Top 20 Bài văn kể lại một truyện cổ tích (điểm cao)
Tổng hợp các Bài văn kể lại một truyện cổ tích hay nhất, ngắn gọn với dàn ý chi tiết giúp học sinh lớp 6 có thêm tài liệu tham khảo để viết văn hay hơn.
- Dàn ý Bài văn kể lại một truyện cổ tích
- Bài văn kể lại một truyện cổ tích (mẫu 1)
- Bài văn kể lại một truyện cổ tích (mẫu 2)
- Bài văn kể lại một truyện cổ tích (mẫu 3)
- Bài văn kể lại một truyện cổ tích (mẫu 4)
- Bài văn kể lại một truyện cổ tích (mẫu 5)
- Bài văn kể lại một truyện cổ tích (mẫu 6)
- Bài văn kể lại một truyện cổ tích (mẫu 7)
- Bài văn kể lại một truyện cổ tích (mẫu 8)
- Bài văn kể lại một truyện cổ tích (mẫu 9)
- Bài văn kể lại một truyện cổ tích (các mẫu khác)
Top 20 Bài văn kể lại một truyện cổ tích (điểm cao)
Bài văn kể lại một truyện cổ tích (Giáo viên VietJack)
Dàn ý Bài văn kể lại một truyện cổ tích
a) Mở bài: Giới thiệu về câu chuyện cổ tích mà em muốn kể: Câu chuyện Cây khế
b) Thân bài: Kể lại nội dung câu chuyện Cây khế theo trình tự thời gian:
- Một gia đình nọ có hai người con trai, người anh tham lam, lười biếng, còn người em chăm chỉ, tốt bụng
- Khi cha qua đời, người anh lấy hết gia sản, chỉ chia cho em trai một cây khế già và một túp lều tranh cạnh cây khế
- Người em trai không nản lòng, vẫn tiếp tục chăm chỉ làm lụng, giúp đỡ bà con và chăm sóc cây khế già
- Mùa quả năm đó, cây khế rất sai trái, nên thu hút một con chim thần đến ăn mỗi ngày
- Thấy chim ăn nhiều quả, người em trai bèn ra than thở với chim, mong chim đừng ăn quả nữa
- Chim thần dặn dò người em may túi ba gang để đưa anh đi lấy vàng, trả công cho số khế đã ăn, nhờ vậy người em trở nên giàu có
- Người anh thấy em giàu có hơn, lân la sang hỏi chuyện
- Khi biết chuyện, người anh đổi cả gia tài lấy cây khế của em trai, rồi ngày ngày chờ chim thần đến
- Khi chim thần đến, người anh trai bắt chước em ra than thở, được chim hứa hẹn dẫn ra đảo lấy vàng
- Vì tham lam, người anh may túi 12 gang, nên khi lấy vàng đầy túi, sức nặng khiến chim không bay nổi
- Khi bay qua biển lớn, bất ngờ có bão, vì chở quá nặng nên chim rớt xuống biển. Chim thần dùng sức bay khỏi mặt biển, còn người anh trai vì buộc túi vàng lên người nặng quá nên nhanh chóng chìm sâu
c) Kết bài: Suy nghĩ của em về ý nghĩa của câu chuyện cổ tích Cây khế.
Bài văn kể lại một truyện cổ tích - mẫu 1
Trong kho tàng truyện cổ tích của dân tộc ta, em rất thích các câu chuyện về những nhân vật có tài trí hơn người. Trong đó, em thích nhất là câu chuyện Em bé thông minh.
Câu chuyện bắt đầu tại một làng nọ, có hai cha con tuy nghèo nhưng sống rất hạnh phúc. Đặc biệt là người con trai, không chỉ ngoan ngoãn mà còn vô cùng thông minh. Một hôm, khi hai cha con đang cày ruộng thì gặp sứ giả đến hỏi chuyện. Thì ra, ông ấy được nhà vua phía đi tìm kiếm người những người hiền tài để xây dựng đất nước. Trước câu đố hóc búa của sứ giả, rằng con trâu kia một ngày có thể cày được mấy đường. Thì cậu bé đã dễ dàng hóa giải khi thách đố ngược lại ông ta rằng hãy nói xem ngựa của sứ giả một ngày đi được bao nhiêu bước. Sự tài trí đó của cậu bé đã khiến cậu nhanh chóng được nhà vua chú ý đến. Tuy nhiên, nhà vua vẫn chưa yên tâm nên tiếp tục thử tài cậu. Lần thứ nhất, vua đưa cho làng cậu bé ba con trâu đực cùng ba thúng gạo nếp, yêu cầu sau một năm giao nộp chín con trâu. Tuy nhiên, cậu bé đã lên kinh, đố ngược lại nhà vua, rằng hãy làm cho cha cậu sinh em bé. Còn số trâu và gạo nếp kia, cậu đã cùng ca rlangf đem ra ăn uống no say rồi. Sự thông minh, nhanh nhạy của cậu làm vua rất thích thú. Tuy nhiên, ngài vẫn quyết định thử tài cậu thêm lần nữa. Lần này, nhà vua đã yêu cầu cậu bé mổ một con chim sẻ để làm ra ba mâm cỗ. Nhưng yêu cầu này chẳng làm khó được cậu. Ngay lập tức, cậu bé đem ra một chiếc kim khâu và nhắn nhủ, nhờ nhà vua mài nó thành một con dao để mổ thịt chim. Đến lần này, thì nhà vua hoàn toàn thán phục trước trí tuệ cao siêu của cậu.
Đúng thời gian đó, có sứ giả của nước láng giềng sang thăm. Mục đích là tra tim xem nước ta có người tài hay không, để tiến hành xâm lược. Hắn đưa ra một câu hỏi vô cùng hóc búa để thực hiện mục đích. Cả triều trình cùng nhau căng não nhưng không ai biết cách nào để đưa sợi chỉ mảnh qua đường ruột ốc cả. ẤY vậy mà, ngay khi vừa nghe câu đố, em bé đã đưa ra được câu trả lời ngay. Biết vậy, tên sứ giả vội trở về nước bẩm tấu, rằng không nên tấn công nước ta vì nước ta có người rất tài giỏi. Sau lần đó, cậu bé được phong làm trạng nguyên, và thường xuyên được nhà vua mời sang hỏi về chuyện nước nhà.
Sau khi đọc câu chuyện Em bé thông minh, em rất khâm phục trí tuệ cao siêu, vốn hiểu biết sâu rộng của cậu bé nhỏ tuổi. Và lấy đó làm động lực để cố gắng phấn đấu học tập tốt hơn nữa.
Bài văn kể lại một truyện cổ tích - mẫu 2
Sáng nay, lúc ở thư viện em đã được đọc câu chuyện cổ tích Em bé thông minh rất hay và thú vị.
Câu chuyện lấy bối cảnh nước ta vào thời xa xưa, khi nhà vua rất trọng hiền tài. Ngài đã ra lệnh cho sứ giả đi khắp cả nước tìm người tài về giúp mình việc nước. Khi đi đến một làng nọ, sứ giả đã gặp được một cậu bé - nhân vật chính trong câu chuyện. Tất cả, cậu đã vượt qua bốn lần thử thách để chứng minh trí thông minh của mình.
Lần thứ nhất, cậu bé đã đố ngược lại sứ giả rằng “Con ngựa của ông một ngày đi được mấy đường?”, để đối lại câu hỏi khó nhằn “Con trâu kia một ngày cày được mấy đường?” của ông. Lần thứ hai, câu vượt qua thử thách của nhà vua. Khi ngài ban cho ba con trâu đực và ba thúng xôi nếp, yêu cầu phải đẻ thành chín con. Cậu đã mời cả làng thịt trâu, đồ xôi ăn uống no say. Rồi lên kinh thành, giả vờ yêu cầu vua bắt cha mình phải sinh em cho. Khi nhà vua khó xử vì không thể yêu cầu đàn ông sinh con được, thì cậu hỏi ngược lại rằng vậy sao ngài yêu cầu nuôi trâu đực để sinh ra nghé con. Sự thông minh ấy của cậu khiến vua phải kinh ngạc. Nhưng chưa chắc lắm, vua lại thử cậu lần thứ ba. Yêu cầu làm thịt con chim sẻ để làm ba mâm cỗ. Cậu liền nhanh trí đưa một cây kim nhờ nhà vua cho rèn thành con dao để xẻ thịt chim. Lần này, vua thực sự tin rằng cậu bé là người tài. Ngay sau đó, sứ giả nước láng giềng mang sang một câu hỏi khó, rằng phải xỏ sợi dây qua đường ruột ốc. Cả triều đình đều bó tay, mà cậu bé vừa nghe đã giải được, còn hát thành một bài nhạc. Vậy là, cả triều đình đều khâm phục tài năng của cậu. Nên nhà vua đã phong cậu làm trạng nguyên.
Qua câu chuyện, em được biết thêm những câu đố dân gian thú vị. Và hiểu được ý nghĩa, sự quý trọng của người xưa đối với kiến thức, kinh nghiệm dân gian.
Bài văn kể lại một truyện cổ tích - mẫu 3
Trong những câu chuyện cổ tích Việt Nam, thì Sọ Dừa là một trong những câu chuyện hay và ấn tượng nhất mà em được biết.
Câu chuyện kể về cuộc đời với nhiều điều kì lạ của Sọ Dừa. Mẹ chàng nhờ uống nước trong một cái sọ dừa mà mang thai rồi sinh ra chàng. Khi mới sinh ra, chàng có hình dáng kì lạ, mình tròn lông lốc như trái dừa, nên mới được mẹ đặt tên cho là Sọ Dừa.
Tuy bề ngoài kì lạ, nhưng Sọ Dừa rất yêu thương mẹ và ngoan ngoãn. Chàng chủ động xin được đi chăn bò cho phú ông để đỡ đần cho mẹ. Nhờ tài thổi sáo, chàng không chỉ chăn đàn bò không mất con nào, mà còn khiến chúng béo tốt, mũm mĩm. Trong quá trình đó, cô út hiền lành đã phải lòng chàng sau nhiều lần đi đưa cơm.
Thế là, Sọ Dừa nhờ mẹ sang nhà phú ông hỏi vợ cho mình. Điều bất ngờ, là chàng đã chuẩn bị đầy đủ những sính lễ mà phú ông yêu cầu, để cưới được con gái ông ta. Đến ngày, điều ngạc nhiên hơn nữa đã xảy ra, khi Sọ Dừa tổ chức đám tiệc linh đình, với kẻ hầu người hạ tấp nập. Còn chàng thì trở về lốt người, khôi ngô tuấn tú.
Sau khi kết hôn, Sọ Dừa chăm chỉ dùi mài kinh sử và thi đỗ trạng nguyên. Ít lâu sau, chàng còn vinh dự được nhà vua tin tưởng, cử đi sứ. Điều này khiến cho hai cô chị của vợ chàng ghen ăn tức ở, quyết hãm hại em. Hai ả ta mời cô em gái đi chơi thuyền, rồi đẩy em xuống sông, nhằm cướp chồng. Nhưng may thay, nhờ những đồ vật mà Sọ Dừa trước khi đi dặn luôn mang theo, mà cô út sống sót trên hoang đảo. Rồi một ngày, tàu của quan trạng đi qua, gặp được vợ và đón về nhà.
Cuối cùng, người tốt như Sọ Dừa và cô út được sống hạnh phúc bên nhau. Còn kẻ xấu xa, nham hiểm như hai cô chị, thì phải bỏ đi biệt xứ. Đó cũng chính là ước mơ của nhân dân ta ngày xưa, về một xã hội công bằng, hạnh phúc.
Bài văn kể lại một truyện cổ tích - mẫu 4
Ngày xưa, có hai vợ chồng một lão nông nghèo đi ở cho nhà một phú ông. Họ hiền lành, chăm chỉ nhưng đã ngoài năm mươi tuổi mà chưa có lấy một mụn con.
Một hôm, người vợ vào rừng lấy củi. Trời nắng to, khát nước quá, thấy cái sọ dừa bên gốc cây to đựng đầy nước mưa, bà bèn bưng lên uống. Thế rồi, về nhà, bà có mang.
Ít lâu sau, người chồng mất. Bà sinh ra một đứa con không có chân tay, mình mẩy cứ tròn lông lốc như một quả dừa. Bà buồn, toan vứt nó đi thì đứa bé lên tiếng bảo.
- Mẹ ơi! Con là người đấy! Mẹ đừng vứt con mà tội nghiệp. Bà lão thương tình để lại nuôi rồi đặt tên cho cậu là Sọ Dừa.
Lớn lên, Sọ Dừa vẫn thế, cứ lăn lông lốc chẳng làm được việc gì. Bà mẹ lấy làm phiền lòng lắm. Sọ Dừa biết vậy bèn xin mẹ đến chăn bò cho nhà phú ông.
Nghe nói đến Sọ Dừa, phú ông ngần ngại. Nhưng nghĩ: nuôi nó thì ít tốn cơm, công sá lại chẳng đáng là bao, phú ông đồng ý. Chẳng ngờ cậu chăn bò rất giỏi. Ngày ngày, cậu lăn sau đàn bò ra đồng, tối đến lại lăn sau đàn bò về nhà. Cả đàn bò, con nào con nấy cứ no căng. Phú ông lấy làm mừng lắm!
Vào ngày mùa, tôi tớ ra đồng làm hết cả, phú ông bèn sai ba cô con gái thay phiên nhau đem cơm cho Sọ Dừa. Trong những lần như thế, hai cô chị kiêu kì, ác nghiệt thường hắt hủi Sọ Dừa, chỉ có cô em vốn tính thương người là đối đãi với Sọ Dừa tử tế.
Một hôm đến phiên cô út mang cơm cho Sọ Dừa. Mới đến chân núi, cô bỗng nghe thấy tiếng sáo véo von. Rón rén bước lên cô nhìn thấy một chàng trai khôi ngô tuấn tú đang ngồi trên chiếc võng đào thổi sáo cho đàn bò gặm cỏ. Thế nhưng vừa mới đứng lên, tất cả đã biến mất tăm, chỉ thấy Sọ Dừa nằm lăn lóc ở đấy. Nhiều lần như vậy, cô út biết Sọ Dừa không phải người thường, bèn đem lòng yêu quý.
Đến cuối mùa ở thuê, Sọ Dừa về nhà giục mẹ đến hỏi con gái phú ông về làm vợ. Bà lão thấy vậy tỏ ra vô cùng sửng sốt, nhưng thấy con năn nỉ mãi, bà cũng chiều lòng.
Thấy mẹ Sọ Dừa mang cau đến dạm, phú ông cười mỉa mai:
- Muốn hỏi con gái ta, hãy về sắm đủ một chĩnh vàng cốm, mười tấm lụa đào, mười con lợn béo, mười vò rượu tăm đem sang đây.
Bà lão đành ra về, nghĩ là phải thôi hẳn việc lấy vợ cho con. Chẳng ngờ, đúng ngày hẹn, bỗng dưng trong nhà có đầy đủ mọi sính lễ, lại có ca gia nhân ở dưới nhà chạy lên khiêng lễ vật sang nhà của phú ông. Phú ông hoa cả mắt lúng túng gọi ba cô con gái ra hỏi ý. Hai cô chị bĩu môi chê bai Sọ Dừa xấu xí rồi ngúng nguẩy đi vào, chỉ có cô út là cúi đầu e lệ tỏ ý bằng lòng.
Trong ngày cưới, Sọ Dừa cho bày cỗ thật linh đình, gia nhân chạy ra chạy vào tấp nập. Lúc rước dâu, chẳng ai thấy Sọ Dừa trọc lốc, xấu xí đâu chỉ thấy một chàng trai khôi ngô tuấn tú đứng bên cô út. Mọi người thấy vậy đều cảm thấy sửng sốt và mừng rỡ, còn hai cô chị thì vừa tiếc lại vừa ghen tức.
Từ ngày ấy, hai vợ chồng Sọ Dừa sống với nhau rất hạnh phúc. Không những thế, Sọ Dừa còn tỏ ra rất thông minh. Chàng ngày đêm miệt mài đèn sách và quả nhiên năm ấy, Sọ Dừa đỗ trạng nguyên. Thế nhưng cũng lại chẳng bao lâu sau, Sọ Dừa được vua sai đi sứ. Trước khi đi, chàng đưa cho vợ một hòn đá lửa, một con dao và hai quả trứng gà nói là để hộ thân.
Ganh tị với cô em, hai cô chị sinh lòng ghen ghét rắp tâm hại em để thay làm bà trạng. Nhân quan trạng đi vắng, hai chị sang rủ cô út chèo thuyền ra biển rồi cứ thế lừa đẩy cô em xuống nước. Cô út bị cá kình nuốt chửng, nhưng may có con dao mà thoát chết. Cô dạt vào một hòn đảo, lây dao khoét bụng cá chui ra, đánh đá lấy lửa nướng thịt cá ăn. Sống được ít ngày trên đảo, cặp gà cũng kịp nở thành một đôi gà đẹp để làm bạn cùng cô út.
Một hôm có chiếc thuyền đi qua đảo, con gà trống nhìn thấy bèn gáy to:
Ò... ó... o
Phải thuyền quan trạng rước cô tôi về.
Quan cho thuyền vào xem, chẳng ngờ đó chính là vợ mình. Hai vợ chồng gặp nhau, mừng mừng tủi tủi. Đưa vợ về nhà, quan trạng mở tiệc mừng mời bà con đến chia vui, nhưng lại giấu vợ trong nhà không cho ai biết. Hai cô chị thấy thế khấp khởi mừng thầm, tranh nhau kể chuyện cô em rủi ro ra chiều thương tiếc lắm. Quan trạng không nói gì, tiệc xong mới cho gọi vợ ra. Hai cô chị nhìn thấy cô em thì xấu hổ quá, lén bỏ ra về rồi từ đó bỏ đi biệt xứ.
Bài văn kể lại một truyện cổ tích - mẫu 5
Trong những truyền thuyết mà em đã được học, em thích nhất là truyền thuyết Bánh chưng bánh giầy. Không chỉ bởi đây là một câu chuyện thú vị, mà còn bởi vì nó nhắc đến một truyền thống tốt đẹp vẫn được nhân dân ta lưu giữ từ ngàn đời nay.
Nhân vật chính của truyền thuyết đó là hoàng từ Lang Liêu. Chàng là con trai thứ mười tám của Vua Hùng. Tuy là hoàng tử, nhưng do mẹ mất sớm lại không được vua cha quan tâm. Nên từ nhỏ chàng không được sống trong nhung lụa như những hoàng tử khác. Trái lại, chàng sống gần gũi với thiên nhiên, với những người nông dân. Trong nhà chàng chỉ có thóc lúa là nhiều, chứ người hầu hay của cải, vàng bạc vô cùng ít ỏi. Vậy nên, khi nghe tin vua cha muốn tìm người nối ngôi, thông qua thử thách tìm ra món ngon nhất để thờ Tiên Vương. Thì chàng đã chẳng dám nghĩ đến việc chiến thắng. Bởi các hoàng tử khác ra lệnh cho quân lính đi khắp nơi tìm sơn hào hải vị còn chàng thì chẳng có gì.
Khi chàng đang trong tận cùng của sự chán nản, thì trong một lần ngủ say, chàng đã gặp được sự chỉ dẫn của thần. Thần dạy cho chàng biết được, thứ lương thực quý giá nhất trên đời này chính là hạt gạo chứ không phải món nào khác. Rồi chỉ cho chàng cách nấu món bánh từ gạo nếp sao cho thơm ngon nhất. Nghe theo lời dạy của thần, sáng hôm sau, khi vừa thức dậy, chàng ngay lập tức bắt tay vào nấu bánh. Đầu tiên, chàng vào trong kho, tìm kiếm từng hạt gạo nếp, sao cho hạt nào cũng thật trắng trẻo, tròn đầy. Rồi đem đi vo thật sạch, không chút bụi bẩn nào. Sau đó chọn miếng thịt lợn thật tươi ngon, cùng với đỗ xanh làm nhân. Bên ngoài dùng lá dong gói lại, bọc thành hình vuông, nấu một ngày một đêm cho thật nhừ, quyện hết vào nhau. Sau đó, để thêm phong phú, vẫn là những hạt gạo nếp được lựa chọn kĩ càng ấy, chàng đồ lên, giã nhuyễn nặn thành hình tròn đầy đặn như mặt trăng.
Đến ngày lễ Tiên vương, hai món bánh của Lang Liêu được vua cha và các viên quan hết lời khen ngợi vì không chỉ ngon mà còn giàu ý nghĩa. Sau một hồi ngẫm nghĩ, vua Hùng nhận xét “Bánh hình tròn là tượng Trời, ta đặt tên là bánh giầy. Bánh hình vuông tượng Đất, các thứ thịt mỡ, đậu xanh, lá dong là tượng cầm thú, cây cỏ muôn loài, ta đặt tên là bánh chưng. Lá bọc ngoài, mĩ vị để trong là ngụ ý đùm bọc nhau”. Nói rồi, ngài đưa ra quyết định “Lang Liêu đã dâng lễ vật hợp với ý ta. Lang Liêu sẽ nối ngôi ta, xin Tiên Vương chứng giám”.
Sau khi lên ngôi vua, Lang Liêu trở thành một vị vua yêu dân như con được người người kính trọng. Hai món bánh của chàng cũng trở thành thứ không thể thiếu trên bàn thờ tổ tiên mỗi dịp Tết đến xuân về. Đến tận bây giờ, Tết năm nào, em cũng được cùng bố ngồi bên bếp lửa nấu nồi bánh chưng. Đó là niềm vui mà khó câu chữ nào có thể tả xiết.
Bài văn kể lại một truyện cổ tích - mẫu 6
Tết Nguyên Đán là ngày lễ truyền thống được tất cả người dân yêu mến và mong chờ. Và bánh chưng, bánh giầy là hai món ăn đặc trưng, không thể thiếu vào ngày Tết. Để giải thích về ý nghĩa, nguồn gốc của hai loại bánh này, ông cha ta thường kể cho con cháu mình nghe về truyền thuyết Bánh chưng bánh giầy.
Truyền thuyết lấy bối cảnh vào thời vua Hùng Vương, khi vị vua đang cai trị đã đến tuổi già yêu, muốn truyền ngôi cho con cái của mình. Theo ông, người làm vua cần phải kế thừa được tài đức, lý tưởng của ông chứ không nhất thiết phải làm con trưởng. Điều đó gây nên một trận xôn xao trong các hoàng tử. Cuối cùng nhà vua ra chỉ rằng: Vào ngày lễ tiên vương, ai làm ra được một món ăn vừa ngon, lại ý nghĩa, được lòng tất cả mọi người thì sẽ được nối ngôi. Chiếu chỉ vừa ra, tất cả các hoàng tử đều ra sức tìm kiếm những món ngon quý hiếm, sơn hào hải vị từ khắp nơi. Chỉ mong làm hài lòng vua cha.
Trong lúc ấy, chỉ có người con trai thứ mười tám của ngài - hoàng tử Lang Liêu là chẳng làm gì cả. Bởi chàng có cuộc sống rất khó khăn, thiếu thốn. Nhà chàng chỉ có thóc lúa là nhiều, chứ chẳng có gì cả. Vậy nên, chàng tự bỏ mình ra khỏi cuộc đua dành ngôi báu. Một hôm trong khi nằm mơ, chàng được một vị thần báo mộng, chỉ cho cách làm món bánh ngon, giàu ý nghĩa từ gạo nếp. Nghe theo lời dạy của thần, Lang Liêu chọn thứ gạo nếp thơm lừng, hạt nào hạt nấy tròn mẩy, đem vo thật sạch, lấy đậu xanh, thịt lợn làm nhân, dùng lá dong trong vườn gói thành hình vuông, nấu một ngày một đêm thật nhừ. Để đổi vị, đổi kiểu, cũng thứ gạo nếp ấy, chàng đồ lên, giã nhuyễn, nặn hình tròn. Đến ngày lễ tiên vương, món bánh của Lang Liêu trở thành món bánh vua cha ưng ý nhất. Các cận thần cũng trầm trồ khen ngon. Đã thế món bánh còn rất giàu ý nghĩa, tượng trưng cho sự hòa hợp của đất trời. Vì vậy, thuận lí thành chương, Lang Liêu được vua Hùng chọn trở thành người kế vị. Cũng từ đó, cứ đến dịp Tết, nhân dân ta lại đem gạo nếp ra làm bánh chưng, bánh giầy để đặt lên mâm thờ tổ tiên.
Tục lệ ấy đến bây giờ vẫn còn được giữ. Bởi món bánh ấy không chỉ ngon mà còn giàu ý nghĩa nữa. Nếu thiếu đi bánh chưng thì nghĩa là cái Tết ấy chẳng còn trọn vẹn nữa rồi.
Bài văn kể lại một truyện cổ tích - mẫu 7
Chắc hẳn bạn đã từng nghe qua truyền thuyết "Sơn Tinh, Thủy Tinh". Đây là một trong những câu chuyện nổi tiếng và thú vị của văn học dân gian Việt Nam. Dưới đây là bài văn ngắn gọn kể lại truyền thuyết này:
Ngày xưa, vua Hùng Vương thứ mười tám có một người con gái tên là Mỵ Nương, xinh đẹp tuyệt trần. Vua muốn kén rể cho con gái nên đã ra lệnh ai có tài năng xuất chúng sẽ được cưới Mỵ Nương. Có hai chàng trai đến cầu hôn: Sơn Tinh, chúa vùng núi Tản Viên, và Thủy Tinh, chúa vùng biển cả.
Vua Hùng ra điều kiện: ai mang sính lễ đến trước sẽ được cưới Mỵ Nương. Sính lễ gồm có: một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao. Sơn Tinh có phép lạ, gọi núi dời non, nên đã mang sính lễ đến trước và cưới được Mỵ Nương.
Thủy Tinh đến sau, tức giận dâng nước lên cao để đánh Sơn Tinh. Nhưng Sơn Tinh không hề nao núng, dùng phép dời núi, nâng đất cao lên để chống lại. Cuộc chiến diễn ra ác liệt, nhưng cuối cùng Thủy Tinh đành chịu thua và rút lui. Từ đó, hàng năm Thủy Tinh vẫn dâng nước lên để trả thù, gây ra lũ lụt.
Bài văn kể lại một truyện cổ tích - mẫu 8
Một trong những câu chuyện cổ tích cảm động và ý nghĩa là "Sự tích cây vú sữa". Dưới đây là bài văn ngắn gọn kể lại câu chuyện này:
Ngày xưa, có một cậu bé rất nghịch ngợm và không nghe lời mẹ. Một hôm, vì bị mẹ mắng, cậu bé giận dỗi bỏ nhà ra đi. Mẹ cậu buồn bã, ngày đêm mong ngóng con trở về. Bà đi khắp nơi tìm kiếm nhưng không thấy cậu bé đâu.
Thời gian trôi qua, cậu bé cũng nhớ mẹ và quyết định trở về nhà. Nhưng khi về đến nơi, cậu chỉ thấy ngôi nhà trống vắng, mẹ cậu đã không còn nữa. Cậu bé ngồi khóc dưới gốc cây trước nhà, nước mắt rơi xuống đất. Bỗng nhiên, từ chỗ cậu ngồi mọc lên một cây lạ, lá xanh mướt, quả tròn trịa, khi chín có màu vàng ươm và vị ngọt mát.
Người dân trong làng gọi đó là cây vú sữa, vì quả của nó giống như dòng sữa mẹ ngọt ngào, tượng trưng cho tình yêu thương vô bờ bến của người mẹ dành cho con. Từ đó, cây vú sữa trở thành biểu tượng của tình mẫu tử thiêng liêng và sâu sắc.
Bài văn kể lại một truyện cổ tích - mẫu 9
Dưới đây là bài văn kể lại truyền thuyết "Thánh Gióng" ngắn gọn, thể hiện tinh thần yêu nước, phù hợp với học sinh lớp 6:
Thánh Gióng
Ngày xưa, ở làng Gióng có hai vợ chồng già sống hiền lành, phúc đức nhưng mãi không có con. Một ngày nọ, bà vợ ra đồng ướm chân lên vết chân to lạ thường, về nhà liền mang thai. Sau mười hai tháng, bà sinh ra một cậu bé khôi ngô nhưng lạ thay, đã ba tuổi mà cậu không biết nói, không biết cười, cũng chẳng biết đi.
Khi giặc Ân kéo đến xâm lược nước ta, nhà vua cho sứ giả đi khắp nơi tìm người tài cứu nước. Nghe tiếng sứ giả, cậu bé bỗng cất tiếng nói đầu tiên, bảo mẹ mời sứ giả vào và xin được ra trận. Cậu bé yêu cầu vua chuẩn bị cho mình một bộ giáp sắt, roi sắt và ngựa sắt.
Từ đó, cậu lớn nhanh như thổi. Chỉ trong chốc lát, cậu trở thành một tráng sĩ cao lớn, uy nghi. Khi giặc kéo đến, tráng sĩ cưỡi ngựa sắt, cầm roi sắt lao ra trận. Roi gãy, Gióng nhổ cả bụi tre bên đường làm vũ khí đánh tan quân giặc.
Sau khi hoàn thành sứ mệnh, Gióng không quay về làng mà cưỡi ngựa sắt bay lên trời, để lại hình ảnh bất diệt của một vị anh hùng cứu nước. Người dân lập đền thờ, đời đời ghi nhớ công lao của Thánh Gióng.
Bài văn kể lại một truyện cổ tích - mẫu 10
Ngày xưa, có một đôi vợ chồng nghèo làm nghề chăn bò thuê cho phú ông. Một hôm, người vợ khát nước, vô tình uống nước trong một cái sọ dừa bên đường. Kỳ lạ thay, bà mang thai và sinh ra một cậu bé không chân, không tay, tròn lẳn như quả dừa, nên mọi người gọi là Sọ Dừa.
Thấy con khác thường, người mẹ buồn bã, nhưng Sọ Dừa rất hiếu thảo, thương mẹ hết lòng. Một ngày, Sọ Dừa xin mẹ đi chăn bò thuê cho phú ông. Dù vẻ ngoài kỳ lạ, cậu làm việc rất giỏi, bò của phú ông ngày càng béo tốt.
Phú ông có ba cô con gái. Hai cô chị khinh thường Sọ Dừa, chỉ có cô út hiền lành, đối xử tử tế với cậu. Một hôm, Sọ Dừa bí mật hóa thành chàng trai khôi ngô, tuấn tú và thổi sáo rất hay để thử lòng cô út. Thấy cô út thật lòng yêu thương mình, Sọ Dừa quyết định cưới nàng làm vợ.
Trong ngày cưới, Sọ Dừa hiện nguyên hình là một chàng trai tuấn tú, khiến mọi người kinh ngạc. Sau này, nhờ trí thông minh và lòng nhân hậu, Sọ Dừa đỗ trạng nguyên và sống hạnh phúc bên vợ.
Bài văn kể lại một truyện cổ tích - mẫu 11
Ngày xưa, có hai anh em mồ côi cha mẹ. Khi cha mẹ mất, người anh chiếm hết tài sản, chỉ để lại cho người em một túp lều nhỏ và một cây khế. Người em hiền lành, chăm chỉ ngày ngày tưới cây, hái khế đem ra chợ bán để nuôi sống bản thân và vợ.
Một ngày nọ, có một con chim lạ bay đến ăn khế. Người em buồn bã nói:
Chim ơi, gia đình tôi nghèo lắm, chỉ có cây khế để sống, nếu chim ăn hết, tôi biết làm sao?
Chim lạ liền đáp:
Ăn một quả, trả một cục vàng, may túi ba gang, mang theo mà đựng.
Nghe lời chim, người em may túi, rồi được chim chở đến một hòn đảo đầy vàng. Người em chỉ lấy vừa đủ vàng để sống, rồi trở về quê sống hạnh phúc.
Biết chuyện, người anh tham lam liền đổi nhà và tài sản để lấy cây khế của em. Khi chim lạ đến, người anh cũng được chở ra đảo vàng. Nhưng vì lòng tham, anh ta may túi thật to, lấy đầy vàng. Trên đường về, túi vàng quá nặng, chim không chở nổi, làm người anh rơi xuống biển sâu.
Từ đó, cây khế trở thành bài học nhắc nhở con người sống lương thiện, biết đủ và không tham lam.
Bài văn kể lại một truyện cổ tích - mẫu 12
Cổ tích Việt Nam có biết bao người anh hùng, nhưng hình ảnh Thạch Sanh - chàng trai đốn củi dưới gốc đa cổ thụ - vẫn luôn sống mãi trong tâm trí người đọc bởi sự nhân hậu và khí chất phi thường.
Thạch Sanh vốn mồ côi cả cha lẫn mẹ, tài sản duy nhất chỉ có chiếc rìu sắt và mớ đốn củi sống qua ngày. Thấy Thạch Sanh khỏe mạnh lại thật thà, Lý Thông – một kẻ buôn rượu xảo quyệt – đã chủ động kết nghĩa huynh đệ nhằm trục lợi. Khi đến lượt Lý Thông phải nộp mạng cho Trăn tinh, hắn lừa Thạch Sanh đi thế mạng. Nào ngờ, với võ nghệ tinh thông và chiếc rìu thần, Thạch Sanh đã hạ gục con quái vật, đem đầu nó và bộ cung tên vàng về. Nhưng Lý Thông lại gian dối, cướp công của chàng, đuổi chàng trở về gốc đa cũ còn hắn thì nghiễm nhiên nhận thưởng, làm quan to trong triều.
Bi kịch không dừng lại ở đó. Khi công chúa bị Đại bàng tha đi, Thạch Sanh một lần nữa dũng cảm xông vào hang sâu tiêu diệt đại bàng, cứu người đẹp. Lý Thông lại lặp lại thủ đoạn cũ: lấp cửa hang để chôn sống người em kết nghĩa. Ở dưới hang tối, Thạch Sanh không chỉ cứu con trai Vua Thủy Tề mà còn được tặng chiếc đàn thần. Dù sau đó bị hồn Trăn tinh và Đại bàng vu hại đến mức vuốt mắt trong ngục tối, tiếng đàn của Thạch Sanh vẫn vang lên. Tiếng đàn ấy không chỉ vạch mặt kẻ gian xảo, chữa khỏi bệnh câm cho công chúa mà còn thức tỉnh lương tri.
Thạch Sanh được minh oan và ban chức mãnh tướng. Dù Lý Thông phải chịu hậu quả đích đáng từ quy luật tự nhiên "gieo gió gặp bão", Thạch Sanh vẫn dành sự bao dung cho hắn. Khi quân 18 nước chư hầu kéo sang xâm lược, chàng không dùng vũ lực mà dùng tiếng đàn làm nản lòng địch, dùng niêu cơm thần kỳ ăn hoài không hết để thu phục lòng người.
Hình ảnh Thạch Sanh ngồi gảy đàn trước hàng vạn quân sĩ là biểu tượng cao đẹp cho lòng yêu hòa bình, sự bao dung và chính nghĩa của nhân dân ta.
Bài văn kể lại một truyện cổ tích - mẫu 13
Tôi là một cây tre già nằm ở góc vườn nhà ông phú hộ. Qua bao mùa mưa nắng, tôi đã chứng kiến biết bao sự việc, nhưng câu chuyện về anh Khoai hiền lành và câu thần chú "Khắc nhập, khắc xuất" vẫn là kỉ niệm sâu sắc nhất trong đời tôi.
Anh Khoai là một thanh niên nông dân chất phác, làm mướn cho chủ nhà từ năm này qua năm khác. Lão phú hộ tham lam đã hứa sẽ gạch tên anh khỏi kiếp làm thuê và gạch tên con gái lão để cưới cho anh, miễn là anh chịu dốc sức làm việc. Thế nhưng, khi cối xay đã đầy lúa, nhà lão đã giàu thêm, lão lại nuốt lời. Để tống khứ anh Khoai vào rừng, lão thách anh tìm cho bằng được một "cây tre trăm đốt" làm mâm cỗ cưới.
Tôi nhìn theo bóng lưng gầy gò của Khoai đi vào rừng sâu mà lòng đầy chua xát. Trong rừng già, anh đã bật khóc vì bế tắc. Chính sự thật thà ấy đã động đến Bụt. Bụt xuất hiện, chỉ cho anh chặt đủ một trăm đốt tre riêng lẻ và dạy anh câu thần chú: "Khắc nhập, khắc xuất". Khi anh xướng lên "Khắc nhập, khắc nhập", từng đốt tre rời rạc lập tức dính chặt vào nhau thành một cây tre cao vút tận tầng mây.
Ngày cưới diễn ra, ông phú hộ đang hò reo vui vẻ thì anh Khoai gánh trăm đốt tre về. Lão cười nhạo anh. Không nói một lời, anh hô to câu thần chú. Lão phú hộ cùng mấy tên tay sai tò mò chạm vào liền bị dính chặt vào cây tre thần. Chỉ khi lão chịu dập đầu xin lỗi và thực hiện đúng lời hứa cho anh cưới con gái lão, anh mới hô "Khắc xuất, khắc xuất" để giải thoát cho họ.
Từ đó, bài học về chữ "Tín" và lòng nhân hậu được khắc ghi. Tôi tự hào vì loài tre chúng tôi không chỉ che mát cho làng quê mà còn là hiện thân của sự công bằng, trừng phạt kẻ gian tham
Bài văn kể lại một truyện cổ tích - mẫu 14
Truyện cổ tích Tấm Cấm không chỉ là bi kịch về gia đình mà còn là hành trình vươn lên mãnh liệt của cái thiện trước sự tàn ác vô độ.
Tấm là cô gái nết na, chăm chỉ nhưng sớm chịu cảnh mồ côi. Mẹ con Cám – đại diện cho sự ích kỷ và gian hèn – luôn tìm cách áp bức Tấm, từ việc giật giỏ tép, bắt bống cho đến việc chặt cây cau hại Tấm trong ngày giỗ cha. Nhưng cái thiện dù có bị vùi dập đến đâu vẫn tìm cách hồi sinh. Khi Tấm ngã xuống, sự sống của nàng không kết thúc mà chuyển hóa qua nhiều hình hài: Chim Vàng Anh, Hai cây Xoan đào, Khung cửi, và cuối cùng là Quả thị thơm.
Mỗi lần biến hóa là một lần Tấm cất lên tiếng nói đấu tranh. Là Chim Vàng Anh, nàng bay về phơi áo cho vua và cảnh báo Cám: "Phơi áo chồng tao thì phơi bằng sào/ Chớ phơi bờ rào rách áo chồng tao". Khi bị Cám giết thịt, nàng hóa thành Khung cửi, phát ra tiếng kêu đanh thép kết tội kẻ cướp hạnh phúc của mình. Cuối cùng, bước ra từ quả thị ngát hương trong túp lều của bà lão hàng nước, Tấm trở lại làm người – một người phụ nữ chủ động, kiên cường chứ không còn thụ động khóc lóc chờ Bụt giúp đỡ như xưa.
Sự trở về của Tấm và cái chết đích đáng của mẹ con Cám là lời khẳng định vững chắc của nhân dân: Cái thiện có thể bị chèn ép trong chốc lát, nhưng với sức sống mãnh liệt, nó sẽ luôn chiến thắng cái ác.
Bài văn kể lại một truyện cổ tích - mẫu 15
Nghệ thuật sinh ra là để phục vụ con người, và câu chuyện Cây bút thần của chú bé Mã Lương là minh chứng tuyệt đẹp cho quan niệm ấy.
Mã Lương là một cậu bé thông minh, đam mê hội họa từ nhỏ. Dù nghèo đến mức không có tiền mua một chiếc cọ, cậu vẫn dùng cành cây vẽ chim trên đất, dùng vỏ cây vẽ cá dưới sông. Niềm đam mê cháy bổng ấy đã cảm động thần linh. Trong một giấc mơ, cậu được tặng một cây bút bằng vàng sáng rực. Khi tỉnh dậy, cây bút ấy là có thật, và kỳ diệu thay: vẽ chim, chim vỗ cánh bay lên trời; vẽ cá, cá quẫy đuôi lặn xuống nước.
Thay vì dùng cọ thần để thu vén cho bản thân, Mã Lương dùng nó để giúp đỡ những người nông dân nghèo khổ trong làng. Cậu vẽ cày, bừa, đèn, thùng gáo mắng để họ có công cụ lao động. Tin tức đến tai tên địa chủ và sau đó là tên vua tham lam. Chúng bắt Mã Lương vẽ núi vàng, cây bạc. Nhưng trước sự đe dọa của quyền lực, Mã Lương vẫn giữ vững khí tiết. Cậu vẽ một biển rộng bao la, rồi vẽ một chiếc thuyền rồng cho tên vua cùng bọn nịnh thần leo lên. Khi thuyền ra giữa sóng dữ, Mã Lương vung bút vẽ những trận gieo phong ba bão táp, nhấn chìm kẻ tham lam xuống đáy biển sâu.
Hình ảnh Mã Lương cầm cây bút thần đứng trước biển lớn là biểu tượng cho sức mạnh của nghệ thuật chân chính: Nghệ thuật chỉ có giá trị khi nó thuộc về nhân dân và chiến đấu chống lại sự tàn bạo.
Bài văn kể lại một truyện cổ tích - mẫu 16
Trong kho tàng cổ tích Việt Nam, có những câu chuyện đã đi qua biết bao thế hệ nhưng vẫn giữ nguyên sức hấp dẫn như thuở ban đầu. Đó có thể là những câu chuyện về người em hiền lành, người dũng sĩ quả cảm hay những con người tuy có hoàn cảnh bất hạnh nhưng vẫn giữ được tấm lòng trong sáng. Trong số đó, câu chuyện về chàng Thạch Sanh luôn để lại trong tôi một ấn tượng đặc biệt, bởi qua cuộc đời nhiều gian truân của chàng, tôi cảm nhận rõ niềm tin của nhân dân xưa vào sự chiến thắng của cái thiện.
Ngày xưa, ở một vùng quê nọ, có một chàng trai tên là Thạch Sanh. Chàng mồ côi cha mẹ từ nhỏ, sống một mình dưới gốc đa, ngày ngày vào rừng đốn củi kiếm sống. Cuộc đời tuy nghèo khó nhưng Thạch Sanh lại có sức khỏe hơn người, tính tình thật thà và luôn sẵn lòng giúp đỡ những người xung quanh. Gần nơi chàng ở có một người tên Lý Thông làm nghề bán rượu. Nhìn thấy Thạch Sanh khỏe mạnh nhưng thật thà, Lý Thông liền tìm cách kết nghĩa anh em để lợi dụng chàng. Một thời gian sau, trong vùng xuất hiện một con chằn tinh hung dữ, thường xuyên bắt người ăn thịt. Dân làng phải thay phiên nhau đem người đến miếu cho nó ăn thịt. Đến lượt Lý Thông, hắn sợ hãi vô cùng nên nghĩ cách lừa Thạch Sanh đi thay. Không hề nghi ngờ, Thạch Sanh vui vẻ nhận lời. Đêm hôm ấy, khi chằn tinh xuất hiện, chàng không hề bỏ chạy mà dũng cảm chiến đấu. Sau một hồi giao tranh quyết liệt, Thạch Sanh đã dùng chiếc rìu đánh chết con quái vật. Chàng mang đầu chằn tinh trở về mà không hề biết rằng chiến công ấy sắp bị kẻ khác cướp mất. Nhìn thấy đầu chằn tinh, Lý Thông vừa sợ vừa mừng. Hắn bịa chuyện rằng chằn tinh vốn là vật nuôi của nhà vua và Thạch Sanh đã phạm tội lớn. Vì tin người anh kết nghĩa, Thạch Sanh trở về túp lều dưới gốc đa, còn Lý Thông đem đầu chằn tinh vào kinh đô nhận công và được nhà vua trọng thưởng.
Nhưng những thử thách đối với Thạch Sanh vẫn chưa dừng lại. Một ngày kia, công chúa bị một con đại bàng khổng lồ bắt đi. Nhà vua cho quân lính tìm kiếm khắp nơi nhưng vẫn không thấy nàng. Nhờ có tài bắn cung, Thạch Sanh lần theo dấu vết của đại bàng và phát hiện hang ổ của nó. Chàng tìm đến báo cho Lý Thông rồi cùng hắn xuống hang cứu công chúa. Sau khi đưa được công chúa ra ngoài, Lý Thông lại một lần nữa trở mặt. Hắn cho người lấp cửa hang, bỏ mặc Thạch Sanh bên trong để cướp hết công lao. Bị mắc kẹt giữa hang sâu, Thạch Sanh vẫn không tuyệt vọng. Chàng tình cờ cứu được con trai của vua Thủy Tề đang bị đại bàng bắt giữ. Để đền ơn, vua Thủy Tề mời chàng xuống thủy cung và tặng nhiều vàng bạc châu báu. Thế nhưng Thạch Sanh không tham lam, chàng chỉ nhận một cây đàn thần rồi trở về trần gian.
Lúc ấy, công chúa sau khi được cứu trở về cung điện lại mắc một chứng bệnh lạ, không nói được lời nào. Lý Thông được nhà vua trọng thưởng nhưng trong lòng luôn lo sợ bí mật của mình bị phát hiện. Một ngày nọ, tiếng đàn của Thạch Sanh vang lên. Những âm thanh ấy kể lại toàn bộ sự thật về những việc Lý Thông đã làm. Công chúa nghe tiếng đàn thì nhớ lại mọi chuyện và nói được. Sự thật cuối cùng cũng được sáng tỏ. Lý Thông bị trừng phạt, còn Thạch Sanh được nhà vua gả công chúa cho. Nhưng niềm vui chưa kéo dài được bao lâu thì các nước chư hầu đem quân sang đánh vì tức giận trước việc công chúa lấy Thạch Sanh. Đứng trước đội quân đông đảo, nhà vua vô cùng lo lắng. Thạch Sanh chỉ mang cây đàn thần ra gảy. Tiếng đàn không mang âm hưởng của chiến tranh mà gợi lên nỗi nhớ quê hương, gia đình và những người thân yêu. Những người lính vốn bị ép buộc đi đánh trận dần nhớ đến quê nhà, không còn muốn cầm gươm giáo nữa. Sau đó, Thạch Sanh còn dùng niêu cơm thần để thiết đãi họ. Nồi cơm nhỏ bé cứ ăn hết lại đầy khiến quân lính vô cùng kinh ngạc. Cảm phục trước lòng nhân hậu và tài năng của chàng, họ xin rút quân trở về.
Sau này, Thạch Sanh lên ngôi vua và trở thành một vị vua được nhân dân yêu mến. Nghĩ lại cuộc đời chàng, tôi càng hiểu vì sao nhân dân xưa lại gửi gắm nhiều ước mơ vào nhân vật ấy. Thạch Sanh không giàu có, không quyền thế nhưng luôn dũng cảm trước hiểm nguy, thật thà trước con người và nhân hậu ngay cả với những người từng gây chiến với mình. Còn Lý Thông tuy nhiều lần tìm cách hãm hại người khác nhưng cuối cùng vẫn phải trả giá cho lòng tham và sự gian dối. Có lẽ câu chuyện về Thạch Sanh không chỉ kể về một chàng dũng sĩ tài giỏi mà còn gửi gắm một niềm tin giản dị: trong cuộc đời, cái ác có thể có lúc lấn át cái thiện, nhưng cuối cùng sự thật, lòng nhân hậu và chính nghĩa vẫn sẽ chiến thắng.
Bài văn kể lại một truyện cổ tích - mẫu 17
Tuổi thơ của mỗi người thường gắn với những câu chuyện có phép màu, những con vật biết nói và những chuyến phiêu lưu kì thú. Nhưng đằng sau vẻ đẹp lung linh ấy lại là những bài học rất gần gũi với cuộc sống. Truyện Cây khế là một câu chuyện như vậy. Mỗi lần nhớ lại câu chuyện, tôi lại nghĩ đến hình ảnh một cây khế nhỏ bé trước sân và nhận ra rằng đôi khi hạnh phúc không nằm ở việc có thật nhiều, mà ở chỗ con người biết thế nào là đủ.
Ngày xưa, có hai anh em mồ côi cha mẹ từ sớm. Khi trưởng thành, người anh lấy vợ rồi quyết định chia gia tài. Vốn tham lam, hắn chiếm hết ruộng vườn, nhà cửa, trâu bò, chỉ để lại cho người em một túp lều nhỏ và một cây khế. Người em không tranh giành, cũng chẳng oán trách. Hai vợ chồng ngày ngày chăm chỉ làm ăn, sống dựa vào những quả khế trong vườn. Cây khế được chăm sóc cẩn thận nên đến mùa thì sai trĩu quả, những chùm khế vàng óng nổi bật dưới ánh nắng.
Một ngày nọ, một con chim lớn từ đâu bay đến ăn khế. Nó ăn hết quả này đến quả khác khiến người em vô cùng xót xa vì đó là nguồn sống của cả gia đình. Không ngờ con chim lại biết nói và hứa sẽ trả công bằng vàng. Người em chỉ cần chuẩn bị một chiếc túi vừa đủ để đựng. Đến ngày hẹn, chim đưa người em bay qua những đám mây đến một hòn đảo xa giữa biển. Trước mắt người em là vô số vàng bạc, châu báu lấp lánh. Tuy nhiên, chàng không hề tham lam mà chỉ lấy một phần vừa đủ rồi trở về. Nhờ số vàng ấy, cuộc sống của hai vợ chồng trở nên khá giả hơn. Họ sửa sang nhà cửa, mua thêm ruộng đất và vẫn sống hiền lành như trước.
Chuyện người em trở nên giàu có nhanh chóng đến tai người anh. Lòng tham khiến hắn tìm đến dò hỏi mọi chuyện. Sau khi biết nguồn gốc số vàng, hắn đề nghị đổi toàn bộ gia tài của mình để lấy túp lều và cây khế. Người em vốn thật thà nên đồng ý. Từ đó, người anh ngày ngày ngóng chờ con chim thần. Quả nhiên, khi cây khế đến mùa, chim lại bay đến ăn quả và hứa đưa hắn đến nơi lấy vàng. Nhưng khác với người em, người anh may một chiếc túi thật lớn. Khi đến hòn đảo, hắn nhìn thấy vàng bạc thì hoa cả mắt. Hắn nhặt hết thứ này đến thứ khác, nhét đầy chiếc túi rồi vẫn tiếc của, cố lấy thêm thật nhiều. Trên đường trở về, chiếc túi nặng khiến chim bay chao đảo giữa trời. Cuối cùng, vì không chịu buông bớt vàng, người anh rơi xuống biển. Số phận của hắn trở thành bài học đau xót cho những ai chỉ biết chạy theo của cải mà quên mất giới hạn của lòng tham.
Câu chuyện Cây khế kết thúc bằng sự đối lập giữa hai người anh em. Người em tuy nghèo nhưng biết đủ, sống hiền lành và chăm chỉ nên cuối cùng có được cuộc sống hạnh phúc. Người anh vốn có tất cả nhưng vì tham lam mà đánh mất tất cả. Tôi thích câu chuyện này không chỉ vì hình ảnh con chim thần kì hay hòn đảo đầy vàng bạc, mà còn vì bài học giản dị mà sâu sắc nó gửi gắm. Trong cuộc sống, mong muốn có một cuộc sống tốt đẹp là điều tự nhiên, nhưng nếu để lòng tham che lấp lí trí, con người rất dễ tự đẩy mình vào bất hạnh. Có lẽ cây khế trong câu chuyện không chỉ cho quả ngọt mà còn cho mỗi người một bài học: biết đủ không có nghĩa là từ bỏ ước mơ, mà là biết trân trọng những gì mình đang có và không vì tham lam mà đánh mất những điều quý giá.
Bài văn kể lại một truyện cổ tích - mẫu 18
Trong cuộc sống, chúng ta thường dễ bị vẻ bề ngoài đánh lừa. Một người có thể không đẹp đẽ, giàu sang nhưng lại sở hữu một tâm hồn cao quý; ngược lại, có người mang vẻ ngoài xinh đẹp nhưng bên trong lại ích kỉ và nhỏ nhen. Câu chuyện Sọ Dừa mà tôi từng đọc đã giúp tôi hiểu sâu sắc hơn điều ấy.
Ngày xưa, có hai vợ chồng nghèo làm thuê cho một phú ông. Họ sống hiền lành, chăm chỉ nhưng mãi vẫn chưa có con. Một hôm, người vợ vào rừng lấy củi giữa một ngày nắng nóng. Khát nước, bà nhìn thấy một cái sọ dừa có nước bên trong nên uống hết. Sau đó, bà mang thai và sinh ra một đứa trẻ có hình dáng rất kì lạ. Đứa bé không có chân tay, thân hình tròn lẳn như một chiếc sọ dừa. Người mẹ vừa thương con vừa buồn vì sợ con phải chịu những lời chê cười của thiên hạ. Bà đặt tên con là Sọ Dừa.
Tuy có hình dáng khác thường, Sọ Dừa lại rất thông minh và hiếu thảo. Khi lớn lên, cậu không muốn mẹ phải vất vả nên xin đi chăn bò cho nhà phú ông. Phú ông thấy cậu bé có hình dáng như vậy thì nghi ngờ, nhưng cuối cùng vẫn đồng ý. Không ngờ Sọ Dừa chăn bò rất giỏi. Ngày ngày, đàn bò được đưa lên đồng rồi lại trở về đầy đủ, con nào cũng béo tốt. Đặc biệt, mỗi buổi chiều, khi công việc đã xong, tiếng sáo của Sọ Dừa lại vang lên giữa đồng cỏ. Âm thanh trong trẻo ấy khiến khung cảnh làng quê vốn yên bình lại càng trở nên thơ mộng.
Phú ông có ba cô con gái. Hai cô chị thường tỏ ra khinh thường Sọ Dừa, chỉ có cô út là người duy nhất đối xử với cậu bằng sự chân thành. Cô không nhìn vào hình dáng khác lạ mà nhận ra sự chăm chỉ, hiền lành của Sọ Dừa. Dần dần, cô đem lòng quý mến chàng. Khi Sọ Dừa nhờ mẹ đến hỏi cưới, phú ông muốn từ chối nên đưa ra rất nhiều sính lễ. Thế nhưng mọi lễ vật đều được chuẩn bị đầy đủ. Cuối cùng, cô út đồng ý kết duyên cùng Sọ Dừa.
Đám cưới diễn ra trong sự ngạc nhiên của mọi người. Điều kì diệu xảy ra khi Sọ Dừa cởi bỏ lớp vỏ bên ngoài. Trước mắt mọi người không còn là một chàng trai có hình dáng kì dị mà là một người tuấn tú, thông minh. Hai người chị nhìn thấy vậy thì vô cùng tiếc nuối, nhưng tất cả đã quá muộn. Sau đó, Sọ Dừa chăm chỉ học hành và thi đỗ trạng nguyên. Chàng được nhà vua trọng dụng và phải đi xa. Trước lúc lên đường, chàng đưa cho vợ một con dao, một hòn đá lửa và hai quả trứng gà, dặn nàng phải giữ chúng cẩn thận.
Quả nhiên, những ngày Sọ Dừa vắng nhà cũng là lúc lòng ghen ghét của hai người chị trỗi dậy. Họ tìm cách hãm hại cô út rồi đẩy nàng xuống biển. May mắn thay, cô không chết mà trôi dạt đến một hòn đảo. Nhờ con dao, hòn đá lửa và hai quả trứng gà, nàng có thể tự mình sinh tồn. Thời gian trôi qua, hai quả trứng nở thành hai chú gà. Giữa hòn đảo hoang vắng, chúng trở thành những người bạn nhỏ giúp cô vơi đi nỗi cô đơn.
Một ngày nọ, thuyền của Sọ Dừa đi ngang qua hòn đảo. Chàng nghe tiếng gà gáy quen thuộc nên cho thuyền dừng lại. Nhờ vậy, hai vợ chồng nhận ra nhau và đoàn tụ. Khi trở về, cô út kể lại toàn bộ sự việc. Sự thật được phơi bày, hai người chị phải xấu hổ trước việc làm độc ác của mình. Từ đó, vợ chồng Sọ Dừa sống hạnh phúc bên nhau.
Câu chuyện kết thúc nhưng bài học vẫn còn nguyên giá trị. Sọ Dừa từng bị người đời nhìn bằng ánh mắt coi thường chỉ vì hình dáng khác biệt, nhưng chính chàng lại là người có tài năng, lòng hiếu thảo và phẩm chất tốt đẹp. Qua câu chuyện ấy, tôi hiểu rằng không nên vội vàng đánh giá một con người chỉ dựa vào vẻ bề ngoài. Điều quyết định giá trị của một người không phải là họ trông như thế nào mà là họ sống ra sao, đối xử với người khác như thế nào và có đủ nghị lực để vượt qua những bất hạnh của cuộc đời hay không.
Bài văn kể lại một truyện cổ tích - mẫu 19
Có những câu chuyện cổ tích khi còn nhỏ ta nghe bằng trí tưởng tượng, nhưng khi lớn lên, ta lại đọc chúng bằng những suy nghĩ khác. Tấm Cám là một câu chuyện như vậy. Ngày bé, tôi nhớ đến những phép màu của Bụt, chiếc giày đánh rơi trong đêm hội và hình ảnh cô Tấm trở thành hoàng hậu. Nhưng càng suy ngẫm, tôi càng thấy đằng sau câu chuyện ấy là ước mơ của người xưa về công bằng và hạnh phúc.
Ngày xưa, có một cô gái tên Tấm. Mẹ mất từ khi còn nhỏ, sau đó cha cũng qua đời, Tấm phải sống với dì ghẻ và người em cùng cha khác mẹ là Cám. Mẹ con Cám vốn không yêu thương Tấm. Tấm phải làm tất cả những công việc nặng nhọc trong nhà, trong khi Cám được nuông chiều và sống nhàn nhã. Dù vậy, Tấm vẫn hiền lành, chăm chỉ và luôn cố gắng chịu đựng.
Một hôm, dì ghẻ giao cho hai chị em nhiệm vụ bắt tép và hứa sẽ thưởng cho người bắt được nhiều nhất một chiếc yếm đỏ. Tấm chăm chỉ làm việc nên chẳng mấy chốc đã có đầy giỏ. Cám vốn lười biếng nhưng lại tìm cách lừa chị để lấy hết số tép. Tấm nhận ra mình bị lừa thì chỉ biết ngồi khóc. Chính lúc ấy, Bụt xuất hiện, giúp cô tìm thấy niềm an ủi và chỉ cho cô cách chăm sóc chú cá bống nhỏ. Tấm coi cá bống như một người bạn thân thiết, ngày ngày dành phần cơm ít ỏi của mình để nuôi nó. Nhưng mẹ con Cám lại phát hiện ra và tìm cách bắt cá. Khi trở về, Tấm chỉ còn thấy chiếc giếng trống vắng. Cô đau đớn khóc thương người bạn nhỏ của mình, rồi lại được Bụt giúp đỡ.
Đến ngày hội, Tấm cũng mong muốn được đi chơi như bao người khác. Thế nhưng dì ghẻ lại trộn lẫn một đống thóc với gạo rồi bắt cô nhặt riêng từng thứ. Trong khi Tấm ngồi buồn bã giữa sân, những chú chim nhỏ xuất hiện, giúp cô hoàn thành công việc. Nhờ sự giúp đỡ của Bụt, Tấm có quần áo đẹp và một đôi hài xinh xắn để đến hội. Giữa dòng người đông đúc, chiếc hài của Tấm vô tình đánh rơi. Nhà vua nhặt được và cho người thử giày khắp nơi. Cuối cùng, chỉ Tấm đi vừa chiếc hài. Từ một cô gái nghèo khổ, Tấm trở thành hoàng hậu.
Nhưng làm hoàng hậu không có nghĩa là Tấm đã thoát khỏi những đau khổ. Mẹ con Cám vẫn luôn ghen ghét và tìm cách hãm hại nàng. Tấm nhiều lần bị đẩy vào những hoàn cảnh nghiệt ngã, nhưng mỗi lần biến mất, nàng lại hóa thân thành một hình dạng khác. Khi thì là chim vàng anh, khi là cây xoan đào, khi lại trở thành khung cửi. Cuối cùng, Tấm hóa thành quả thị và được một bà lão hiền hậu mang về nhà. Từ quả thị, nàng trở lại hình dáng con người và sống cùng bà như con gái. Hằng ngày, Tấm âm thầm giúp bà làm việc, khiến căn nhà nhỏ luôn gọn gàng, ấm áp.
Một ngày nọ, nhà vua đi ngang qua và tình cờ nhận ra miếng trầu têm cánh phượng quen thuộc. Chàng biết rằng Tấm vẫn còn sống nên tìm đến đón nàng trở về. Hai người cuối cùng cũng đoàn tụ sau bao nhiêu biến cố. Những kẻ đã gây ra đau khổ cho Tấm phải nhận lấy hậu quả cho hành động của mình.
Tấm Cám đã khép lại nhưng câu chuyện về cô gái bất hạnh ấy vẫn khiến tôi nhớ mãi. Điều làm nên sức sống của câu chuyện không chỉ là những yếu tố thần kì mà còn là niềm tin của nhân dân vào công lí. Người hiền lành có thể phải chịu thiệt thòi, người tốt có thể phải đi qua nhiều đau khổ, nhưng họ không vì thế mà đánh mất hi vọng. Tấm đã đi qua những ngày tháng đầy nước mắt để cuối cùng tìm được hạnh phúc. Câu chuyện nhắc tôi rằng trong cuộc sống, trước những điều không công bằng, chúng ta cần giữ lòng tốt, nghị lực và niềm tin vào những điều đúng đắn. Bởi đôi khi, con đường đi đến hạnh phúc không phải là con đường bằng phẳng, nhưng chỉ cần không ngừng bước về phía ánh sáng, ta vẫn có thể tìm thấy mùa xuân của riêng mình.
Xem thêm các bài văn hay Tập làm văn lớp 6 hay khác:
Mục lục Văn mẫu | Văn hay lớp 6 theo từng phần:
- Mục lục Văn biểu cảm, kể chuyện tóm tắt, kể chuyện diễn cảm
- Mục lục Văn kể chuyện đời thường
- Mục lục Văn kể chuyện tưởng tượng
- Mục lục Văn miêu tả
TÀI LIỆU CLC DÀNH CHO GIÁO VIÊN VÀ PHỤ HUYNH LỚP 6
Bộ giáo án, bài giảng powerpoint, đề thi file word có đáp án 2026 tại https://tailieugiaovien.com.vn/
Hỗ trợ zalo: VietJack Official
Tổng đài hỗ trợ đăng ký: 084 283 45 85
Công cụ giáo viên (2048.VN)
Tạo- trộn đề thi miễn phí từ file PDF, Word, Giao bài nhanh chóng, Hoàn toàn Free
Loạt bài Những bài văn hay lớp 6 | văn mẫu lớp 6 của chúng tôi được biên soạn một phần dựa trên cuốn sách: Văn mẫu lớp 6 và Những bài văn hay đạt điểm cao lớp 6.
- Soạn Văn 6 (hay nhất)
- Soạn Văn 6 (ngắn nhất)
- Soạn Văn 6 (siêu ngắn)
- Giải sgk Toán 6
- Giải sgk Tiếng Anh 6 Global Success
- Giải sgk Khoa học tự nhiên 6
- Giải sgk Lịch Sử 6
- Giải sgk Địa Lí 6
- Giải sgk Giáo dục công dân 6
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 6
- Giải sgk Tin học 6
- Giải sgk Công nghệ 6
- Giải sgk Âm nhạc 6

