Câu hỏi (Trang 65 sgk Ngữ văn 12 Tập 2): Bạn biết gì về lịch sử, văn hóa của các dân tộc bản địa ở Nam Mỹ? Chia sẻ với các bạn trong lớp những hiểu biết của bạn.
Trả lời
- Lịch sử:
+ Nam Mỹ có nhiều nền văn minh đa dạng, ví dụ như Inca, Maya.
+ Bắt đầu có sự xâm lăng của Châu Âu vào thế kỉ 16 => văn hóa bản địa cũng bị đồng hóa.
+ Gần đây, bản địa đã bắt đầu có sự phục hưng mạnh mẽ.
- Văn hóa:
+ Đa dạng về ngôn ngữ: hơn 600 ngôn ngữ bản địa
+ Đa số người dân theo đạo Thiên Chúa
+ Âm nhạc và nghệ thuật cũng đa dạng, phong phú.
- Các dân tộc bản địa ở Nam Mỹ có lịch sử lâu đời, tiêu biểu là nền văn minh Inca nổi tiếng với kiến trúc và văn hóa phát triển.
- Họ có nhiều nét văn hóa đặc sắc như lễ hội truyền thống, âm nhạc, trang phục thổ cẩm và tín ngưỡng gắn với thiên nhiên.
- Công trình nổi tiếng của người Inca là Machu Picchu ở Peru.
- Ngày nay, nhiều quốc gia Nam Mỹ đang cố gắng bảo tồn văn hóa và bản sắc của các dân tộc bản địa.
Quảng cáo
* Đọc văn bản
Gợi ý trả lời câu hỏi trong bài đọc
1. Tóm tắt ý chính của đoạn văn
Trả lời
- Bối cảnh tác giả gặp người Giê
- Hoàn cảnh lịch sử của người nơi đây
- Số phận của người Giê vào thế kỉ XX
- Kể về nỗ lực đồng hóa người Giê
- Chính phủ Bra-xin thay đổi phương pháp, để mặc người Giê tự kiếm sống.
Đoạn văn giới thiệu quá trình tác giả tiếp xúc với người bản địa ở vùng nam Bra-xin và khái quát lịch sử tồn tại của họ. Tác giả cho biết người Giê đã từng bị xua đuổi, thu hẹp nơi sinh sống và chịu nhiều tác động từ quá trình xâm lấn của người da trắng. Đồng thời, đoạn văn cũng phản ánh những chính sách “văn minh hóa” thất bại của chính quyền đối với người bản địa.
2. Tìm các chi tiết, cách diễn đạt thể hiện thái độ, quan điểm của tác giả.
Trả lời
Quảng cáo
- Ban đầu thì thể hiện sự thất vọng: "người Anh điêng ở Ti-ba-gi… “người hoang dã".
- Sau đó có những nhận thức mới về người nơi đây:
+ "lột sạch đi khỏi cái… kinh nghiệm sau này của mình”
+ "họ cho tôi một bài học về sự thận trọng và tính khách quan"
- Nhận ra những quan niệm về người Anh điêng:
+ "minh họa đầy đủ cái tình thế xã hội học có xu hướng trở thành độc quyền cho nhà quan sát nửa sau thế kỉ XX"
+ "từ "những người nguyên thuỷ"... thì người ta không còn quan tâm đến nữa"
- Khẳng định giá trị văn hóa của người Anh điêng
- Tác giả dùng những cách diễn đạt như “áp đặt nền văn minh một cách thô bạo”, “không hề đặt tôi vào một trường học kém giá trị” để bộc lộ thái độ phê phán sự xâm lấn của văn minh phương Tây đối với người bản địa.
- Các chi tiết cho thấy tác giả tôn trọng và đánh giá cao giá trị văn hóa của người Anh điêng. Tác giả cũng thể hiện quan điểm khách quan, nhân văn khi nhìn nhận văn hóa bản địa như một nền văn hóa độc đáo và đáng được nghiên cứu, bảo tồn.
3. Bạn hiểu thế nào là cuộc đổi ngôi kì lạ phá vỡ thế cân bằng phù phiếm giữa văn hóa hiện đại và văn hóa nguyên thủy?
Trả lời
Quảng cáo
- Hiện tượng đổi ngôi kỳ lạ:
+ Sự hiện diện của người da trắng (châu Âu) và việc họ xâm lăng vào lãnh thổ của người da đỏ.
+ Sự cai trị của người da trắng và việc họ ép buộc văn hóa và cách sống của mình lên người da đỏ.
- Thế cân bằng tạm thời:
+ Trạng thái không ổn định giữa văn hóa hiện đại (của người da trắng) và văn hóa truyền thống (của người da đỏ).
+ "Phù phiếm" phản ánh sự không ổn định và dễ bị đe dọa của trạng thái này.
- Sự phá vỡ thế cân bằng:
+ Sự xâm lăng và áp đặt văn hóa của người da trắng đã làm tan vỡ sự cân bằng ban đầu.
+ Văn hóa truyền thống của người da đỏ đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng và đứng trước nguy cơ biến mất.
- Theo em, “cuộc đối ngộ kì lạ” là sự tiếp xúc giữa văn hóa hiện đại và văn hóa nguyên thủy của người bản địa.
- Cuộc gặp gỡ ấy làm thay đổi quan niệm cho rằng văn hóa hiện đại luôn vượt trội hoàn toàn so với văn hóa nguyên thủy.
- Qua đó, tác giả muốn khẳng định rằng văn hóa nguyên thủy cũng chứa đựng nhiều giá trị độc đáo, gần gũi với tự nhiên và đáng được trân trọng.
4. Chú ý đến thái độ, hành xử của người Anh điêng với những thứ được coi là sản phẩm của văn minh, tiến bộ.
Trả lời
- Thái độ tò mò, thích thú của những người Anh điêng
- Ngoài ra còn băn khoăn, e dè và trăn trở gì đó.
- Người Anh điêng không hoàn toàn phụ thuộc vào các sản phẩm của nền văn minh hiện đại mà vẫn giữ nhiều tập quán và công cụ truyền thống của mình.
- Họ tiếp nhận có chọn lọc những vật dụng hiện đại như dao, rìu hay súng nhưng vẫn duy trì lối sống gắn bó với thiên nhiên.
- Điều đó cho thấy người Anh điêng có ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa và không dễ dàng đánh mất truyền thống của dân tộc mình.
* Sau khi đọc:
Nội dung chính: "Pa-ra-na" mang đến cho chúng ta một số thông tin về số phận của người bản địa trong lịch sử. Mặc dù thông tin vẫn còn hạn chế và mang tính chủ quan, nhưng đoạn văn vẫn có giá trị tư liệu nhất định. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này và có được một cái nhìn toàn diện và khách quan hơn, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu và tìm hiểu thêm.
Gợi ý trả lời câu hỏi sau khi đọc
Câu 1 (trang 68 sgk Ngữ văn 12 Tập 2): Văn bản cho bạn biết những thông tin gì về số phận của người bản địa trong lịch sử? Nêu nhận xét về những thông tin đó.
Trả lời
Thông tin:
- Bị xâm lăng và áp bức bởi người da trắng (châu Âu).
- Văn hóa bản địa chịu ảnh hưởng và đang dần mai một.
- Số lượng người bản địa giảm đi đáng kể, nhiều cộng đồng bị tiêu diệt hoàn toàn.
Nhận xét:
- Tình cảm bi thảm và đáng tiếc.
- Những người là nạn nhân của sự xâm lược và áp bức.
* Thông tin:
- Trước thời kì thuộc địa: Người Giê (Gé) sống ở toàn bộ khu vực nam Bra-xin.
- Vài thế kỉ trước: Người Tu-pi chiếm vùng biển và bị xoá sổ bởi thực dân. Người Giê rút lui vào vùng hẻo lánh.
- Năm 1914: Phần lớn người Giê bị ép phải định cư để khai hoá văn minh.
- Sau đó: Chính quyền để họ tự sống theo cách của mình. Người Giê quay lại với lối sống cổ xưa.
* Nhận xét: Có thể thấy, từ sau khi bị người châu Âu xâm lược, người Giê bản địa ở khu vực nam Bra-xin đã bị dồn đuổi, phải sống lần trốn, bị cưỡng bức định cư, bị áp đặt bởi văn hoá của người da trắng và sau đó bị bỏ mặc. Những thông tin này cho thấy tình thế ngặt nghèo của họ. Từ một tộc người bản địa chiếm đa số và là chủ nhân của mảnh đất, họ trở thành kẻ bị xua đuổi, trấn áp và trở thành một cộng đồng thiểu số bị mất tiếng nói, bị đồng hoá và lãng quên. Đây cũng là số phận của một số cộng đồng thiểu số ở châu Mỹ nói riêng cũng như trên toàn thế giới nói chung, dưới sức ép cuộc bành trướng thuộc địa của người phương Tây da trắng.
Câu 2 (trang 68 sgk Ngữ văn 12 Tập 2): Thông tin về cuộc sống của người Giê dưới chế độ thực dân được triển khai qua những dữ liệu nào? Từ những dữ liệu đó, bạn có nhận xét gì về mối quan hệ giữa chính quyền thực dân và những người da đỏ bản xứ?
Trả lời
- Dữ liệu:
+ Bị tước đoạt đất đai và tự do.
+ Bị khai thác lao động một cách bất công.
+ Bị ép buộc phải tuân thủ theo cách sống mới.
- Mối quan hệ:
+ Gặp phải sự bất bình đẳng và áp đặt.
+ Chính quyền thực dân: thống trị và bóc lột.
+ Người bản xứ: chịu đựng sự áp bức và khai thác.
- Thông tin về cuộc sống của người Giê dưới chế độ thực dân được triển khai qua những dữ liệu:
+ Chính quyền thực dân ép người bản xứ phải định cư trong các ngôi làng, quy họ vào đối tượng cần được khai hoá văn minh, nhưng người bản xứ vẫn sống du cư.
+ Chính quyền gửi đến rìu, dao, đinh, chày gỗ, quần áo, chăn màn, nhưng người bản xứ không dùng đến mà vẫn sử dụng những công cụ và kĩ thuật cổ xưa.
+ Chính quyền xây nhà, cấp giường, nhưng người bản xứ vẫn ở ngoài trời, phá giường làm củi đun.
+ Chính quyền gửi đến những đàn bò, nhưng người bản xứ để mặc chúng đi lang thang và từ chối sữa, thịt.
- Những dữ liệu mà tác giả cung cấp về cuộc sống của người Giê cho thấy sự xung đột quyền lực giữa một bên là những nỗ lực trấn áp, đồng hoá, khai hoá văn minh của người da trắng và một bên là sự kháng cự của thổ dân da đỏ. Họ đã từ chối văn minh, quay trở lại với đời sống hoang dã, với những kĩ thuật và tập tục cổ xưa. Kết quả là dấu vết của văn minh chỉ nằm ở lớp vỏ hời hợt bề ngoài, công cuộc đồng hoá thất bại, cán cân quyền lực thay đổi khi văn hoá nguyên thuỷ, văn hoá bản địa cất lên tiếng nói. Sự thay đổi của vị thế quyền lực này cho thấy sức sống, vẻ đẹp, sự bền vững của các giá trị truyền thống bản địa trước sự trấn áp của văn minh phương Tây.
Câu 3 (trang 68 sgk Ngữ văn 12 Tập 2): Phân tích vai trò của người trần thuật xưng “tôi” trong văn bản.
Trả lời
Vai trò: là nhân chứng, người kể chuyện, là cầu nối giữa người đọc và người Giê.
Người trần thuật xưng “tôi” vừa có vai trò quan sát, khảo cứu, thu thập dữ liệu, ghi chép và mô tả lại những thông tin về lịch sử, cuộc sống của người Anh điêng; vừa suy ngẫm, phân tích, tìm ra cấu trúc, bản chất, quy luật, xung đột quyền lực chìm bên dưới những dữ liệu bề mặt. Với vai trò thứ nhất, người trần thuật xưng “tôi" cung cấp cho người đọc những thông tin xác thực, mới mẻ, sinh động về người Anh điêng, từ số phận của họ trong lịch sử đến tập quán, lối sống, hành vi, cách cư trú, ăn mặc, săn bắn, lao động,... của họ. Với vai trò thứ hai, người trần thuật xưng “tôi" đưa ra các nhận xét, đúc kết: "Người thổ dân chỉ giữ lại của trải nghiệm văn minh ngắn ngủi những bộ quần áo Bra-xin, cái rìu, con dao và chiếc kim khâu"; "người Anh điêng ở Ti-ba-gi vừa không hoàn toàn là “người Anh điêng thực thụ", vừa, nhất là, không phải là "người hoang dã"; "Nền văn hoá của họ, một mặt được tạo thành bởi những truyền thống lâu đời đã kháng cự lại ảnh hưởng của người da trắng"; "Những lối sống cổ xưa, những kĩ thuật truyền thống tái xuất hiện, nảy sinh từ một quá khứ mà ta sẽ sai lầm khi quên mất sự gần gũi sống động";... Sự kết hợp giữa hai lối tư duy cụ thể và trừu tượng, thực tiễn và suy lí này đã khiến cho tác phẩm vừa sinh động, thú vị, nhưng cũng vừa sâu sắc, giàu triết lí.
Câu 4 (trang 68 sgk Ngữ văn 12 Tập 2): Các dữ liệu được cung cấp trong văn bản là dữ liệu sơ cấp hay thứ cấp? Giá trị của các dữ liệu đó là gì?
Trả lời
- Dữ liệu cấp thấp và cấp cao:
+ Cấp thấp: Quan sát trực tiếp và phỏng vấn cư dân địa phương Giê.
+ Cấp cao: Tài liệu và sách báo về văn hóa và cuộc sống của người Giê.
- Giá trị:
+ Cung cấp thông tin chính xác và sinh động.
+ Hỗ trợ độc giả hiểu sâu hơn về đời sống và văn hóa của người Giê.
- Các dữ liệu về cuộc sống của người Anh điêng trong văn bản được tác giả thu thập trực tiếp bằng con đường thực nghiệm, điền dã, khảo sát. Có thể nhận ra điều này khi đọc đoạn mở đầu của văn bản: “lần đầu tiên tôi đã tiếp xúc với những người hoang dã, trong khi đi theo một trưởng chi nhánh của cơ quan bảo vệ người Anh điêng trong chuyến đi kiểm tra của ông ta",... Ngoài ra, căn cứ vào những thông tin trong phần giới thiệu về tác giả, tác phẩm, ta biết Nhiệt đới buồn là ghi chép dân tộc học, được viết sau hai mươi năm đi khảo sát thực địa của Cờ-lốt Lê-vi-Xtơ-rốt ở Bra-xin. Các dữ liệu sơ cấp gần như được công bố lần đầu tiên này khiến cho văn bản thú vị, mới mẻ, gây tò mò, thậm chí bất ngờ, chấn động, giúp người đọc hình dung ra một cách cụ thể, sống động bức tranh cuộc sống của người Anh điêng ở một vùng đất gần như chưa được biết tới trong các thư tịch thời bấy giờ, phá bỏ những định kiến vốn có trong hình dung của người phương Tây về những cộng đồng thiểu số trên thế giới thường được cho là man rợ, thấp kém.
- Mặt khác, các dữ liệu về lịch sử của người Anh điêng được thu thập một cách gián tiếp, tuy tác giả không nêu rõ nguồn tài liệu cũng như ghi chép một cách chính xác các mốc thời gian và sự kiện lịch sử. Các dữ liệu này giúp người đọc mường tượng ra được toàn bộ số phận éo le cũng như tình thế lịch sử ngang trái mà người Anh điêng phải đối mặt, gợi liên tưởng tới những tri thức về lịch sử châu Mỹ. Tuy nhiên, người đọc có thể chất vấn về tính khả tín và chính xác của các thông tin mà tác giả cung cấp.
Câu 5 (trang 68 sgk Ngữ văn 12 Tập 2): Hãy cho biết lập trường, quan điểm, thái độ của tác giả được thể hiện trong văn bản. Bằng cách nào bạn nhận ra điều đó?
Trả lời
- Lập trường: Phản đối sự xâm lăng và áp bức.
- Quan điểm: Cảm thông với số phận của người bản địa.
- Thái độ: Tôn trọng và đánh giá cao văn hóa bản địa.
- Cách nhận diện:
+ Sử dụng ngôn từ, cách diễn đạt và phong cách miêu tả.
+ Phân tích nội dung và ý nghĩa của văn bản.
Tác giả quan sát cuộc sống của người Anh điêng bằng cách thâm nhập thực tế, quan sát, tìm hiểu một cách hết sức cặn kẽ, chú ý đến từng chi tiết rất nhỏ như chiếc chày đá được mài nhẵn tuyệt đẹp, chiếc khung máy khâu,...; đồng thời đào sâu vào quá khứ lịch sử để hiểu thấu đáo thân phận của họ, suy ngẫm và phân tích để gạt bỏ những lớp vỏ hời hợt bề ngoài, tìm thấy những nguyên tắc chìm phía dưới. Tất cả những hoạt động này thể hiện thái độ nghiên cứu hết sức nghiêm cần, trách nhiệm, khách quan, nhưng cũng đầy đồng cảm và thấu hiểu. Tác giả không chỉ đứng ở vị trí người quan sát bên ngoài, mà còn nhìn nền văn hoá bản địa từ cái nhìn bên trong để hiểu được nguyên lí, gốc rễ của nền văn hoá ấy; đồng thời kết hợp cái nhìn đồng đại và lịch đại, cụ thể và trừu tượng. Việc quan sát đối tượng từ cái nhìn đa chiều đó đã giúp gỡ bỏ những thiên kiến, sự đối lập giữa “tôi” và “họ", "mình" và “kẻ khác", mang lại sự hiểu biết rộng rãi, phong phú nhưng sâu sắc; một tầm nhìn rộng lớn về đối tượng. Mặt khác, có thể nhận thấy thiện cảm, thậm chí có thể nói là niềm ngưỡng mộ không che giấu của tác giả trước vẻ đẹp, sức sống, sự tinh tế của nền văn hoá bản địa qua những cách diễn đạt đầy cảm xúc, ví dụ: “Ở đâu ra vậy những chiếc chày đá được mài nhẫn tuyệt đẹp tôi đã tìm thấy, trong nhà của người Anh điêng", "Thất vọng lớn cho tôi", "họ đã cho tôi một bài học về sự thận trọng và tính khách quan",... Lập trường và thái độ này của tác giả làm nổi bật quan điểm chất vấn tư tưởng "dĩ Âu vi trung", tư tưởng thực dân, những định kiến cố hữu trong xã hội phương Tây về văn minh và tiến bộ; khẳng định sự bình đẳng và đa dạng văn hoá, bênh vực cho những tiếng nói thiểu số, kêu gọi trở về với tự nhiên. Quan điểm này đã khiến cho Cờ-lốt Lê-vi-Xtơ-rốt không chỉ là một nhà nhân chủng học tiên phong, mà còn là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thế ki XX.
Câu 6 (trang 68 sgk Ngữ văn 12 Tập 2): Thông điệp bạn nhận được từ văn bản là gì? Đặt trong bối cảnh ra đời của văn bản, theo bạn, thông điệp đó có ý nghĩa gì?
Trả lời
- Thông điệp: Bảo vệ sự đa dạng văn hóa và chống lại áp đặt.
- Ý nghĩa:
+ Phê phán sự xâm lăng và áp đặt của chính quyền thực dân.
+ Khuyến khích việc bảo vệ và tôn trọng văn hóa bản địa.
+ Nhấn mạnh về tầm quan trọng của sự bình đẳng và tôn trọng.
Văn bản gửi tới người đọc thông điệp về hoà bình, sự tôn trọng những khác biệt văn hoá, chống lại tư tưởng thực dân và bá quyền văn hoá, giúp con người có thể chung sống với nhau một cách hài hoà, tốt đẹp,... Xét trong bối cảnh ra đời, văn bản đặt ra những chất vấn đối với chế độ thực dân, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc; hàm chứa sự phê phán đối với nền học thuật đầy định kiến của người phương Tây; gợi ra những âu lo về nguy cơ biến mất của những nền văn hoá thiểu số; đồng thời cũng dấy lên niềm hi vọng về sức sống và sự trường tồn của văn hoá cổ xưa.
Văn bản đề cập đến mối quan hệ phức tạp giữa văn minh và hoang dã. Hoang dã không chỉ là sự thiếu văn minh, mà còn là nguồn cảm hứng và sức mạnh sáng tạo. Trong khi văn minh thường đem lại sự tiến bộ và ổn định, thì hoang dã mang trong mình sự tự do và sức sống mãnh liệt. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa hai khái niệm này không phải lúc nào cũng rõ ràng. Đôi khi, sự văn minh có thể làm mất đi sự tự nhiên và tính sáng tạo của hoang dã, trong khi hoang dã có thể làm mất kiểm soát và sự ổn định của văn minh. Sự cân bằng giữa hai yếu tố này là chìa khóa để tạo ra một xã hội văn minh và bền vững, nơi mà con người và tự nhiên cùng tồn tại và phát triển.
Văn bản Nhiệt đới buồn gợi cho em nhiều suy nghĩ về mối quan hệ giữa văn minh và hoang dã. Theo em, văn minh không đồng nghĩa với việc phủ nhận hay xóa bỏ hoàn toàn lối sống nguyên thủy. Mỗi nền văn hóa đều có những giá trị riêng cần được tôn trọng. Người bản địa tuy sống gần gũi với thiên nhiên và giữ nhiều tập quán cổ xưa nhưng họ vẫn có những kinh nghiệm sống, kĩ thuật và bản sắc văn hóa độc đáo. Trong khi đó, nền văn minh hiện đại mang lại nhiều tiện nghi và sự phát triển cho con người nhưng đôi khi cũng làm mất đi sự cân bằng với tự nhiên. Qua văn bản, tác giả cho thấy việc áp đặt văn minh một cách thô bạo có thể khiến các giá trị văn hóa bản địa bị mai một. Điều đó nhắc nhở con người hôm nay cần có thái độ tôn trọng sự khác biệt văn hóa và biết dung hòa giữa phát triển hiện đại với việc giữ gìn bản sắc truyền thống. Theo em, một xã hội thật sự văn minh không phải là xã hội xóa bỏ cái cũ mà là biết kế thừa, bảo tồn và phát huy những giá trị tốt đẹp của nhiều nền văn hóa khác nhau.
Bài giảng: Pa-ra-na - Cô Phương Thảo (Giáo viên VietJack)
Xem thêm các bài Soạn văn lớp 12 Kết nối tri thức hay nhất, ngắn gọn khác: