Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.
Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.
- Giải Tiếng Anh 12 Global Success
- Giải sgk Tiếng Anh 12 Smart World
- Giải sgk Tiếng Anh 12 Friends Global
- Lớp 12 Kết nối tri thức
- Soạn văn 12 (hay nhất) - KNTT
- Soạn văn 12 (ngắn nhất) - KNTT
- Giải sgk Toán 12 - KNTT
- Giải sgk Vật Lí 12 - KNTT
- Giải sgk Hóa học 12 - KNTT
- Giải sgk Sinh học 12 - KNTT
- Giải sgk Lịch Sử 12 - KNTT
- Giải sgk Địa Lí 12 - KNTT
- Giải sgk Giáo dục KTPL 12 - KNTT
- Giải sgk Tin học 12 - KNTT
- Giải sgk Công nghệ 12 - KNTT
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 12 - KNTT
- Giải sgk Giáo dục quốc phòng 12 - KNTT
- Giải sgk Âm nhạc 12 - KNTT
- Giải sgk Mĩ thuật 12 - KNTT
- Lớp 12 Chân trời sáng tạo
- Soạn văn 12 (hay nhất) - CTST
- Soạn văn 12 (ngắn nhất) - CTST
- Giải sgk Toán 12 - CTST
- Giải sgk Vật Lí 12 - CTST
- Giải sgk Hóa học 12 - CTST
- Giải sgk Sinh học 12 - CTST
- Giải sgk Lịch Sử 12 - CTST
- Giải sgk Địa Lí 12 - CTST
- Giải sgk Giáo dục KTPL 12 - CTST
- Giải sgk Tin học 12 - CTST
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 12 - CTST
- Giải sgk Âm nhạc 12 - CTST
- Lớp 12 Cánh diều
- Soạn văn 12 Cánh diều (hay nhất)
- Soạn văn 12 Cánh diều (ngắn nhất)
- Giải sgk Toán 12 Cánh diều
- Giải sgk Vật Lí 12 - Cánh diều
- Giải sgk Hóa học 12 - Cánh diều
- Giải sgk Sinh học 12 - Cánh diều
- Giải sgk Lịch Sử 12 - Cánh diều
- Giải sgk Địa Lí 12 - Cánh diều
- Giải sgk Giáo dục KTPL 12 - Cánh diều
- Giải sgk Tin học 12 - Cánh diều
- Giải sgk Công nghệ 12 - Cánh diều
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 12 - Cánh diều
- Giải sgk Giáo dục quốc phòng 12 - Cánh diều
- Giải sgk Âm nhạc 12 - Cánh diều


Giải bài tập SGK & SBT
Tài liệu giáo viên
Sách
Khóa học
Thi online
Hỏi đáp

