10+ Phân tích truyện Làng (điểm cao)
Phân tích truyện ngắn Làng của Kim Lân điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.
- Phân tích truyện Làng (mẫu 1)
- Dàn ý Phân tích truyện Làng
- Phân tích truyện Làng (mẫu 2)
- Phân tích truyện Làng (mẫu 3)
- Phân tích truyện Làng (mẫu 4)
- Phân tích truyện Làng (mẫu 5)
- Phân tích truyện Làng (mẫu 6)
- Phân tích truyện Làng (mẫu 7)
- Phân tích truyện Làng (mẫu 8)
- Phân tích truyện Làng (mẫu 9)
- Phân tích truyện Làng (các mẫu khác)
10+ Phân tích truyện Làng (điểm cao)
Phân tích truyện Làng - mẫu 1
Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn của nền văn học hiện đại Việt Nam. Với vốn am hiểu sâu sắc và gắn bó với nông thôn và người nông dân nên truyện của ông thường xoay quanh những nếp sinh hoạt, cảnh ngộ, phong tục truyền thống của người nông dân Bắc Bộ. Nguyên Hồng nhận xét: Kim Lân là nhà văn một lòng đi về với "đất" với "người" với "thuần hậu nguyên thủy" của cuộc sống nông thôn.
Truyện ngắn "Làng" (1948) là một minh chứng tiêu biểu cho lời nhận xét đó của Nguyên Hồng. Bằng việc khai thác đề tài tình yêu làng, lòng yêu nước, tinh thần kháng chiến của người nông dân phải rời làng đi tản cư qua nhân vật ông Hai, Kim Lân đã xây dựng thành công tình huống truyện độc đáo, nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sinh động bằng một thứ ngôn ngữ mang đậm chất khẩu ngữ và lời ăn tiếng nói hằng ngày của người nông dân.
Trước hết, truyện ngắn "Làng" đã được Kim Lân xây dựng trên tình huống gay cấn để bộc lộ tình yêu làng, tình yêu đất nước sâu sắc ở nhân vật ông Hai. Đó là tin làng ông theo giặc lập tề mà chính ông nghe được từ miệng của những người tản cư dưới xuôi lên. Tình huống ấy đã đẩy câu chuyện vào chỗ thắt nút khi mà ông Hai - một con người vốn yêu làng, luôn khoe và hãnh diện về làng thì nay lại hay tin là theo giặc. Vì thế ông đau đớn, xót xa và cảm thấy tủi hổ, bẽ bàng. Trong thế giới nội tâm nhân vật có sự đấu tranh xung đột giữa tình yêu làng và tình yêu nước mà tình cảm nào cũng mãnh liệt, song tình yêu nước, tinh thần kháng chiến rộng lớn, bao trùm lên tình yêu làng. Nhưng cuối cùng, cũng từ tình huống ấy đã mở nút cho câu chuyện khi mà ông nhận được tin cải chính về làng. Tình huống này đã khẳng định ông Hai và làng chợ Dầu luôn trung thành tuyệt đối với kháng chiến với cụ Hồ, với dân tộc.
Cũng qua tình huống truyện, người đọc còn nhận ra tài năng khắc họa, miêu tả tâm lí nhân vật sắc sảo của nhà văn Kim Lân qua nhân vật ông Hai. Có thể nói, dưới tác động của tình huống, sự việc khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc, tâm lý nhân vật ông Hai đã có những diễn biến phức tạp và nhà văn đã trực tiếp nhập vai vào nhân vật để nói bằng tiếng nói nhân vật, mô tả sự giằng xé trong thế giới nội tâm với những mâu thuẫn, xung đột gay gắt, dữ dội. Cũng như biết bao người dân quê khác, ông Hai gắn bó sâu lặng với nơi chôn rau cắt rốn của mình - làng chợ Dầu. Tình yêu ấy của ông thật đặc biệt, biểu hiện của nét tâm lí đó là luôn tự hào và thích khoe về làng. Nhưng có một sự kiện bất ngờ đã xảy ra với ông, từ phòng thông tin bước ra đang rất phấn khởi, náo nức vì những tin vui của kháng chiến, gặp người tản cư, nghe họ nhắc tới tên làng, ông Hai quay phát lại, lắp bắp hỏi, hi vọng được nghe những tin tốt lành về làng, nào ngờ lại hay tin: cả làng chợ Dầu theo giặc. Trước tin dữ ấy, ông Hai sững sờ chết lặng "Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như không thở được". Từ niềm vui, niềm tin hi vọng, ông Hai rơi xuống vực thẳm đau buồn, xót xa, tuyệt vọng. Ông cố gắng trấn tĩnh bản thân và tìm cách lảng ra về, muốn che giấu đi tâm trạng ấy nhưng nỗi tủi hổ, bẽ bàng, lo lắng khiến ông "cúi gằm mặt mà đi", còn văng vẳng tiếng chửi "giống Việt gian bán nước".
Khi về đến nhà, ông Hai nằm vật ra giường, rồi tủi thân khi nhìn đàn con nhỏ: "nước mắt ông lão cứ dàn ra". Những dòng độc thoại nội tâm trong ông thể hiện nỗi day dứt, đau đớn: "Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư?...". Ông căm giận lũ người theo giặc, phản bội làng nước, ông lão nắm chặt hai tay mà rít lên: "Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này". Nhưng sau đó, ông lại cảm thấy "ngờ ngợ" như lời của mình không được đúng lắm. Niềm tin và nỗi thất vọng đang giằng xé trong ông. "Ông kiểm điểm từng người trong óc" thấy họ đều là những người có tinh thần kháng chiến, một sống một chết với giặc, có đời nào lại can tâm làm điều nhục nhã ấy được. Trong hoàn cảnh giặc giã thì tinh thần yêu nước, tinh thần kháng chiến là một thứ tình cảm thiêng liêng, cao đẹp; còn phản bội là điều xấu xa ô nhục nhất. Vì thế từ khi nghe tin làng mình theo giặc, nó đã trở thành nỗi ám ảnh, day dứt trong tâm trí của ông, khiến ông ba bốn hôm nay không dam bước chân ra đến ngoài. Suốt ngày chỉ quanh quẩn ở trong cái gian nhà chật chội ấy mà nghe ngóng binh tình. "Một đám đông túm lại ông cũng để ý, dăm bảy tiếng nói xa xa ông cũng chột dạ", lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng người ta đang để ý , đang bàn tán đến "cái chuyện ấy"; cứ thoáng nghe những tiếng Tây, cam nhông , Việt gian là ông lại lủi thủi ra một góc nhà nín thít... "Thôi lại chuyện ấy rồi!". Ông luôn thu mình lại, cảm thấy xấu hổ, đau xót và dường như cảm thấy chính mình cũng có tội vậy. Ông rời vào tình trạng tuyệt vọng khi mà bà chủ nhà đánh tiếng đuổi gia đình ông đi vì "nghe nói, bảo có lệnh đuổi hết những người làng chợ Dầu khỏi vùng này, không cho ở nữa". Ông Hai không biết đi đâu, cũng không thể quay lại trở về làng vì về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ, "về làng tức là chụy quay lại làm nô lệ cho thằng Tây". Trong ông Hai diễn ra cuộc đấu tranh nội tâm gay gắt và dứt khoát lựa chọn theo cách của mình "Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù". Tình yêu nước đã bao trùm lên tình yêu làng. Song ông không thể vứt bỏ tình yêu làng nên ông Hai càng đau xót, tủi hổ. Trong tâm trạng bị dồn nén, không biết giải tỏa như thế nào, ông Hai chỉ còn biết trút lòng mình với đứa con nhỏ. Cuộc đối thoại giữa ông và đứa con trai đã bộc lộ thật cảm động tấm lòng gắn bó sâu sắc với làng quê, với đất nước và với kháng chiến của ông Hai. Ông nói với con mà như tự nói với chính mình, tự mình oan, tự chiêu tuyết cho mình. Đoạn thoại, vừa chất chứa nỗi đau đớn, xót xa, lại vừa thể hiện tấm lòng thủy chung, son sắt với kháng chiến, với cách mạng, với cụ Hồ.
Có lẽ, nếu không nhận được tin cải chính thì cả đời ông Hai sẽ chết dần, chết mòn trong nỗi đau đớn, tủi hổ, bẽ bàng về cái làng của mình mất. Những sau đó, chính quyền làng ông đã lên cải chính cái tin làng chợ Dầu theo giặc. Nhận được tin, ông Hai như sống lại, niềm vui tràn ngập trong ông: quần áo chỉnh tề, mặt tươi vui, rạng rỡ hẳn lên, mồm bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ, hấp háy, nói bô bô, mua quà cho các con.... Đặc biệt là hành động ông chạy đi khoe với tất cả mọi người cái tin vui ấy. Niềm vui sướng, hạnh phúc dâng trào khiến ông cứ múa tay lên mà khoe. Và lạ thay, câu đầu tiên ông khoe không phải là việc làng ông không theo giặc mà là "Tây nó đốt nhà tôi rồi... đốt nhẵn!". Với người nông dân, căn nhà là cả cơ nghiệp của họ mà cả đời họ làm lụng vất vả mới có được. Nhưng ông Hai không hề tiếc căn nhà của mình bởi nó là minh chứng khẳng định làng ông không theo giặc và trên hết là nó như là sự "đóng góp" của gia đình ông với kháng chiến. Điều đó, một lần nữa càng khẳng định rõ ràng hơn tình yêu làng, tình yêu nước và sự trung thành với kháng chiến ở ông Hai.
Đến đây, chúng ta thấy được sức sáng tạo độc đáo của Kim Lân trong nghệ thuật tạo tình huống, thực sự gay cấn, kịch tính với những thử thách của nội tâm nhân vật, từ đó bộc lộ chiều sâu đời sống bên trong, tình cảm, tư tưởng của nhân vật. Tác giả đã miêu tả tâm lí nhân vật sâu sắc, tinh tế, rất cụ thể, gợi cảm qua thế giới nội tâm với các ý nghĩ, hành vi, ngôn ngữ. Đặc biệt, nhà văn đã diễn tả rất đúng, rất ấn tượng về sự ám ảnh day dứt trong tâm trạng nhân vật. Điều đó chứng tỏ Kim Lân am hiểu sâu sắc con người và những nét tâm lí vôn có của người nông dân Việt Nam sau lũy tre làng.
Thông qua tác phẩm, người đọc còn nhận ra ngôn ngữ của truyện rất đặc sắc, nhất là ngôn ngữ nhân vật ông Hai. Ngôn ngữ mang đậm chất khẩu ngữ và lời ăn tiếng nói hằng ngày của người nông dân. Lời trần thuật và lời nhân vật có sự thống nhất về sắc thái, giọng điệu do truyện được trần thuật chủ yếu theo điểm nhìn của ông Hai, dù vẫn dùng cách trần thuật ở ngôi thứ ba. Ngôn ngữ nhân vật ông Hai vừa có nét chung của người nông dân, lại vừa mang đậm cá tính của nhân vật, rất sinh động, chân thực, gần gũi.
Tóm lại, "Làng" của Kim Lân là một truyện ngắn đặc sắc, khai thác một tình cảm bao trùm và phổ biến trong con người thời kháng chiến: tình yêu quê hương, đất nước; trong đó, nhân vật ông Hai là nhân vật có tính chất đại diện điển hình cho nét tâm lí, tình cảm đó của người nông dân Việt Nam trong thời kì tiến công cách. mạng. Qua tác phẩm chúng ta thấy được tài năng độc đáo trong nghệ thuật tạo tình huống, xây dựng hình tượng nhân vật có tính chất đại diện điển hình với thế giới nội tâm phong phú, phức tạp, sinh động; ngôn ngữ truyện mộc mạc, giản dị, gần gũi với đời sống, xen lẫn giữa độc thoại và đối thoại đan xen... tất cả đã làm nên sự thành công độc đáo, hấp dẫn cho thiên truyện ngắn.
Dàn ý Phân tích truyện Làng
a. Mở bài
- Giới thiệu về nhà văn Kim Lân, truyện ngắn Làng.
b. Thân bài
* Cuộc sống của ông Hai ở nơi tản cư
- Ông Hai luôn đau đáu nhớ về quê hương, nghĩ đến những ngày tháng làm việc cùng với anh em.
- Khoe về làng mình: giàu và đẹp, lát đá xanh, có nhà ngói san sát sầm uất như tỉnh, phong trào cách mạng diễn ra sôi nổi, chòi phát thanh cao bằng ngọn tre.
- Đến phòng thông tin: đọc báo, nghe tin tức về cuộc kháng chiến.
- Khi nghe đến tin về chiến thắng của ta, “ruột gan ông lão cứ múa vui cả lên” .
=> Tình cảm sâu đậm của ông Hai dành cho quê hương, đất nước và đặc biệt là làng của ông.
* Diễn biến tâm trạng của ông Hai khi nghe tin làng theo giặc
Khi vừa mới nghe tin làng chợ Dầu theo giặc:
- Ông sững sờ, xấu hổ và uất ức: “cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi tưởng như không thở được”.
- Tin tức làng chợ Dầu theo giặc như một tiếng sét giáng xuống đầu ông, nhưng khi trấn tĩnh lại liền tỏ ra nghi ngờ, không tin: “Một lúc lâu ông mới rặn è è, nuốt một cái gì vướng ở cổ, ông cất tiếng hỏi, giọng lạc hẳn đi: Liệu có thật không hở bác?...”
- Những người tản cư đã kể rảnh rọt quá, lại khẳng định họ “vừa ở dưới ấy lên” làm ông không thể không tin.
- Từ đấy, trong tâm trí của ông chỉ nghĩ về cái tin dữ ấy. Nghe tiếng chửi bọn Việt gian, ông “cúi gằm mặt mà đi”.
Khi về đến nhà
- Ông Hai nằm vật ra giường, nhìn lũ con lại thấy tủi thân, nước mắt cứ giàn ra. Bao nhiêu niềm tự hào về làng đều sụp đổ.
- Ông tự hỏi và buồn thay cho số phận những đứa con của mình: “Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi đấy ư?”
- Ông nắm chặt tay, rít lên: “Chúng bay … mà nhục nhã thế này?”.
=> Ông hai cảm thấy chính bản thân đang mang nỗi nhục của một tên bán nước, cả các con ông rồi cũng sẽ phải mang nỗi nhục ấy.
Những ngày sau đó:
- Suốt mấy ngày ông không dám đi đâu.
- Ông chỉ quanh quẩn ở nhà, nghe ngóng tình hình bên ngoài: “Một đám đông túm lại, ông cũng để ý, dăm bảy tiếng cười nói xa xa,ông cũng chột dạ. Lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng như người ta đang để ý, người ta đang bàn tán đến “cái chuyện ấy”.
- Thoáng nghe những tiếng “Tây, Việt gian, cam - nhông… là ông lủi ra một nhà, nín thít. Thôi lại chuyện ấy rồi!”
- Khi nghĩ đến tương lai, ông rơi vào bế tắc, không biết phải đi đâu về đâu: Về làng thì không được, vì về làng lúc này là đồng nghĩa với theo Tây, phản bội kháng chiến. Ở lại thì không xong, vì mụ chủ nhà đã đánh tiếng xua đuổi. Còn đi thi biết đi đâu bởi ai người ta chưa chấp dân làng Chợ Dầu phản bội.
=> Điều này buộc ông phải lựa chọn giữa tình yêu làng và yêu nước.
- Ông hai đã trò chuyện với đứa con trai út, để rồi đưa ra quyết định: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”.
=> Tình yêu nước mãnh liệt của người Việt Nam, họ sẵn sàng vượt lên trên tình cảm cá nhân để hướng đến tình cảm chung của cộng đồng.
c. Niềm vui sướng của ông khi nghe tin cải chính
- Thái độ hoàn toàn thay đổi:
+ “Cái mặt buồn thiu mọi ngày bỗng tươi vui, rạng rỡ hẳn lên”
+ “Mồm bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ, hấp háy”…
+ Về đến nhà thì chia quà cho lũ con rồi sang nhà bác Thứ để đính chính lại cái tin làng chợ Dầu theo giặc.
+ “bô bô” khoe với mọi người về cái tin làng ông bị “đốt nhẵn”, nhà ông bị “đốt nhẵn”
=> Niềm vui mừng của ông Hai khi nghe tin cải chính về làng chợ Dầu đã vượt lên trên sự mất mát về của cải khi làng bị giặc đốt sạch. Từ đó, nhà văn Kim Lân đã cho thấy tình yêu quê hương, đất nước sâu sắc của người nông dân.
(3) Kết bài
Khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn Làng.
Phân tích truyện Làng - mẫu 2
Nói về quê hương, Raxun Gamzatov đã cho rằng rằng: "Người ta chỉ có thể tách con người ra khỏi quê hương chứ không thể tách quê hương ra khỏi con người". Điều đó muốn đưa ra một chân lý rằng, con người dù đi đến đâu cũng không thể quên được nguồn cội, quê hương. Đặc biệt là quê hương trong tâm khảm của người nông dân đã gắn bó máu thiệt với từng khóm tre, bờ ao, giếng nước, mái đình. Cùng với đề tài viết về tình yêu của người nông dân đối với quê hương, Kim Lân hướng tới khám phá cái đẹp khỏe khoắn, đôn hậu, chất phác trong tâm hồn những người nông dân qua tác phẩm truyện ngắn mang tên "Làng". Nói như cách nhận xét, bình phẩm của Nguyên Hồng thì Kim Lân là nhà văn của làng quê, của những người nông dân một lòng một dạ đi với đất, với người, với sự thuần hậu nguyên thủy của cuộc sống vùng thôn quê.
Tác phẩm ra đời năm 1948, được lấy bối cảnh từ cuộc tản cư trong thời kỳ kháng chiến của nhân dân Bắc Bộ, Kim Lân xây dựng nhân vật ông Hai - người dân làng Chợ Dầu theo kháng chiến tản cư đến vùng tạm trú. Và trong lúc tản cư, biết bao điều suy tư, trăn trở về ngôi làng thân yêu của ông Hai đã được Kim Lân thể hiện một cách trọn vẹn, đầy đủ nhất. Cái hay của câu chuyện không chỉ dừng lại ở việc xây dựng nhân vật thành công mà còn xây dựng được một tình huống truyện độc đáo, bộc lộ được sự sâu sắc tình yêu làng, tình yêu nước của một người nông dân.
Ông Hai là người rất yêu làng của mình. Tình yêu của ông đã ăn sâu vào nhận thức, vào máu thịt để dù có đi đến đâu, đi tản cư đến nơi khác nhưng ông vẫn đau đáu nhớ và hướng về nơi có cái tên quen thuộc là Chợ Dầu. Yêu làng, ông yêu tất cả những thức thuộc về nơi ấy, yêu trong một niềm tự hào mãnh liệt vì mình là người dân làng Chợ Dầu. Ấy vậy mà, một hôn ông Hai chính tai nghe được tin làng theo giặc. Xét về mạt hiện thực, chi tiết này là rất hợp lý. Bởi lẽ, ai cũng biết trong những năm kháng chiến, để thực hiện chiêu bài tách quân ra khỏi dân, ví dân với quân như cá với nước, thực dân Pháp đã dùng mọi cách bắt bớ, đe dọa và lôi kéo nhân dân đứng về phía chúng. Tuy vậy, người nông dân đã bén rễ nội bộ rồi đốt làng, phá nhà người dân.
Trong tình huống này đã gây ra những mâu thuẫn giằng xé trong tâm trí ông lão đáng thương và đáng trọng ấy - tạo nên nút thắt cho câu chuyện. Chính bởi vậy mà tạo ra những điều kiện để thể hiện, bộc lỗ rõ tâm trạng và phẩm chất, tính cách của nhân vật thêm phần chân thực và sâu sắc nhất. Từ đó, góp phần giải quyết chủ đề chủ đề tác phẩm, đó là phản ánh và ca ngợi tình yêu làng, yêu nước chân thành, giản dị của những người nông dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Đồng thời cũng góp phần vào diễn biến và mạch phát triển câu chuyện.
Làng quê đối với người nông dân không chỉ là nơi chôn rau cắt rốn của mỗi con người mà còn là nơi dù mỗi cá nhân có đi đến đâu cũng mong ngóng mỏi màn ngày để trở về với gia đình, người thân, bạn bè, láng giềng. Ở đó, bao nhiêu thế hệ đã được sinh ra và lớn lên, trưởng thành. Bao nhiêu cuộc đời đã hóa thành câu chuyện truyền tai nhau để viết nên những trang sử rất sống động. Người nông dân cũng vậy, họ bắt đầu tình yêu đất nước bằng tình yêu từ những thứ nhỏ bé, đơn sơ, thân thuộc xung quanh họ như từng cây cầu, mái rạ, yêu con đường đến trường, đình làng, bến nước. Thế đấy, tình yêu làng của ông Hai trước Cách mạng giản dị như tình yêu của một đứa con xa nhớ về người mẹ của mình, một tình yêu tôn sùng, có niềm tự hào xen lẫn có chút hồn nhiên. Mỗi khi kể về làng, ông khoe về cái sinh phần sừng sững ở cuối làng của viên tổng đốc làng ông, cho dù bản thân mình và nhiều người khác trong lòng đã phải khốn khổ vì cái sinh phần ấy
Tuy vậy, tình yêu làng của ông Hai có sự chuyển biến mạnh mẽ kể từ sau Cách mạng. Khi ấy, làng Chợ Dầu trở thành làng kháng chiến. Ông Hai khoe làng ông có "những hố, những ụ, những giao thông hào", "có cái phòng thông tin tuyên truyền sáng sủa, rộng rãi nhất vùng, chòi phát thanh thì cao bằng ngọn tre, chiều chiều loa gọi cả làng đều nghe thấy". Quê hương được giải phóng, thoát khỏi ách cường hào phong kiến và bè lũ tay sai thực dân. Dân làng ông bắt đầu cuộc sống mới. Ông Hai no nức khi kể về những đêm rậm rịch tiếng bước chân của đoàn du kích tập quân sự, sáng, chiều râm ran tiếng trẻ em học bài...lại còn có cả những tiếng hát của thanh niên ngân vang trong những buổi cả làng bàn việc nước, việc dân. Như vậy, chúng ta có thể thấy được rõ ràng tình yêu làng của ông đã gắn với niềm vui của con người hòa vào cuộc sống kháng chiến dân tộc.
Vì quá yêu làng, nên ông Hai không hề muốn đi tản cư đến nơi khác. Chỉ vì hoàn cảnh bất đắc dĩ mà ông buộc phải xa làng, xa anh em, đồng chí. Nỗi khổ tâm này cũng nhiều lần khiến ông đau đáu về làng. Ấy vậy nên ông Hai cứ muốn nghe tin tức về làng, không chỉ riêng làng mình mà ông còn khao khát được nghe những tin thắng trận từ mọi miền đất nước. Như thế mới thấy được sự phát triển mạnh mẽ trong tình cảm và nhận thức của ông Hai nói riêng và người nông dân nói chung. Giờ đây, không những ông Hai yêu làng mà còn yêu cách mạng, yêu kháng chiến nữa. Từ miễn cưỡng thực hiện tản cư, đến yêu mến rồi nhiệt tình ủng hộ cách mạng, ủng hộ kháng chiến. Câu chuyện khoe làng cũng thế. Từ chuyện khoe làng, ông chuyển sang chuyện kháng chiến, chuyện đánh Tây. Tình yêu làng trong ông vẫn lớn, luôn được nhen nhóm nhưng giờ đây nó đã hòa quyện trong tình yêu cách mạng, yêu kháng chiến, tình yêu nước. Tình cảm cá nhân ông Hai đã hòa hợp với tình yêu tổ quốc. Yêu làng cũng là yêu nước. Tản cư nghĩa là ủng hộ cách mạng, nghĩa là ủng hộ sự nghiệp giải phóng đất nước mà ủy ban kháng chiến đã đề ra.
Để thấy rõ tình yêu làng của ông Hai, nhà văn đã đặc biệt miêu tả sự thay đổi trong nội tâm lẫn hành động trước và sau khi nghe được tin làng Chợ Dầu theo Tây. Trước khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc, ông luôn nhớ mòng làng da diết, ước mơ lớn lao nhất đời ông có lẽ là được trở về làng, được trẻ lại, được tham gia kháng chiến. Như thế để cho thấy được rằng ông Hai là người rất có trách nhiệm với cuộc kháng chiến và tình cảm gắn bó máu thịt với quê hương. Công việc thường xuyên, đều đặn của ông là đến phòng thông tin để nghe ngóng tin tức. Dù không đọc giỏi nhưng ông vẫn vờ xem để bắt được ai đó có giọng đọc to mà nghe. "Một em nhỏ trong ban tuyên truyền xung phong bơi ra giữa hồ Hoàn Kiếm cắm quốc kỳ lên tháp Rùa" cũng đủ để làm ông tụ hào quá đỗi - "Đấy, cứ kêu chúng nó trẻ con mãi đi, liệu đã bằng chúng nó chưa?" "Một anh trung đội trường sau khí giết được bảy tên giặc đã tự sắt bằng một quả lựu đạn cuối cùng, Đội nữ du kích Trưng Trắc giả làm người đi mua hàng đã bắt sống một tên quan hai bốt Thao ngay giữa chợ". Những cái tin ấy càng làm đong đầy niềm tin của ông về ngày tất thắng của Cách mạng. "Chỗ kia phá đổ được một xe tăng và một xe díp". "Cứ thế, chỗ này giết một tí, tích tiểu thành đại làm gì mà rồi thằng Tây không bước sớm". Ruột gan ông lão cứ múa cả lên,vui quá! Ông lão náo nức bước ra khỏi phòng thông tin, rẽ vào quán dặn vợ mấy việc rồi đi thẳng ra lối huyện cũ. Sự chất phác và tình yêu ghét rạch ròi của người nông dân chân chất còn thể hiện ở chi tiết ông mong trời nắn nóng để "bỏ mẹ chúng nó".
Nhà văn thật tài tình khi đặt nhân vật của mình vào một tình huống éo le để bao nhiêu tâm sự, tình cảm cứ thể mà tuôn dào dạt. Khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc từ miệng những người từ dưới ấy lên, ông Hai sững sờ xấu hổ uất ức: "cổ ông lãn nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi tưởng như không thở được". Khó mà có thể tin được điều ấy khi mà lòng ông còn mới ngập tràn những niềm vui thắng trận. Cảm xúc đột ngột tụt dốc, ông Hai cố trấn an bản thân nhưng rồi cũng phải chịu thua khi lời kể của những người tản cư khá rành rọt, chi tiết. Cảm giác hụt hẫng của ông như vừa tự mình đánh mất một điều gì đó lớn lao lắm. Phải chăng tình yêu làng đã quay lưng lại với ông để khiến ông nghẹn ngào, tủi hổ. Cảm giác của một tình yêu đã bị phụ rẫy, một niềm tin không hề lay động trước tin dữ ấy nhưng ông không thể đánh lừa được lòng mình. Cứ thế, ông Hai "cúi gằm mặt mà đi". Nỗi xấu hổ bủa vây lấy ông, nó xui bước bước chân ông không dam đi con đường nào khác là một mạch về nhà. Về đến nhà, ông nằm vật ra giường rồi tủi thân nhìn lũ con "nước mắt ông lão cứ giàn ra. Chúng nó cũng là trẻ con lang Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu....ông lão nắm chặt hai tay lại và rít lên". Từ nỗi hổ thẹn ông thấy nhục. Nhục vì mình mang bộ mặt của dân làng bán nước. Cả con mình cũng sẽ mang nỗi nhục ấy suốt đời. Nói một cách công bằng, dù làng chợ Dầu theo Tây thì cũng đâu phải lỗi của ông, lại càng không phải lỗi của các con ông. Dù biết là vậy nhưng ông Hai vẫn cảm thấy đau khổ, cảm giác tội lỗi như bản thân mình đã gây ra vậy. Điều đó cho thấy ông Gia đã tự nguyện gắn bó máu thịt với làng, lành là sinh mệnh, tình yêu làng là lẽ sống. Người nông dân không trực tiếp tham gia kháng chiến, chiến đấu nhưng vẫn một mực thủy chung với cách mạng, sự gắn bó bằng lòng tự trọng, không cần ai phải xua đuổi hay miệt thị, bản thân họ cũng tự giày vò chính mình "dẫu vì chính sách cụ Hồ, người ta chẳng đuổi đi nữa thì mình cũng chẳng còn mặt mũi nào đi đến đâu".
Kiểm điểm, liệt kê từng gương mặt, từng tính cách của mỗi người trong làng, ông Hai khó mà tin được rằng những anh em, đồng chí của mình lại có thể làm những việc xấu xa như vậy. Tuy nhiên, không có lửa thì làm sao có khói. Như ông nghĩ "ai người ta hơi đâu bịa tạc ra những chuyện ấy làm gì?". Với bản tính là một người thích đi và thường xuyên đi như ông mà suốt mấy ngày ông không dám đi đâu. Ông chỉ quanh quẩn ở nhà, nghe ngóng tình hình bên ngoài. "Một đám đông túm lại, ông cũng để ý, dăm bảy tiếng cười nói xa xa, ông cũng chột dạ. Lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng như người ta đang để ý, người ta đang bàn tán đến cá chuyện ấy. Thoáng nghe những tiếng Tây, Việt gian, cam - nhông... là ông lủi ra một góc nhà, nín thít. Thôi lại chuyện ấy rồi! "
Trong gian nhà nhỏ giờ lại càng tăng thêm bầu không khí ngột ngạt vì những ý nghĩ rối tung trong đầu ông. Tiếng thở của ba đứa trẻ trong ánh đen vàng hiu như chính tương lại của gia đình ông Hai, bế tắc và tuyệt vọng. Ông không biết đi đâu, về làng thì không được, vì về làng lúc này đồng nghĩa với theo Tây, phản bội kháng chiến. Ở lại thì cũng không xong, vì mụ chủ nhà đã đánh tiếng xua đuổi. Còn đi thì biết đi đâu, bởi ai người ta chứa chấp dân làng Chợ Dầu phản bội. Nếu như trước đây, tình yêu làng và tình yêu nước hòa quyện trong nhau thì lúc này, ông Hai buộc phải có sự lựa chọn. Quê hương và Tổ quốc bên nào nặng hơn? Đó có thể nói rằng đây không phải là điều đơn giản vì với ông, làng Chợ Dầu đã trở thành một phần của cuộc sống, không dễ gì vứt bỏ; còn cách mạng là cứu cánh của gia đình ông, giúp cho gia đình ông thoát khỏi cuộc đồi nô lệ. Cuối cùng, ông đã đưa ra quyết định, đó là: "Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mắt rồi thì phải thù". Như vậy, tình yêu làng dẫn có thiết tha, mãnh liệt đến đâu cũng không thể mãnh liệt hơn tình yêu đất nước. Đó là biểu hiện vẻ đẹp trong tâm hồn của con người Việt Nam, khi cần họ sẵn sàng gạt bỏ tình cảm riêng tư để hướng tới tình cảm chung của cả cộng đông, của cả dân tộc.
Để vơi đi những tâm tư đè nặng và cũng để giải bày được tấc lòng thủy chung với Cách mạng, ông Hai đã có cuộc đối thoại, trò chuyện với đứa con út. Tuy bên ngoài là cuộc trò chuyện nhưng thực chất là cuộc độc thoại đầy xúc động. Một đứa trẻ lên ba không thể nào tự nói lên những điều như thế. Phải có một người cha, người bố như ông Hai - một người cha không chỉ truyền giọng điệu mình cho con tập nói mà còn là người cha truyền cho con tình yêu nước, tình yêu làng sâu đậm trong trái tim hồn nhiên, nhỏ bé: "Ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!". Đứa con gái nói cũng chính là nói hộ, nói thay tiếng lòng ông Hai. Dù có thế nào, ông vẫn một mực chung thủy, gắn bó với cách mạng, với cụ Hồ. Ở ông là một niềm tin sắt đá - niềm tin ấy đã phần nào giúp ông có thêm nghị lực để vượt qua khó khăn này. Do đó, chỉ có đứng trước nghịch cảnh, đối diện nỗi đau mới thấy tấm lòng người nông dân đối với cách mạng, đối với kháng chiến không bao giơ thay đổi, dù phải đau khổ tột cung nhưng nhất định vẫn giữ trọn vẹn lời thề.
May mắn cho ông Hai và cũng nhẹ nhõm cho cả người đọc khi nghe được tin lành chợ Dầu cải chính. Nối đau khổ của ông như được giải tỏa, bao niềm vui như nước lũ tràn về. Ông Hai cứ như tre ra "mồm bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ, hấp háy", ông hai có khác nào được hồi sinh. Ông "bô bô" khoe với mọi ngươi về cái tin làng ông bị đốt nhẵn, nhà ông bị đốt nhẵn. Nội dung lời khoe của ông có vẻ vô lý, bởi không ai có thể vui mừng trước cảnh làng, nhà của mình bị giặc tàn phá. Nhưng trong tình huống này thì điều vô lý ấy lại rất dễ hiểu: sự mất mát về vật chất ấy chẳng thấm vào đâu so với niềm vui tính thần mà ông đang được đón nhận. Nhà văn đã tỏ ra rất sắc sảo trong việc nắm bắt và miêu tả diễn biến tâm lí của người nông dân. Họ rất yêu làng. Nhưng họ cũng hiểu được rằng một khi nước mất nhà tan, cái làng cái nhà còn hay mất không quan trọng bằng nước mất hay còn. Chỉ cần còn tấm lòng con người theo cách mạng, còn kháng chiến thì còn nhà, còn làng. Vì Tổ quốc, vì đất nước họ sẵn sàng hy sinh tất cả dù đó là tài sản hay cả tính mạng của mình. Từ một người nông dân yêu làng, ông Hai trở thành người công dân nặng lòng với kháng chiến. Tình yêu làng, yêu nước đã hòa làm một trong ý nghĩa tình cảm việc làm của ông Hai. Tình cảm ấy thống nhất, hòa quyện như tình yêu nước được đặt cao hơn, lớn rộng lên tình làng. Đây là nét đẹp truyền thống mang tính thần thời đại. Ông Hai là hình ảnh tiêu biểu của người nông dân trong thời kì kháng chiến chống Pháp.
Tóm tại, tác phẩm Làng của Kim Lân nổi bật với tình huống truyện có tính căng thẳng, thử thách, cốt truyện chú trọng vào các tình huống bên trong nội tâm nhân vật, kết hợp với nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tự nhiên mà sâu sắc, tinh tế. Ngôn ngữ đặc sắc, sinh động mang đậm chất khẩu ngữ gắn liền với lời ăn tiếng nói hàng ngày của người nông dân. Truyện thể hiện chân thực, sinh động tành cảm yêu làng quê thống nhất với lòng yêu đất nước ở nhân vật ông Hai. Đồng thời giúp chúng ta hiểu, yêu mến và khâm phục biết nhường nào những người nông dân giản dị, mộc mạc mà lại có một tình yêu nước vô cùng tha thiết, cao cả.
Phân tích truyện Làng - mẫu 3
Kim Lân là nhà văn hiện đại Việt Nam. Ông có một vốn sống vô cùng sâu sắc về nông thôn Việt Nam. Những thú chơi dân dã mang cốt cách "phong lưu đồng ruộng" như thả diều, chọi gà, nuôi chó săn, thả chim bồ câu, chơi núi non bộ, gánh hát chèo, trẩy hội mùa xuân, v.v... được ông viết rất hay và cho ta nhiều thú vị. Ông là một trong những cây bút truyện ngắn xuất sắc mang hương đồng gió nội qua 2 tác phẩm: Con chó xấu xí và Nên vợ nên chồng.
Viết về đề tài nông dân và kháng chiến, truyện Làng của Kim Lân thành công hơn cả. Nhân vật chính của truyện là ông Hai đã để lại trong lòng em nhiều ấn tượng sâu sắc, đẹp đẽ. Ông Hai là một lão nông, cần cù chất phác, giàu lòng yêu quê hương đất nước. Ông gắn bó với cách mạng, quyết tâm đi theo kháng chiến, trung thành tuyệt đối vào sự lãnh đạo sáng suốt của Cụ Hồ Chí Minh.
Cũng như hàng triệu người nông dân khác, ông Hai là một con người cần cù chất phác rất đáng yêu. Ông hay lam hay làm "ở quê ông làm suốt ngày, không mấy lúc chịu ngơi chân ngơi tay". Đi cày, đi cuốc, gánh phân, tát nước, đan rổ, đan rá,... ông đều làm khéo, làm giỏi.
Ông Hai đã sống qua hai chế độ, trước kia ông mù chữ, sau nhờ cách mạng mà ông được học "bình dân học vụ", biết đánh vần. Kim Lân đã kể rất hay về tình yêu làng của ông Hai. "Làng ta phong cảnh hữu tình"... không yêu làng sao được? Cái làng Chợ Dầu vốn là nơi chôn nhau cắt rốn của ông, "nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh", "đường trong làng toàn lát đá xanh, trời mưa trời gió ...bùn không dính đến gót chân"...
Trước kia, ông Hai rất lấy làm tự hào về cái sinh phần quan tổng đốc làng ông. Đi đâu ông cũng khoe, gặp ai ông cũng khoe "cái dinh cơ cụ thượng làng tôi có lăm lắm là của. Vườn hoa cây cảnh nom như động ấy...". Ông yêu làng Chợ Dầu với tất cả sự hồn nhiên, ngây thơ của người ít học. Ông đã mang thương tật trên mình khi bị bắt làm phu xây cái lăng ấy! Đáng lẽ ông không nên khoe, không nên "hả hê cả lòng".
Nỗi đau, nỗi nhục của một đời người nói làm gì nữa cho thêm phần nhục nhã? Nhắc lại chuyện xưa, cũ ấy của ông Hai, Kim Lân đã viết với một giọng văn châm biếm nhẹ nhàng. Từ ngày cách mạng thành công, ông Hai vẫn yêu làng, yêu với tất cả tình cảm trong sáng, chân thành. Ông đã có nhiều thay đổi về mặt nhận thức. Ông không bao giờ còn "đả động" đến "cái sinh phần" ấy nữa, ông biết "thù nó" đến tận tim gan.
Ông yêu cái làng Chợ Dầu kháng chiến với tất cả niềm kiêu hãnh cao cả! Cái làng Chợ Dầu của ông "mà cái phòng thông tin tuyên truyền sáng sủa rộng rãi nhất vùng, chòi phát thanh thì cao bằng ngọn tre, chiều chiều loa gọi cả làng đều nghe thấy". Ông khoe làng mình "những ngày khởi nghĩa rầm rập", các cụ phụ lão râu tóc bạc phơ vác gậy đi tập quân sự, "nhất là những hố, những ụ, những giao thông hào của làng ông thì lắm công trình không để đâu hết!".
Có thể nói, từ ngày đi tản cư, phải xa làng thân yêu, bao nỗi buồn vui của quá khứ và hiện tại chứa chất trong lòng ông bao tâm sự. Dưới ngòi bút của Kim Lân, ông Hai, một người nông dân yêu làng, yêu nước, hiền lành, chất phác... hiện lên một cách chân thực, ta thấy gần gũi, bình dị và đáng yêu lắm. Tình yêu làng, tình yêu quê hương là một trong những tình cảm sâu sắc nhất của người dân cày Việt Nam.
Quyết tâm kháng chiến, tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt của Hồ Chủ tịch cũng là một nét rất đẹp trong tư tưởng, tình cảm của ông Hai. Kháng chiến thì khắp nơi "Ruộng rẫy là chiến trường. Cuốc cày là vũ khí. Nhà nông là chiến sĩ". Vợ con đi tản cư, nhưng ông Hai vẫn ở lại cùng với đội du kích "đi đào đường, đắp ụ" để bảo vệ cái làng Chợ Dầu thân yêu. Khi hoàn cảnh gia đình neo bấn, vợ con thúc hách, cực chẳng đã phải xa quê hương, ông tự an ủi mình: "Thôi thì chẳng ở lại làng cùng anh em được thì tản cư âu cũng là kháng chiến!".
Xa làng rồi nhớ làng, tính nết ông Hai có phần thay đổi. Ông ít nói ít cười, lầm lầm lì lì, thậm chí cáu gắt, chửi bới vợ con. Ồng vô cùng đau khổ: "Chúng mày làm khổ ông! Chúng mày làm khổ ông vừa vừa chứ! Ông thì giết hết, ông thì giết hết!". Chúng ta cảm thông với "tâm sự" u uẩn của ông, thương ông lắm!
Trong lúc ông Hai đang hồ hởi với những chiến tích kháng chiến, những gương dũng cảm anh hùng của quân và dân ta thì ông như bị sét đánh về cái án "dữ" cả làng Chợ Dầu "Việt gian theo Tây",.., "vác cờ thần ra hoan hô" lũ giặc cướp! ông tủi nhục cúi gằm mặt mà đi, nằm vật ra giường như bị ốm nặng, nước mắt cứ tràn ra, có lúc ông chửi thề một cách chua chát! Ông sống trong bi kịch triền miên.
Vợ con vừa buồn vừa sợ. "Gian nhà lặng đi, hiu hắt". Ông sợ mụ chủ nhà... có lúc ông nghĩ quẩn "hay ta quay về làng"... nhưng rồi ông lại kiên quyết: "Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù!. Kim Lân rất sâu sắc và tinh tế miêu tả những biến thái vui, buồn, lo, sợ... của người nông dân về cái làng quê của mình. Họ đã yêu làng trong tình yêu nước, đặt tình yêu nước lên trên tình yêu làng. Đó là một bài học vô cùng quý giá và sâu sắc của ông Hai đem đến cho mỗi chúng ta!
Cuộc đối thoại giữa hai bố con ông Hai là một tình tiết cảm động và thú vị:
... - "À, thầy hỏi con nhé. Thế con ủng hộ ai?"
- "Ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn năm!"
Nghe con ngây thơ nói mà nước mắt ông chảy ròng ròng trên hai má... Lòng trung thành của cha con ông, của hàng triệu nông dân Việt Nam đối với lãnh tụ là vô cùng sâu sắc, kiên định, vẻ đẹp tâm hồn ấy của họ rất đáng tự hào, ca ngợi. Vì thế, khi cái tin thất thiệt "cả cái làng Chợ Dầu Việt gian theo Tây" được cải chính thì ông Hai là người sung sướng nhất.
Ông "tươi vui, rạng rỡ hẳn lên", "mồm bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ...". Ông mua quà cho con. Ông chạy sang nhà bác Thứ để "khoe" cái tin làng Chợ Dầu đánh giặc, nhà ông bị Tây đốt. Tự hào lắm chứ! Người đọc như được san sẻ niềm vui sướng cùng ông.
Gấp trang sách lại, chúng ta bồi hồi xúc động về tình yêu làng của ông Hai, về nghệ thuật kể chuyện tạo tình huống hấp dẫn, hồi hộp của nhà văn Kim Lân. Những phẩm chất tốt đẹp của ông Hai như cần cù lao động, chất phác, yêu quê hương đất nước... tiêu biểu cho bản chất cao quý, trong sáng của người dân cày Việt Nam. Chính họ đã đổ mồ hôi làm nên những bát cơm đầy dẻo thơm nuôi sống mọi người. Chính họ đã đem xương máu, đánh giặc "giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín"... (Thép Mới).
"Quê hương là chùm khế ngọt..." là niềm vui, nỗi buồn, là ước mơ đẹp của mỗi chúng ta. Quê hương đang đổi mới "ngói hóa", no ấm, giàu có trong thanh bình. Bài học sâu sắc nhất đối với em khi đọc truyện ngắn này của Kim Lân là tình yêu quê hương đất nước, từ lòng tự hào và biết ơn người dân cày Việt Nam.
Phân tích truyện Làng - mẫu 4
Trong những năm tháng kháng chiến của đất nước, hòa vào tinh thần kháng chiến của cả dân tộc, lòng yêu nước của mỗi con người chính là sức mạnh tạo nên thắng lợi vẻ vang. Có nhiều cách để thể hiện lòng yêu nước, yêu làng, gắn bó với làng cũng chính là thể hiện lòng yêu nước. Truyện ngắn “Làng” của nhà văn Kim Lân đã nói về một người nông dân có tình yêu làng, yêu nước sâu sắc.
Nhân vật chính của truyện là ông Hai, ông là người dân của làng Chợ Dầu và ông yêu lắm cái làng của mình, lúc nào cũng khoe làng mình với tất cả niềm hãnh diện, tự hào. Lúc nào kể về làng ông cũng kể say xưa, cứ kể mà không cần biết người ta có chú ý nghe hay không. Ông kể về mọi thứ, từ những mái nhà ngói san sát sầm uất như thành phố, những con đường lát đá xanh trời mưa bẩn không đến gót chân, đường ấy mà phơi thóc thì thượng hạng, không một hạt thóc đất. Đối với ông cái gì của làng cũng to lớn và đẹp đẽ nhất, bên cạnh đó ông còn vinh dự và tự hào vì làng mình có bề dày lịch sử, về tinh thần kháng chiến của làng.
Những buổi tập có cả ông cụ râu tóc bạc phơ vác gậy đi tập, những hố, ụ, hào, lắm công trình không kể đâu cho hết. Khi phải xa làng đến nơi tản cư, ông đã mang theo nỗi nhớ thương, trông ngóng về làng, dù xa làng nhưng ông luôn dõi theo, nghe ngóng tin tức từ làng. Tới khi ông nghe phải tin dữ, rằng làng ông theo Tây, ông đã đau đớn và nhục nhã biết bao, ông dù không dám tin nhưng vẫn cảm thấy mặc cảm, tủi nhục và xấu hổ vô cùng khi người ta cứ chửi cả làng ông như thế. Ông không dám đối diện, cũng không có cách nào nghĩ khác đi, ông chỉ biết ru rú trong nhà, ám ảnh nỗi xấu hổ và nhục nhã, cho tới khi bà chủ nhà muốn đuổi gia đình ông đi, ông cảm thấy bế tắc, ông thoáng nghĩ trở về làng nhưng đã gạt phắt đi “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây thì phải thù”.
Có thể nói, nhà văn đã rất đồng cảm, thấu hiểu để có thể miêu tả chân thật và sinh động tâm trạng của ông Hai khi chứng kiến nỗi đau làng theo Tây, ông yêu làng nhưng ông vẫn rạch ròi với yêu nước, dù làng có còn hay mất thì tấm lòng của ông vẫn luôn hướng về cách mạng, ủng hộ cụ Hồ và kháng chiến. Khi ông nghe được tin cải chính làng Chợ Dầu của ông không theo giặc, chẳng có gì có thể diễn tả nỗi niềm sung sướng và hạnh phúc của ông, niềm vui hiện rõ trên khuôn mặt và cử chỉ. Ông cứ đem cái tin mà Tây nó đốt nhà ông cháy tàn cháy rụi ra mà khoe, ông chẳng tiếc gia tài của mình miễn đó minh chứng cho sự trung thành và danh dự của làng. Tình cảm của ông Hai đối với làng thật khiến cho người ta xúc động và khâm phục.
Qua truyện ngắn “Làng”, nhà văn Kim Lân đã để lại một ấn tượng khó phai trong lòng người đọc, đó chính là một nhân vật ông Hai với tình yêu làng, yêu nước sâu sắc, tinh thần kháng chiến bất diệt. Ông chính là đại diện cho những người nông dân yêu nước trong thời kì chống Pháp lúc bấy giờ.
Phân tích truyện Làng - mẫu 5
Tác phẩm Làng của Kim Lân là một câu chuyện ngắn đặc sắc phản ánh những giá trị nhân văn sâu sắc về tình yêu quê hương, làng xóm và sự thay đổi trong tâm lý con người khi phải đối mặt với chiến tranh. Qua nhân vật chính là ông Hai, tác giả khắc họa chân dung của một người dân quê chân chất, yêu quê hương tha thiết, đồng thời cũng là hình mẫu của một con người có tình yêu đất nước nồng nàn. Bài viết sẽ phân tích về ý nghĩa của tác phẩm, những nhân vật trong truyện và cách thức tác giả sử dụng ngôn ngữ để làm nổi bật chủ đề của câu chuyện.
Trong truyện Làng, ông Hai là nhân vật đại diện cho những người dân quê có lòng yêu nước, yêu làng xóm sâu sắc. Dù đã đi xa, nhưng tâm hồn ông Hai vẫn luôn hướng về quê hương. Ông gắn bó với làng đến mức dù có phải đi xa, nhưng trong mỗi câu chuyện, mỗi suy nghĩ của ông, làng luôn chiếm vị trí trung tâm trong trái tim ông.
Khi nghe tin làng bị giặc chiếm, ông Hai cảm thấy rất đau đớn và bối rối. Điều này thể hiện rằng, với ông, làng không chỉ là nơi sinh sống mà còn là phần không thể tách rời trong cuộc sống tinh thần của ông. Chính vì thế, khi tin đồn về sự phản bội của làng bị giặc chiếm được lan truyền, ông Hai ngay lập tức trở thành một người hoang mang và tâm trạng bị xáo trộn. Tuy nhiên, tình yêu làng của ông không thể bị đánh bại hoàn toàn bởi tin đồn đó. Ông quyết tâm không tin vào thông tin xấu, không thể để những lời đồn đại ảnh hưởng đến tình yêu và niềm tin vào quê hương.
Khi được nghe về tin đồn rằng làng ông bị giặc chiếm và có một số người trong làng đã phản bội theo giặc, ông Hai đã rất buồn bã và đau đớn. Tuy nhiên, sự đau khổ đó không thể giết chết tình yêu đối với quê hương của ông. Hành động của ông Hai khi quyết định từ chối tin vào những lời đồn đoán và đứng lên bảo vệ danh dự của làng cho thấy sự trung thành sâu sắc của ông đối với quê hương.
Mặc dù ông phải đối mặt với một tình huống căng thẳng và mâu thuẫn giữa lòng yêu nước và việc tin vào một số thông tin không xác thực, ông vẫn thể hiện một quyết tâm mãnh liệt khi muốn bảo vệ cho hình ảnh đẹp đẽ của làng mình. Tình yêu của ông đối với làng thể hiện qua cách ông giải thích về sự thật của làng với người khác và qua cách ông đối diện với sự hoang mang trong lòng mình.
Truyện Làng cũng khắc họa rõ nét sự chuyển biến trong tâm lý của nhân vật ông Hai. Ban đầu, khi nghe tin làng bị giặc chiếm, ông vô cùng hoang mang và đau đớn, tâm trạng ông đầy những xáo trộn. Lúc này, ông Hai trở thành một con người rối loạn cảm xúc, không biết nên tin vào đâu.
Nhưng đến cuối truyện, khi nghe được tin làng mình vẫn còn nguyên vẹn và không hề bị phản bội, tâm lý ông Hai chuyển biến mạnh mẽ. Cảm giác hoang mang, lo sợ hoàn toàn biến mất, thay vào đó là niềm vui, niềm tin yêu vào quê hương, vào tình đoàn kết. Cái kết của truyện là sự vỡ òa của niềm hạnh phúc khi ông Hai biết rằng quê hương của mình vẫn đứng vững và chưa hề có ai phản bội.
Kim Lân đã rất thành công trong việc sử dụng ngôi kể thứ ba để tạo dựng bối cảnh và khắc họa tâm lý nhân vật. Việc mô tả tâm trạng và cảm xúc của ông Hai bằng cách nhìn từ ngoài vào giúp người đọc dễ dàng tiếp cận và thấu hiểu những nội tâm phức tạp của nhân vật. Cảm xúc của ông Hai không chỉ được diễn đạt qua lời nói mà còn được thể hiện qua hành động, thái độ của ông khi gặp phải tin đồn về sự phản bội của làng.
Bên cạnh đó, ngôn ngữ trong tác phẩm cũng mang đậm sắc thái dân gian và giọng điệu giản dị, tự nhiên. Điều này không chỉ làm nổi bật tính cách của ông Hai – một người dân quê chân chất, giản dị mà còn giúp người đọc cảm nhận được rõ nét những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam. Câu chuyện như một bản hùng ca về lòng trung thành, sự yêu quê hương và những phẩm chất đáng quý của con người Việt Nam trong chiến tranh.
Tác phẩm Làng của Kim Lân không chỉ là một câu chuyện về tình yêu làng quê mà còn là một bức tranh phản ánh sức mạnh tinh thần và sự trung thành của con người đối với đất nước, quê hương. Câu chuyện của ông Hai cũng là một hình mẫu tiêu biểu cho những con người trong thời kỳ chiến tranh, khi mà niềm tin vào làng xóm và đất nước luôn được duy trì dù có phải đối diện với muôn vàn khó khăn, thử thách.
Bài học sâu sắc mà Làng mang lại là tình yêu quê hương không chỉ được thể hiện qua lời nói mà còn qua hành động và quyết tâm bảo vệ những giá trị tốt đẹp dù trong bất cứ hoàn cảnh nào. Câu chuyện của ông Hai là minh chứng sống động cho sự trung thành và lòng yêu nước bất khuất, một giá trị vô cùng quý báu trong thời kỳ lịch sử đầy biến động của dân tộc Việt Nam.
Phân tích truyện Làng - mẫu 6
"Làng" của Kim Lân là một tác phẩm nổi tiếng trong nền văn học hiện đại Việt Nam, được viết trong giai đoạn đất nước đang diễn ra cuộc kháng chiến chống Pháp. Qua câu chuyện về một người nông dân với tâm lý lo âu, hoang mang khi đất nước đứng trước thời kỳ gian nan, tác phẩm thể hiện những tình cảm sâu sắc, những tư tưởng nhân văn về lòng yêu quê hương, đất nước. Bằng những nhân vật mang đậm tính cách và số phận, Kim Lân đã khéo léo truyền tải thông điệp về tình yêu quê hương, tình yêu đất nước và lòng kiên trung trong cuộc sống.
Nhân vật chính trong tác phẩm là ông Hai, một người nông dân sống ở một làng quê yên bình. Ông là người có tình yêu sâu sắc đối với làng quê, gia đình và đất nước. Tuy nhiên, cuộc sống của ông lại có sự thay đổi lớn khi chiến tranh nổ ra. Mặc dù là một nông dân bình dị, ông Hai là hình mẫu của người nông dân trung hậu, chất phác và yêu làng, yêu nước. Điều đặc biệt là tình yêu làng quê của ông Hai gắn bó rất chặt chẽ với niềm tin vào cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc.
Ông Hai là người rất yêu làng, yêu quê hương của mình. Điều này thể hiện rõ qua những lời tâm sự của ông khi nhắc đến làng. Ông không chỉ yêu những cảnh vật thân quen mà còn yêu mảnh đất mà mình đã sinh ra và lớn lên, yêu tất cả những con người đã gắn bó, sinh sống trong đó. Khi ông nghe tin về cuộc chiến tranh và sự thay đổi của làng mình, ông cảm thấy đau đớn và khổ tâm. Đây là một phần trong tình yêu quê hương của ông: không chỉ gắn bó với những gì gần gũi, thân quen mà còn khát khao bảo vệ, giữ gìn cho làng quê của mình không bị thay đổi bởi những yếu tố bên ngoài.
Khi ông Hai biết tin làng mình bị nghi ngờ là theo giặc, tâm trạng của ông đã có sự thay đổi mạnh mẽ. Ban đầu, ông không thể tin vào điều đó, bởi làng ông vốn nổi tiếng yêu nước, có truyền thống cách mạng. Tuy nhiên, khi nhận được tin chính thức, ông không thể giấu được cảm giác xót xa, đau đớn. Ông đã suy nghĩ rất nhiều về chuyện này và cuối cùng, trong tâm trạng vô cùng rối bời, ông quyết định rời bỏ làng quê để tránh gặp phải những tình huống khó xử.
Mâu thuẫn nội tâm của ông Hai là một trong những điểm nổi bật trong tác phẩm. Là một người nông dân bình dị, ông luôn yêu mến làng quê của mình, nhưng khi nghe tin làng mình theo giặc, ông không thể tin được. Ông phải đối mặt với một sự lựa chọn đầy khó khăn: có nên tiếp tục yêu thương làng quê hay nên từ bỏ và tôn trọng lý tưởng của đất nước? Mâu thuẫn trong lòng ông là sự xung đột giữa tình yêu quê hương và lòng yêu nước, sự đấu tranh giữa cái cá nhân và cái chung.
Cuối cùng, khi ông Hai nghe được tin làng mình thật sự theo kháng chiến, ông vô cùng xúc động. Đó là một cảm giác nhẹ nhõm, vui mừng vì ông đã không phải sống trong cảm giác bất an về tình yêu quê hương. Lòng ông vui sướng, không còn mâu thuẫn trong lòng nữa. Ông Hai lại quay trở lại làng, chấp nhận cuộc sống bình dị và tiếp tục đồng hành cùng cuộc kháng chiến. Điều này chứng tỏ rằng ông Hai vẫn giữ vững niềm tin vào cuộc kháng chiến, vào dân tộc, và càng làm nổi bật sự hy sinh của những người dân yêu nước trong cuộc chiến tranh chống Pháp.
Tình yêu quê hương và tình yêu đất nước trong tác phẩm "Làng" của Kim Lân không chỉ là những tình cảm giản đơn, mà nó còn gắn liền với ý chí kiên cường, tinh thần quyết chiến trong hoàn cảnh kháng chiến. Khi đất nước lâm nguy, tình yêu quê hương của ông Hai được thử thách một cách nghiêm khắc. Tuy nhiên, ông vẫn giữ được niềm tin vào cách mạng, vào kháng chiến, điều này chứng tỏ rằng tình yêu quê hương gắn liền với tình yêu đất nước, không thể tách rời.
Tác phẩm “Làng” của Kim Lân đã khắc họa sinh động hình ảnh người nông dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Qua nhân vật ông Hai, tác giả không chỉ thể hiện tình yêu quê hương, yêu làng mà còn ca ngợi lòng kiên trung, dũng cảm trong những ngày đất nước lâm nguy. “Làng” là một bài học sâu sắc về sự gắn bó giữa con người với quê hương, về tình yêu đất nước trong hoàn cảnh chiến tranh, là sự phản ánh tinh thần đoàn kết và quyết tâm chiến thắng kẻ thù của dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử.
Phân tích truyện Làng - mẫu 7
Kim Lân là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại, nổi tiếng với thể loại truyện ngắn viết về cuộc sống nông thôn và người nông dân. Với sự am hiểu sâu sắc về đời sống làng quê Bắc Bộ, các sáng tác của ông thường phản ánh những phong tục, nếp sinh hoạt và số phận của người nông dân trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét rằng Kim Lân là người luôn gắn bó với “đất”, với “người” và với vẻ đẹp mộc mạc, thuần hậu của cuộc sống nông thôn. Truyện ngắn Làng (1948) chính là tác phẩm tiêu biểu thể hiện rõ nhận định ấy. Qua nhân vật ông Hai – một người nông dân phải rời quê đi tản cư trong thời kì kháng chiến chống Pháp – nhà văn đã khắc họa sâu sắc tình yêu làng quê gắn liền với lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến của người nông dân Việt Nam.
Trước hết, thành công nổi bật của truyện là việc xây dựng một tình huống truyện đặc biệt nhằm làm nổi bật tâm lí và tình cảm của nhân vật ông Hai. Đó là việc ông nghe được tin đồn rằng làng Chợ Dầu – quê hương ông – theo giặc lập tề. Tin dữ ấy đã tạo nên bước ngoặt cho câu chuyện, bởi ông Hai vốn là người rất yêu làng và luôn tự hào về quê hương của mình. Khi nghe tin ấy, ông rơi vào trạng thái đau đớn, tủi hổ và thất vọng. Tình huống này đã đẩy nhân vật vào một cuộc đấu tranh nội tâm gay gắt giữa tình yêu làng và lòng trung thành với kháng chiến. Cuối cùng, tình yêu nước vẫn là tình cảm lớn hơn, bao trùm lên tình yêu làng. Khi tin cải chính được đưa đến, nút thắt của câu chuyện được tháo gỡ, qua đó khẳng định lòng trung thành của người dân làng Chợ Dầu với kháng chiến và với cụ Hồ.
Thông qua tình huống truyện ấy, Kim Lân đã thể hiện tài năng miêu tả tâm lí nhân vật rất tinh tế và sâu sắc. Khi nghe tin làng mình theo giặc, ông Hai rơi vào trạng thái sững sờ và đau đớn. Tác giả đã khắc họa rất rõ sự biến đổi trong tâm trạng của nhân vật: từ niềm vui, niềm tự hào về làng chuyển sang cảm giác nhục nhã, xấu hổ và lo lắng. Hình ảnh ông “lặng đi”, “cổ nghẹn ắng lại”, “cúi gằm mặt mà đi” đã diễn tả chân thực sự choáng váng và tủi hổ của ông trước tin dữ.
Khi trở về nhà, nỗi đau ấy càng trở nên sâu sắc hơn. Nhìn đàn con nhỏ, ông lại càng tủi thân và lo lắng cho tương lai của chúng. Những dòng độc thoại nội tâm cho thấy sự giằng xé trong tâm hồn ông. Ông vừa căm giận những kẻ theo giặc phản bội đất nước, vừa không thể tin rằng người dân làng mình lại có thể làm điều nhục nhã ấy. Niềm tin và nỗi nghi ngờ cứ đan xen, khiến ông sống trong tâm trạng nặng nề và bế tắc.
Từ khi nghe tin dữ, ông Hai gần như thu mình lại, không dám ra ngoài gặp ai. Ông luôn cảm thấy như mọi người đang bàn tán về làng mình. Chỉ cần nghe thấy những từ như “Việt gian”, “Tây”, hay “cam nhông” là ông lại chột dạ, lo lắng. Đặc biệt, khi nghe tin bà chủ nhà có ý định đuổi gia đình ông đi, ông rơi vào trạng thái tuyệt vọng. Ông không biết phải đi đâu, nhưng cũng không thể trở về làng vì như thế đồng nghĩa với việc phản bội kháng chiến. Trong hoàn cảnh ấy, ông đã đưa ra quyết định đầy đau đớn: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây thì phải thù”. Câu nói ấy cho thấy tình yêu nước và lòng trung thành với kháng chiến đã trở thành tình cảm lớn lao hơn cả trong tâm hồn người nông dân.
Trong những lúc bế tắc, ông chỉ còn biết tâm sự với đứa con nhỏ. Cuộc trò chuyện giữa hai cha con đã bộc lộ tấm lòng chân thành, thủy chung của ông đối với kháng chiến và với cụ Hồ. Thực chất, ông đang tự giãi bày và khẳng định lòng trung thành của mình.
Niềm vui vỡ òa khi ông nhận được tin cải chính rằng làng Chợ Dầu không theo giặc. Tin vui ấy khiến ông như được hồi sinh. Ông trở nên phấn chấn, vui vẻ, gương mặt rạng rỡ và vội vã đi khoe với mọi người. Điều đặc biệt là ông lại khoe rằng “Tây nó đốt nhà tôi rồi”. Đối với người nông dân, ngôi nhà là tài sản lớn lao và là thành quả của cả đời lao động. Thế nhưng ông Hai lại vui mừng khi nhà mình bị đốt, bởi đó là bằng chứng cho thấy làng ông không theo giặc và gia đình ông vẫn trung thành với kháng chiến. Chi tiết ấy đã thể hiện sâu sắc tình yêu làng gắn bó chặt chẽ với lòng yêu nước của người nông dân trong thời kì kháng chiến.
Không chỉ thành công về nội dung, truyện còn gây ấn tượng bởi nghệ thuật xây dựng nhân vật và ngôn ngữ kể chuyện. Kim Lân đã khắc họa tâm lí nhân vật rất tự nhiên và chân thực, khiến người đọc cảm nhận được sự giằng xé, day dứt trong tâm hồn ông Hai. Ngôn ngữ truyện mang đậm màu sắc khẩu ngữ, gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày của người nông dân. Điều đó làm cho nhân vật trở nên sinh động và chân thực hơn.
Có thể nói, truyện ngắn Làng là một tác phẩm đặc sắc của Kim Lân. Qua nhân vật ông Hai, nhà văn đã thể hiện sâu sắc tình yêu quê hương gắn liền với lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến của người nông dân Việt Nam trong thời kì chống Pháp. Đồng thời, tác phẩm cũng cho thấy tài năng của Kim Lân trong việc xây dựng tình huống truyện độc đáo, miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế và sử dụng ngôn ngữ giản dị, giàu sức gợi. Chính những yếu tố đó đã làm nên giá trị bền vững cho truyện ngắn này.
Phân tích truyện Làng - mẫu 8
Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Tài, sinh năm 1921, quê ở Hà Bắc. Ông là một nhà văn nổi tiếng với thể loại truyện ngắn của nền văn học Việt Nam hiện đại. Từ trước Cách mạng tháng Tám, Kim Lân đã có nhiều sáng tác đăng báo. Với sự am hiểu sâu sắc và tình cảm gắn bó với người nông dân, các tác phẩm của ông thường phản ánh cuộc sống, phong tục và số phận của người dân vùng nông thôn Bắc Bộ.
Truyện ngắn Làng được viết năm 1948, trong thời kì đầu của cuộc Kháng chiến chống Pháp. Đây là một trong những tác phẩm tiêu biểu của Kim Lân khi viết về tình yêu quê hương gắn liền với lòng yêu nước của người nông dân. Thông qua nhân vật ông Hai, tác giả đã thể hiện sâu sắc tình cảm yêu làng, yêu nước và tinh thần kháng chiến của người dân Việt Nam trong những năm tháng khó khăn của đất nước.
Nhân vật ông Hai là một người nông dân có tình yêu tha thiết đối với quê hương – làng Chợ Dầu. Ông yêu làng đến mức đi đâu cũng nhắc tới và tự hào kể về ngôi làng của mình. Mỗi khi nói về làng, ông đều tỏ ra say sưa, hào hứng, kể rất nhiều điều tốt đẹp của quê hương như những ngôi nhà ngói san sát, con đường lát đá xanh sạch sẽ hay những mùa lúa tốt tươi. Những lời khoe ấy cho thấy niềm tự hào sâu sắc của ông đối với nơi “chôn rau cắt rốn”.
Không chỉ vậy, ông Hai còn từng tự hào về sinh phần của viên tổng đốc trong làng. Tuy nhiên, sau khi cách mạng thành công, nhận thức của ông đã thay đổi. Từ đó, mỗi khi nói về làng, ông lại kể về những ngày khởi nghĩa sôi nổi, những buổi tập quân sự của dân làng, kể cả hình ảnh những cụ già cũng tham gia luyện tập. Ông còn nhắc tới những công trình phòng thủ như hầm hào, ụ chiến đấu… Tất cả những điều ấy khiến ông càng thêm tự hào về làng Chợ Dầu.
Khi chiến tranh lan tới, ông Hai phải rời quê hương đi tản cư. Xa làng, trong lòng ông luôn đầy ắp nỗi nhớ và sự day dứt. Cuộc sống của ông dường như gắn bó chặt chẽ với những vui buồn của làng. Điều đó cho thấy tình yêu quê hương đã trở thành một tình cảm sâu nặng và phổ biến trong tâm hồn người nông dân thời bấy giờ.
Tình yêu làng của họ bắt đầu từ những điều giản dị, thân thuộc như cây đa, giếng nước, sân đình… Từ đó, tình cảm ấy dần phát triển thành lòng yêu nước sâu sắc. Điều này khiến ta nhớ đến câu nói nổi tiếng của Ilya Ehrenburg: “Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”.
Khi đang sống ở nơi tản cư, ông Hai thường xuyên đến trụ sở để nghe tin tức về cuộc kháng chiến và về làng Chợ Dầu. Một ngày nọ, ông bất ngờ nghe được tin đồn rằng làng mình theo giặc. Tin dữ ấy khiến ông vô cùng đau đớn. Ông sững sờ, cảm thấy cổ nghẹn lại và không tin nổi điều mình vừa nghe. Trong lòng ông tràn ngập cảm giác tủi hổ và nhục nhã vì làng quê mà ông luôn tự hào lại bị mang tiếng xấu như vậy.
Từ đó, ông Hai luôn căm phẫn những kẻ phản bội đất nước. Ông nguyền rủa những người theo giặc vì đã làm nhục danh dự của quê hương. Nỗi đau ấy khiến ông không dám ra ngoài gặp gỡ ai, chỉ quanh quẩn trong nhà và luôn lo sợ người khác nhắc đến chuyện làng mình.
Tình cảnh của ông càng trở nên bế tắc khi bà chủ nhà báo rằng gia đình ông có thể phải rời đi vì làng Chợ Dầu bị nghi là theo giặc. Trong lúc tuyệt vọng, ông từng nghĩ đến việc quay về làng. Nhưng ngay lập tức, ông gạt bỏ ý nghĩ đó vì nếu trở về thì chẳng khác nào phản bội kháng chiến. Cuối cùng, ông khẳng định dứt khoát: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây thì phải thù”. Qua đó cho thấy tình yêu nước đã trở thành tình cảm lớn lao hơn cả trong lòng ông.
Trong những ngày đau khổ ấy, ông thường tâm sự với đứa con út của mình. Cuộc trò chuyện giữa hai cha con thể hiện rõ lòng trung thành của ông đối với kháng chiến và với Hồ Chí Minh. Ông hỏi con: “Con ủng hộ ai?”, và cậu bé trả lời dứt khoát rằng ủng hộ cụ Hồ. Lời đáp ấy như một lời khẳng định cho tấm lòng của cả hai cha con đối với cách mạng.
Sau nhiều ngày lo lắng, ông Hai cuối cùng cũng nhận được tin cải chính rằng làng Chợ Dầu không hề theo giặc. Tin vui ấy khiến ông vô cùng sung sướng. Ông vội vàng đi khắp nơi báo tin và khoe với mọi người rằng làng mình vẫn trung thành với kháng chiến. Đặc biệt, ông còn vui vẻ kể rằng nhà mình đã bị giặc đốt cháy. Đối với người nông dân, căn nhà là tài sản quý giá nhất, nhưng ông Hai lại cảm thấy tự hào vì đó là bằng chứng cho thấy gia đình ông vẫn đứng về phía kháng chiến.
Qua nhân vật ông Hai, Kim Lân đã khắc họa thành công hình ảnh người nông dân Việt Nam chân chất, thật thà nhưng có lòng yêu nước sâu sắc. Họ đặt lợi ích của đất nước lên trên lợi ích cá nhân và tình cảm riêng.
Không chỉ thành công về nội dung, tác phẩm còn nổi bật ở nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật. Diễn biến tâm trạng của ông Hai được khắc họa rất sinh động và chân thực: từ niềm tự hào về làng, đến nỗi đau khổ khi nghe tin dữ, và cuối cùng là niềm vui vỡ òa khi biết sự thật. Bên cạnh đó, ngôn ngữ truyện mang đậm màu sắc khẩu ngữ của người nông dân, tạo nên sự gần gũi và chân thực cho tác phẩm.
Có thể nói, Làng là một truyện ngắn đặc sắc của Kim Lân. Tác phẩm đã thể hiện sâu sắc tình yêu quê hương gắn liền với lòng yêu nước của người nông dân Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Pháp. Đồng thời, qua đó người đọc cũng thấy rõ tài năng của Kim Lân trong việc xây dựng tình huống truyện và miêu tả tâm lí nhân vật một cách tinh tế và sinh động.
Phân tích truyện Làng - mẫu 9
Kim Lân là một trong những cây bút truyện ngắn xuất sắc của văn học hiện đại Việt Nam, người vốn gắn bó máu thịt với mảnh đất hình chữ S và có vốn sống vô cùng sâu sắc về nông thôn. Thế giới nghệ thuật của ông thường mang đậm "hương đồng gió nội" với những thú chơi dân dã, phong lưu từ thả diều, nuôi chim đến gánh chèo đêm xuân. Tuy nhiên, đỉnh cao trong sự nghiệp của Kim Lân chính là mảng đề tài về người nông dân và kháng chiến, mà tiêu biểu nhất là truyện ngắn Làng. Qua nhân vật ông Hai, tác giả đã khắc họa thành công hình ảnh một lão nông cần cù, chất phác, đặc biệt là sự chuyển biến kỳ diệu trong tâm hồn: từ lòng yêu làng quê thuần túy đến tình yêu đất nước rộng lớn, cao cả.
Trước hết, ông Hai hiện lên là một con người lao động điển hình với bản chất cần cù, hay lam hay làm. Ở quê, ông làm lụng suốt ngày, không mấy lúc chịu ngơi chân ngơi tay; từ cày cuốc, gánh phân đến đan rổ, đan rá, việc gì ông cũng làm một cách khéo léo và nhiệt thành. Tình yêu làng của ông vốn dĩ bắt nguồn từ những điều giản dị, hồn nhiên như thế. Trước cách mạng, ông Hai yêu làng Chợ Dầu theo cách của một người nông dân ít học, ông tự hào về cái "sinh phần" của quan tổng đốc với vẻ nguy nga, lộng lẫy dù chính ông đã phải chịu bao cực nhọc khi bị bắt đi phu xây dựng cái lăng ấy. Đó là một tình yêu còn mang nặng tâm lý tiểu nông, có phần khoe khoang và ngây thơ. Thế nhưng, ánh sáng của cách mạng và phong trào Bình dân học vụ đã thay đổi cuộc đời ông, giúp ông biết đọc, biết viết và quan trọng hơn là biết "thù" cái sinh phần ấy đến tận tim gan. Tình yêu làng cũ đã được thay thế bằng niềm kiêu hãnh về một làng Chợ Dầu kháng chiến – nơi có phòng thông tin sáng sủa, có chòi phát thanh cao bằng ngọn tre và những hố ụ, giao thông hào chuẩn bị đánh giặc.
Bi kịch tâm lý của ông Hai bắt đầu khi gia đình ông phải đi tản cư. Xa làng, ông nhớ quê da diết, tính tình trở nên lầm lì, hay cáu gắt vì nỗi lòng luôn đau đáu hướng về nơi chôn nhau cắt rốn. Đỉnh điểm của câu chuyện là khi ông nghe tin sét đánh: làng Chợ Dầu theo Tây làm Việt gian. Nỗi đau ấy như một đòn giáng mạnh vào lòng tự trọng của ông. Kim Lân đã cực kỳ tinh tế khi miêu tả biến thái tâm lý nhân vật: ông xấu hổ đến mức "cúi gằm mặt mà đi", về đến nhà thì nằm vật ra giường, nước mắt trào ra cay đắng. Nỗi tủi nhục ấy lớn đến mức ông không dám nhìn mặt ai, sợ hãi mụ chủ nhà và rơi vào sự bế tắc tột độ. Trong giây phút tuyệt vọng nhất, ông đã tự đấu tranh tư tưởng quyết liệt: "Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù!". Đây là một sự lựa chọn đau đớn nhưng vô cùng dứt khoát, khẳng định rằng trong tâm thức người nông dân bấy giờ, tình yêu nước, niềm tin vào kháng chiến đã vượt lên trên cả tình cảm xóm làng cục bộ.
Vẻ đẹp tâm hồn của ông Hai còn được kết tinh trong cuộc đối thoại cảm động với đứa con út. Khi nghe con ngây thơ nói "Ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn năm!", nước mắt ông Hai chảy ròng ròng trên hai má. Những giọt nước mắt ấy chứa đựng sự trung thành tuyệt đối, là lời thề thủy chung của hàng triệu người nông dân Việt Nam đối với lãnh tụ và sự nghiệp cách mạng. Chính vì tình cảm thiêng liêng ấy, nên khi tin đồn được cải chính, ông Hai như được hồi sinh lần thứ hai. Hình ảnh ông "tươi vui, rạng rỡ hẳn lên", cặp mắt hung hung đỏ vì sung sướng, miệng bỏm bẻm nhai trầu đi khoe khắp nơi về việc nhà mình bị Tây đốt là một chi tiết mang sức công phá mãnh liệt. Với ông Hai, mất mát về vật chất chẳng thấm tháp gì so với việc danh dự của làng được khôi phục. Việc nhà bị đốt chính là bằng chứng hùng hồn nhất khẳng định làng ông không theo giặc, làng ông vẫn là làng kháng chiến.
Có thể nói, qua ngòi bút kể chuyện bậc thầy và nghệ thuật xây dựng tình huống hấp dẫn, Kim Lân đã tạc nên một bức chân dung người nông dân Việt Nam vừa bình dị, vừa cao cả. Ông Hai không chỉ là một lão nông yêu làng mà còn là một chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng, biết đặt lợi ích quốc gia lên trên hết. Gấp trang sách lại, chúng ta không khỏi bồi hồi xúc động trước một tấm lòng son sắt, một bản chất cao quý của những con người đã đổ mồ hôi và xương máu để "giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín". Bài học về lòng yêu quê hương và sự biết ơn đối với những người dân cày Việt Nam mà ông Hai đem lại sẽ mãi là ngọn lửa sưởi ấm tâm hồn mỗi thế hệ độc giả.
Phân tích truyện Làng - mẫu 10
Trong dòng chảy của văn học kháng chiến chống Pháp, Kim Lân hiện lên là một nhà văn của đồng quê, một người con thuần hậu của nội cỏ bờ tre. Ông có một biệt tài trong việc khai thác tâm lý người nông dân, mà tiêu biểu nhất là truyện ngắn "Làng". Tác phẩm không chỉ là một câu chuyện về tình yêu quê hương đơn thuần, mà còn là bản hòa ca về sự chuyển biến sâu sắc trong nhận thức của người nông dân Việt Nam: tình yêu làng giờ đây đã hòa quyện, thống nhất với tình yêu kháng chiến, yêu cụ Hồ.
Mở đầu tác phẩm, Kim Lân xây dựng nhân vật ông Hai với một đặc điểm tâm lý rất "nông dân": tính hay khoe làng. Với ông Hai, làng Chợ Dầu là niềm kiêu hãnh, là sinh mệnh. Dù phải đi tản cư, thân ở nơi xa nhưng tâm hồn ông vẫn đau đáu hướng về gốc đa, bến nước. Ông khoe về cái sinh phần của viên tổng đốc, khoe về tinh thần kháng chiến của làng bằng một sự hào hứng, say mê. Tình yêu làng của ông lúc này vẫn mang tính chất cảm tính, cục bộ của người dân cày gắn bó với mảnh đất chôn rau cắt rốn.
Xung đột kịch tính của truyện bùng nổ khi ông Hai nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc. Kim Lân đã tỏ ra là một bậc thầy trong việc miêu tả tâm lý nhân vật ở phân đoạn này. Ngay khi nghe tin dữ, ông Hai "cổ nghẹn đắng ẳn lại, da mặt tê rân rân", ông lặng đi như không thở được. Nỗi đau ấy quá lớn, biến thành sự nhục nhã, ê chề. Từ một người hay lam hay làm, hay trò chuyện, ông Hai trở nên lầm lũi, "cứ cúi gằm mặt mà đi", quanh quẩn trong căn buồng chật hẹp với nỗi lo sợ ám ảnh. Câu hỏi tu từ vang lên trong tâm trí ông: "Hy vọng gì ở cái giống Việt gian bán nước ấy?" là minh chứng cho sự sụp đổ của một niềm tin sắt đá.
Đỉnh cao của bi kịch tâm lý là khi ông Hai rơi vào sự bế tắc giữa hai lựa chọn: "Về làng thì bỏ kháng chiến, bỏ Cụ Hồ... Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây rồi thì phải thù". Đây là một bước ngoặt quan trọng trong tư tưởng. Tình yêu quê hương vốn dĩ bản năng đã được nâng tầm thành tình yêu đất nước, yêu cách mạng. Quyết định "Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây rồi thì phải thù" là một sự lựa chọn đau đớn nhưng dứt khoát, khẳng định rằng lợi ích của dân tộc, của cuộc kháng chiến phải đặt lên trên tình cảm cá nhân, cục bộ.
Cuộc trò chuyện giữa ông Hai và đứa con út ở cuối truyện chính là lời thề thủy chung với cách mạng. Những lời thủ thỉ của đứa trẻ "Ủng hộ cụ Hồ Chí Minh" thực chất là tiếng lòng chân thành, mộc mạc của ông Hai. Ông muốn minh oan cho mình, muốn khẳng định cái tâm trong sạch của một người nông dân kháng chiến. Vì thế, khi tin đồn được cải chính, ông Hai như được hồi sinh. Chi tiết ông "tây xách tay bên này, tây xách tay bên kia" đi khoe việc nhà mình bị Tây đốt là một chi tiết đắt giá và đầy cảm động. Nhà bị đốt – tài sản lớn nhất của người nông dân – vậy mà ông lại vui mừng, bởi lẽ nó là bằng chứng đanh thép cho thấy làng ông không theo giặc. Sự mất mát về vật chất chẳng thấm tháp gì so với sự hồi sinh của danh dự và tình yêu làng.
Về mặt nghệ thuật, Kim Lân đã thành công rực rỡ trong việc sử dụng ngôn ngữ nhân vật mang đậm chất nông dân Bắc Bộ: vừa mộc mạc, vừa hóm hỉnh lại rất giàu sức biểu cảm. Cách xây dựng tình huống truyện bất ngờ, nghẹt thở cùng nghệ thuật miêu tả tâm lý qua hành động, lời đối thoại và độc thoại nội tâm đã khiến nhân vật ông Hai trở nên sống động, gần gũi như bước ra từ đời thực.
Tóm lại, truyện ngắn "Làng" là một tác phẩm xuất sắc viết về người nông dân trong kháng chiến. Qua nhân vật ông Hai, Kim Lân đã khẳng định một chân lý: Tình yêu quê hương là cội nguồn của tình yêu đất nước. Tác phẩm không chỉ có giá trị trong thời chiến mà còn nhắc nhở thế hệ hôm nay về sự gắn bó giữa cá nhân với cộng đồng, về lòng tự tôn dân tộc và trách nhiệm với vận mệnh của đất nước.
Phân tích truyện Làng - mẫu 11
Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, nhiều tác phẩm đã khắc họa sâu sắc tình cảm của con người đối với quê hương và đất nước trong thời kì kháng chiến. Một trong những truyện ngắn tiêu biểu là Làng của nhà văn Kim Lân. Tác phẩm đã thể hiện thành công tình yêu làng quê tha thiết gắn liền với lòng yêu nước của người nông dân trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Nhân vật trung tâm của truyện là Ông Hai, một người nông dân giàu tình cảm và có sự chuyển biến sâu sắc trong nhận thức.
Trước hết, truyện đã khắc họa tình yêu làng sâu nặng của ông Hai. Trước khi tản cư, ông Hai luôn tự hào về làng Làng Chợ Dầu của mình. Ông thường khoe về làng với niềm vui và sự hãnh diện: từ con đường, ngôi nhà cho đến truyền thống cách mạng của làng. Khi phải rời làng đi tản cư, ông luôn nhớ về quê hương với nỗi nhớ da diết. Mỗi khi nghe ai nhắc đến làng Chợ Dầu, ông lại hào hứng kể chuyện, thể hiện niềm tự hào và tình cảm gắn bó sâu sắc. Qua đó, Kim Lân đã cho thấy tình yêu làng quê là một tình cảm tự nhiên, chân thành và rất đỗi thiêng liêng của người nông dân Việt Nam.
Tuy nhiên, tình huống truyện trở nên căng thẳng khi ông Hai nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc. Tin đồn ấy khiến ông vô cùng đau đớn và xấu hổ. Từ một người luôn tự hào về làng, ông bỗng cảm thấy tủi nhục và không dám gặp gỡ ai. Ông sợ người khác khinh thường, sợ rằng quê hương mình đã phản bội lại kháng chiến. Tâm trạng của ông được miêu tả rất tinh tế: từ bàng hoàng, đau khổ đến tuyệt vọng. Qua diễn biến tâm lý này, nhà văn đã thể hiện rõ tình yêu làng gắn bó chặt chẽ với lòng yêu nước. Nếu làng theo giặc thì ông sẵn sàng đau đớn mà từ bỏ tình cảm riêng để đứng về phía kháng chiến.
Điều đó được thể hiện rõ khi ông Hai khẳng định lập trường của mình. Trong lúc trò chuyện với đứa con nhỏ, ông đã nói rằng: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây thì phải thù.” Câu nói giản dị ấy đã thể hiện một nhận thức sâu sắc: tình yêu quê hương phải đặt trong mối quan hệ với tình yêu đất nước. Qua nhân vật ông Hai, Kim Lân đã khắc họa sự trưởng thành trong ý thức của người nông dân thời kháng chiến – họ không chỉ yêu làng mà còn biết đặt lợi ích của Tổ quốc lên trên hết.
Khi tin đồn được cải chính, ông Hai vô cùng vui sướng và hạnh phúc. Ông chạy đi khắp nơi để khoe rằng làng Chợ Dầu của mình vẫn trung thành với cách mạng. Niềm vui ấy cho thấy tình yêu làng quê trong ông vẫn vẹn nguyên, nhưng giờ đây tình yêu ấy đã gắn bó sâu sắc với lòng yêu nước. Đây chính là điểm sáng của tác phẩm, thể hiện sự hòa quyện giữa tình cảm cá nhân và tinh thần dân tộc.
Bên cạnh nội dung sâu sắc, truyện còn có giá trị nghệ thuật đặc sắc. Kim Lân đã xây dựng một tình huống truyện độc đáo: tin đồn làng theo giặc. Tình huống ấy đã làm nổi bật tâm trạng và tính cách của nhân vật ông Hai. Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật rất tinh tế, đặc biệt là qua những suy nghĩ, hành động và lời nói giản dị của người nông dân. Ngôn ngữ truyện gần gũi, tự nhiên, mang đậm màu sắc nông thôn, giúp nhân vật hiện lên chân thực và sống động.
Tóm lại, “Làng” là một truyện ngắn giàu giá trị nhân văn và hiện thực. Thông qua nhân vật ông Hai, Kim Lân đã thể hiện tình yêu làng quê tha thiết gắn liền với lòng yêu nước của người nông dân Việt Nam trong thời kì kháng chiến. Với cốt truyện hấp dẫn, nghệ thuật miêu tả tâm lý tinh tế và ngôn ngữ giản dị, tác phẩm đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc và trở thành một trong những truyện ngắn tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại
Xem thêm các bài Soạn văn 9 Cánh diều hay nhất, ngắn gọn khác:
Phân tích truyện ngắn “Ông lão bên chiếc cầu” của Ơ-nít Hê-minh-uê
Quan sát, phát hiện và suy nghĩ về các vấn đề đáng quan tâm trong đời sống phù hợp với lứa tuổi
Xem thêm các tài liệu học tốt lớp 9 hay khác:
- Soạn văn 9 Cánh diều (hay nhất)
- Soạn văn 9 Cánh diều (ngắn nhất)
- Giải lớp 9 Cánh diều (các môn học)
- Giải lớp 9 Kết nối tri thức (các môn học)
- Giải lớp 9 Chân trời sáng tạo (các môn học)
Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.
Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:Loạt bài Soạn văn 9 của chúng tôi được biên soạn bám sát nội dung sgk Ngữ văn 9 Tập 1 và Tập 2 Cánh diều (NXB Đại học Sư phạm).
Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.
- Soạn văn 9 Cánh diều (hay nhất)
- Soạn văn 9 Cánh diều (ngắn nhất)
- Giải sgk Toán 9 - Cánh diều
- Giải Tiếng Anh 9 Global Success
- Giải sgk Tiếng Anh 9 Smart World
- Giải sgk Tiếng Anh 9 Friends plus
- Giải sgk Khoa học tự nhiên 9 - Cánh diều
- Giải sgk Lịch Sử 9 - Cánh diều
- Giải sgk Địa Lí 9 - Cánh diều
- Giải sgk Giáo dục công dân 9 - Cánh diều
- Giải sgk Tin học 9 - Cánh diều
- Giải sgk Công nghệ 9 - Cánh diều
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 9 - Cánh diều
- Giải sgk Âm nhạc 9 - Cánh diều
- Giải sgk Mĩ thuật 9 - Cánh diều


Giải bài tập SGK & SBT
Tài liệu giáo viên
Sách
Khóa học
Thi online
Hỏi đáp

