10+ Nghị luận Vấn đề thi cử đối phó qua tác phẩm Tiến sĩ giấy (điểm cao)

Viết bài nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học: Vấn đề thi cử đối phó thông qua tác phẩm Tiến sĩ giấy điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.

10+ Nghị luận Vấn đề thi cử đối phó qua tác phẩm Tiến sĩ giấy (điểm cao)

Quảng cáo

Dàn ý Viết bài nghị luận về một vấn đề xã hội: Vấn đề thi cử đối phó thông qua tác phẩm Tiến sĩ giấy

a. Mở bài:

- Giới thiệu bài thơ "Tiến sĩ giấy", dẫn dắt đến vấn đề danh và thực trong cuộc sống con người.

b. Thân bài:

- Khái quát nội dung, ý nghĩa của bài thơ:

- Bài thơ có ba lớp nghĩa: miêu tả một thứ đồ chơi cho trẻ con, đả kích những ông tiến sĩ hữu danh vô thực và tự chế giễu chính mình. Dù hiểu theo lớp nghĩa nào thì cũng rất tương xứng với từng câu từng chữ trong bài.

- Giải thích: Danh là những thành quả mà con người gặt hái được như tiếng tăm, tiền bạc, địa vị. Thực là thực lực tự có, tự rèn luyện được của mỗi người. Thực rất đắng cay, gian khổ nhưng danh quả thật vô cùng ngọt ngào và hấp dẫn. Danh chỉ phát huy đúng ý nghĩa và lợi ích của mình khi nó thật sự là hệ quả của thực mà thôi.

- Mặt trái của danh: con người mờ mắt trước danh vọng, địa vị và sẵn sàng đi đường tắt để đạt được điều đó. Hệ quả: xuất hiện những kẻ hữu danh vô thực, những vụ tham nhũng, bê bối làm tổn thất cho Nhà nước hàng chục, hàng trăm tỉ đồng.

Quảng cáo

- Sự đảo lộn danh và thực ấy đã xoá nhoà tính công bằng trong quy luật cuộc sống. Nó đưa những người có tiền và biết đi đường tắt lên tột cùng của danh vọng, đồng thời đã làm lu mờ ý chí phấn đấu, cầu tiến của những ai có thực lực.

- Sự tráo trở giữa danh và thực ấy còn len lỏi vào học đường với căn bệnh thành tích đáng sợ. Tuy nhiên, trong vài năm trở lại đây, nắm bắt được tình hình đó, chúng ta đang thực hiện một cuộc cải cách triệt để không chỉ trong ngành giáo dục mà ở mọi lĩnh vực và toàn xã hội.

c. Kết bài:

- Bài thơ “Tiến sĩ giấy” của Nguyễn Khuyến không chỉ phản ánh bộ mặt xã hội thời bấy giờ mà còn khiến người đọc phải dừng lại suy ngẫm về danh và thực trong cuộc đời và về con đường của chính bản thân mình.

- Hãy tin vào thực lực của mình; bởi nếu có thực lực thì danh tiếng có hay không chỉ còn là chuyện thời gian.

Viết bài nghị luận về một vấn đề xã hội: Vấn đề thi cử đối phó thông qua tác phẩm Tiến sĩ giấy - mẫu 1

Quảng cáo

Tiến sĩ giấy nằm trong phần thơ trào phúng của Nguyễn Khuyến, được biết đến với nhiều ý nghĩa khác nhau. Mặc dù chỉ là cách nói ẩn dụ nhẹ nhàng nhưng hiện thực của một giai đoạn của xã hội, một thực trạng đang lan tràn, ngay cả tới thời kì này vẫn tồn tại.

Với cách mở đầu đầy bất ngờ, hình ảnh tiến sĩ giấy hiện ra nhưng lại ngụ theo một ý nghĩa khác. Chúng ta ai cũng biết tiến sĩ giấy là đồ chơi dành cho trẻ con mỗi khi trung thu, vậy mà tiến sĩ giấy trong bài thơ lại mang một ý nghĩa chế giễu:

“Cũng cờ, cúng biển, cũng cân đai,

Cũng gọi ông nghè có kém ai!”

Ông tiến sĩ ở đây có tất cả mọi thứ mà một ông tiến sĩ thật ngoài đời có, có cờ, biển, cân đai và cũng được gọi là ông nghè cũng được xưng danh lớn. Nếu như với ý tả thực thì người ta chỉ hiểu đơn thuần ở đây chính là hình ảnh của một ông tiến sĩ bình thường, được vua ban cho bổng lộc chức danh, uy nghi.

Nhưng “ từ cũng” xuất hiện bốn lần trong bài thơ khiến cho độc giả tò mò, rằng chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo. Nhưng ngụ ý của Nguyễn Khuyến ở đây chính là, ông tiến sĩ này làm bằng giấy, cũng có đủ mọi thứ để giống với một ông tiến sĩ thật nhưng thực ra lại là một tiến sĩ giấy, chẳng có tài năng phẩm hạnh gì

Quảng cáo

Tiếp đến hai câu tiếp theo, Nguyễn Khuyến lại tiếp tục miêu tả về hình ảnh ấy:

“Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng,

Nét son điểm rõ mặt văn khôi.”

Lại tiếp tục mang sắc thái trào phúng, Nguyễn Khuyến giải thích cho chúng ta hiểu, chỉ cần mảnh giấy xanh xanh, đỏ đỏ, người làm đồ chơi có thể cắt dán vẽ nặn ra hình của ông tiến sĩ một cách dễ dàng. Còn với mảnh giấy thì cũng đủ để làm nên “thân giáp bảng “ và khuôn mặt của một tiến sĩ giấy là “ văn khôi” thông minh đức độ.

Nhưng một ông tiến sĩ ở ngoài đời thực không chỉ có một mảnh giấy, cũng không thể dùng mấy miếng giấy mà tạo thành, vỏ của nó có thể giống tiến sĩ nhưng ruột lại trống rỗng. Như vậy, một tiến sĩ ở ngoài đời là người chịu bao nhiêu năm đèn sách khổ luyện, bao khó khăn vất vả rồi mới trở thành tiến sĩ, từ đó ta thấy được sự đối lập hoàn toàn giữa tiến sĩ giấy và tiến sĩ thật.

Không còn chọn cách nói bóng gió nữa, Nguyễn Khuyến đi sâu vào đánh giá bên trong xem tiến sĩ giấy có những gì:

“Tấm thân xiêm sao sao mà nhẹ,

Cái giá khoa danh ấy mới hời.”

Mọi thứ bên trong tiến sĩ giấy hiện ra với: tấm thân nhẹ, cái giá hời bởi làm bằng giấy và bán giá rẻ mạt nhưng ý tứ đã vượt ra ngoài hình hài người giấy. Đó là nhằm vào những kẻ khoác trên mình xiêm áo ông nghè nhưng tài năng, đạo đức nhẹ tênh, suốt đời không làm nổi việc gì.

Ý nghĩa trào phúng, châm biếm sâu sắc của đoạn thơ đến đây đã thể hiện rất rõ. Thì ra một tiến sĩ mà cũng mua được bằng tiền, nên chỉ là tiến sĩ trên giấy tờ, nhưng làm sao có thể đánh đổi với bao nhiêu năm dùi mài kinh sử.

Hình ảnh tiến sĩ giấy ở trong các dịp lễ trung thu lễ tết chỉ là cái cớ cho tác giả đi đến những ngụ ý sâu xa. “tiến sĩ giấy– những con người không tự bản thân mình mà đi lên lại có mặt khắp mọi nơi, ngay ở cả những nơi nghiêm ngặt và quan trọng nhất. Nhưng có lẽ hai câu kết mới chính là những gì mà Nguyễn Khuyến muốn nói thẳng ra

“Ghế chéo, lọng xanh ngồi bảnh chọe,

Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi!”

Giọng thơ Nguyễn Khuyến rõ ràng có ý phê phán, cười cợt nhưng không phải phê phán, cười cợt một cách thoải mái, và phảng phất trong lời chế giễu ấy có cả sự tự chế giễu bản thân. Người ta có thể nghĩ sâu xa về việc Nguyễn Khuyến cũng là một ông nghề đich thực, một người có đức có tài, nhưng trước hoàn cảnh và vận mệnh đất nước lại đành ngậm ngùi buông xuôi.

Những ngôn từ hình ảnh tạo ra nụ cười mỉa mai chát đối với một bộ phận trong xã hội phong kiến thời xưa. Giọng thơ nhẹ nhàng nhưng lại mang tính chất trào phúng sâu cay, mỗi câu mỗi từ ngày càng đưa độc giả nhìn nhận vấn đề một cách sâu xa.

Viết bài nghị luận về một vấn đề xã hội: Vấn đề thi cử đối phó thông qua tác phẩm Tiến sĩ giấy - mẫu 2

Bài thơ Tiến sĩ giấy nằm trong phần thơ trào phúng của Nguyễn Khuyến. Nhưng trào phúng thường phải ngụ trữ tình mới hay. Mọi người đều biết Tam Nguyên Yên Đổ cũng là một ông nghè nổi tiếng tài ba, thừa hiểu tiến sĩ giấy chỉ là thứ đồ chơi cho trẻ con, vậy mà sao còn làm thơ chế giễu?

“Mở đầu bài thơ, Nguyễn Khuyến viết:

Cũng cờ, cúng biển, cũng cân đai,

Cũng gọi ông nghè có kém ai!”

Tác giả đang tả thực ông tiến sĩ giấy với đủ các thứ sang trọng vua ban cho ngày vinh quy như cờ, biển, cân đai và cũng gọi là ông nghè. Tại sao chỉ trong hai câu mà nhà thơ lại dùng một loạt bốn từ cũng? Đọc lên âm điệu giống như thể hiện thái độ ngạc nhiên trước một sự lạ.

Người đọc ngầm hiểu là trong đời có những ông tiến sĩ những ông nghè thật, xứng đáng với các thứ cờ, biển, cân đai đó, còn ông tiến sĩ này tuy cũng đầy đủ các thứ và cũng được người đời gọi bằng ông nghè nhưng chẳng có chút giá trị nào, vì đó chỉ là một ông nghè giả làm bằng giấy.

Nghĩa đen là thế, còn nghĩa bóng là tuy cũng có đủ thứ quý giá thật đấy nhưng tài cán, đức hạnh chẳng ra gì. Ngụ ý thâm thuý của Nguyễn Khuyến là vừa tả hình dáng ông tiến sĩ giấy, vừa gợi cho người đọc liên tưởng đến những kẻ tuy mang danh tiến sĩ, áo mũ xênh xang nhưng thật sự chẳng có một chút tài đức nào.

Hai câu thực tiếp tục phát triển ý nghĩa ấy :

“Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng,

Nét son điểm rõ mặt văn khôi.”

Với vài mảnh giấy xanh xanh, đỏ đỏ, người làm đồ chơi bồi bồi, dán dán thành hình một ông tiến sĩ giấy, mặt mày phết màu trắng rồi dùng màu son tô điểm cho đẹp. Phần ấy là giả. Còn thân giáp bảng (giáp bảng là bảng thứ nhất sơn vàng nên còn được gọi là bảng vàng), dùng để ghi danh những người đỗ đại khoa, từ tiến sĩ trở lên.

Văn khôi nghĩa là tài giỏi về văn chương. Mặt văn khôi là cách gọi những tiến sĩ có tài xứng với học vị cao quý đó. Làm nên thân giáp bảng và điểm rõ mặt văn khôi đâu phải chĩ cần mấy mảnh giấy và vài nét son mà thành. Phải bao năm đèn sách, có khi suốt cả đời, lại phải là kẻ thông minh, tài cao, chí lớn, gặp thầy gặp bạn mới nên danh chứ đâu có dễ dàng gì.

Tuy vậy, ở đời không ít những vị tiến sĩ bằng xương bằng thịt, học hàm học vị hẳn hoi nhưng cũng chẳng khác gì loại tiến sĩ giấy. Cái thân giáp bảng và mặt văn khôi chẳng qua cũng chỉ là kết quả của những mảnh giấy do chạy chọt bằng thế lực đồng tiền và những nét son vẽ vời bôi bác để che mắt thiên hạ. Dù sao, cái thật và cái giả ở đây cũng vẫn còn lẫn lộn, chưa phân biệt rạch ròi! Cái giả chưa được tác giả đem ra phê phán.

Hai câu luận:

“Tấm thân xiêm ảo sao mà nhẹ,

Cái giá khoa danh ấy mới hời.”

Không còn lấp lửng, bóng gió nữa, từ miêu tả bên ngoài, nhà thơ đã đi vào đánh giá bên trong, vẫn nói vể ông tiến sĩ giấy như: tấm thân nhẹ, cái giá hời bởi làm bằng giấy và bán giá rẻ mạt nhưng ý tứ đã vượt ra ngoài hình hài người giấy mà chĩa thẳng vào các vị khoác trên mình xiêm áo ông nghè nhưng tài năng, đạo đức nhẹ tênh, suốt đời không làm nổi việc gì xứng đáng với danh vị cao quý ấy.

Vậy mà cũng vênh vang với Gái danh ông nghè, ông thám, thì quả là cái giá khoa danh ấy quá rẻ, quá hời, chỉ nhờ dịp may mà mua được. Ý nghĩa trào lộng, châm biếm sâu cay của đoạn thơ đến đây đã thể hiện rất rõ.

Như thế là không phải chỉ đến Tết Trung thu mới xuất hiện hàng loạt những ông tiến sĩ giấy, mà tiến sĩ giấy hằng ngày có mặt khắp nơi. Trong đám quan lại của triều đình nhà Nguyễn cuối thế kỉ XIX, thiếu chi thân giáp bảng, mặt văn khôi nhưng cũng chẳng hơn gì loại tiến sĩ giấy.

Lớp trước sợ giặc, hèn nhát đầu hàng. Lớp sau dựa vào lí lẽ tùy thời, ra làm quan với triều đình bù nhìn, ngoan ngoãn chấp nhận kiếp làm tay sai cho thực dân Pháp. Đến đây thì xiêm áo không chỉ nhẹ, khoa danh không chỉ hời mà đã thành dơ bẩn. Cho nên tác giả mới kết thúc bài thơ bằng hai câu nhận xét thâm thuý:

“Ghế chéo, lọng xanh ngồi bảnh chọe,

Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi!”

Trở lại với tựa đề bài thơ và hai đối tượng một hiện, một ẩn là ông tiến sĩ giấy và ông tiến sĩ bằng xương bằng thịt, chúng ta thấy giá trị chẳng khác gì nhau.

Có một điều lạ là giọng thơ Nguyễn Khuyến rõ ràng có ý phê phán, cười cợt nhưng không phải phê phán, cười cợt một cách thoải mái, hả hê mà phảng phất trong lời chế giễu ấy có cả sự tự chế giễu bản thân.

Bởi cụ cũng là một ông nghè đích thực, hơn nữa là Tam Nguyên Yên Đổ nổi danh, nhưng trước tình cảnh tang thương của đất nước lúc bấy giờ, cũng đành thở dài ngậm ngùi, buông xuôi, bất lực

Ghế chéo, lọng xanh ngồi bảnh chọe là lời bình phẩm theo kiểu nâng nhân vật lên cao để rồi bật ra cái cười mỉa mai chua chát, đắng cay khi phải phơi bày sự thực là tiến sĩ thật hay tiến sĩ giấy giờ đây cũng đểu là thứ đồ chơi mà thôi! Nỗi đau tuy chưa chảy thành nước mắt nhưng cứ rưng rức ở trong lòng nhà thơ

Bài thơ Tiến sĩ giấy mới đọc qua tưởng chỉ là một bài thơ vịnh vật đơn thuần nhưng suy ngẫm kĩ, ta sẽ thấy nó hàm ẩn chất trào phúng trữ tình sâu thẳm, thật đáng trân trọng.

Viết bài nghị luận về một vấn đề xã hội: Vấn đề thi cử đối phó thông qua tác phẩm Tiến sĩ giấy - mẫu 3

Tam nguyên Yên Đổ cũng là người có nhiều bài thơ mang ý vị tự trào vào loại hay và tiêu biểu nhất trong văn học dân tộc. Tiến sĩ giấy chính là một trong những tác phẩm như vậy. Bài thơ thể hiện tài năng nghệ thuật của một tác giả trào phúng bậc thầy và mang ý nghĩa thời đại rõ rệt.

    Xã hội mà Nguyễn Khuyến sống là xã hội thực dân nửa phong kiến với những biểu hiện lố lăng, kệch cỡm. Ở đó mọi giá trị đạo đức truyền thống đã bị đảo lộn, còn cái mới lại mang bộ mặt của kẻ xâm lược. Ngòi bút thâm trầm mà sâu cay của Nguyễn Khuyến đã chĩa mũi nhọn vào những chỗ hiểm yếu nhất của cái ung nhọt đó. Trong Tiến sĩ giấy nhà thơ đã đem ra trào phúng, châm biếm, hạ bệ thần tượng cao nhất của cả một thể chế xã hội đã tồn tại hàng mấy trăm năm – ông tiến sĩ. Đây là một nhân vật rất quen thuộc của xã hội phong kiến Việt Nam.

    Đạt đến học vị tiến sĩ là niềm vinh quang không chỉ của bản thân từng con người mà của cả một dòng họ, một địa phương, được cả xã hội vinh danh, khoác lên mình những ánh hào quang chói lọi. Đó vốn là những con người có tài năng, chứa đựng trong mình những tri thức của thời đại và tất cả những tài năng và tri thức đó sẽ được đem ra để phục vụ đất nước, phục vụ xã hội.

     Đã có biết bao ông tiến sĩ trở thành trụ cột của đất nước, của dân tộc, trở thành nguyên khí quốc gia, được ghi tên tuổi, công trạng trên bia đá, sử xanh. Nhưng đến thời đại của Nguyễn Khuyến mọi chuyện đã thay đổi, những giá trị truyền thống đã dần mai một, hoặc đang từng bước đổ vỡ. Nho học, khoa cử đã xuống cấp, không còn được coi trọng, mọi thứ đã có thể dùng tiền để mua bán, đổi chác, xuất hiện trong xã hội nhiều kẻ chỉ có hư danh mà không có thực học. Kẻ có thực tài, chữ nghĩa đầy mình thì học vị tiến sĩ chỉ còn là cái danh hão, cũng đành khoanh tay ngồi nhìn thời cuộc xoay vần, kiến thức sách vở cũ rích không còn có ích lợi gì trong một bối cảnh mới. Tất cả những điều đó đã được Nguyễn Khuyến thể hiện trong bài thơ Tiến sĩ giấy bất hủ của ông.

Viết bài nghị luận về một vấn đề xã hội: Vấn đề thi cử đối phó thông qua tác phẩm Tiến sĩ giấy - mẫu 4

Bài thơ được sáng tác vào cuối thế kỉ XX, dưới chế độ thực dân, nền văn hóa Nho học lụi tàn, các kì thi thời bấy giờ vô cùng mục nát. Đứng trước thực trạng này, danh nho Nguyễn Khuyến đã viết bài thơ này. Mở đầu tác phẩm tác giả đã miêu tả sự quyền lực, địa vị và uy tín của một người, được so sánh với các yếu tố như cờ, biển và cân đai. ‘’Cũng cờ cũng biển cũng cân đai": Từ ngữ này sử dụng các yếu tố như cờ, biển và cân đai để ám chỉ sự quyền lực, uy quyền hoặc sự địa vị xã hội. Câu thơ sử dụng từ "cũng" để nhấn mạnh sự tương đồng."Ông Nghè" là một người có quyền lực, địa vị cao trong xã hội. Câu thơ này có thể miêu tả sự tương đồng, sự đồng nhất giữa các yếu tố như cờ, biển và cân đai, và sự tương đồng này cũng ám chỉ sự quyền lực, uy quyền hoặc sự địa vị xã hội. Câu thơ cũng nhấn mạnh sự không thể vượt qua, không thể sánh bằng của ông Nghè, ngụ ý rằng ông Nghè là một người có địa vị, quyền lực và không ai có thể vượt qua hay sánh bằng. Câu thơ miêu tả về sự quyền lực, địa vị và uy tín của một người trong xã hội, đồng thời nhấn mạnh sự không thể vượt qua, không thể sánh bằng của ông Nghè.

“Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng,

Nét son điểm rõ mặt văn khôi.’’

      Nghệ thuật đối được Nguyễn Khuyến sử dụng hết sức đắc địa. "Mảnh giấy" đối với "thân giáp bảng", "nét son" đối với "mặt văn khôi". "Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng’’.Thân giáp bảng có thể hiểu là bề mặt của bảng, nơi mà những điều quan trọng được ghi chú và truyền đạt. ‘’Nét son điểm rõ mặt văn khôi" ám chỉ sự trang trọng, quý phái của một tấm giấy được sử dụng để làm giáp bảng hoặc viết văn bản quan trọng. Đoạn thơ này có thể miêu tả sự quyền lực, địa vị và uy tín của một người, được so sánh với các yếu tố như cờ, biển và cân đai. Ông Ghè có vẻ ngoài của một tiến sĩ thực thụ nhưng kiến thức thực sự của ông lại nhẹ như một tờ giấy và một nét son. Qua đó, ta thấy nhà thơ đã bộc lộ rõ nét một chế độ giáo dục mục ruỗng. Ông đã cảm nhận tiến sĩ chỉ như mảnh giấy, nét son. Bởi mảnh giấy và nét son được sử dụng để tạo ra một hình ảnh trang trọng, quý phái, nhưng sâu bên trong thì vô cùng ngu ngốc, không còn một chút tài đức nào.

“Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?

Cái giá khoa danh ấy mới hời’’

Đoạn thơ này có hai câu: Câu thứ nhất đặt câu hỏi: Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ? Đây có thể là một câu hỏi đặt ra để thể hiện sự ngạc nhiên hoặc sự kinh ngạc về sự nhẹ nhàng, thoải mái của tấm thân xiêm áo. Tấm thân xiêm áo có thể được hiểu là một biểu tượng cho cuộc sống đơn giản, không phức tạp. "Cái giá khoa danh ấy mới hời" có thể được hiểu là giá trị của danh vọng, uy tín, danh tiếng chỉ là một cái giá rẻ. Điều này có thể ám chỉ rằng danh vọng và danh tiếng không đáng giá bằng những giá trị khác trong cuộc sống. Đoạn thơ nhấn mạnh sự giản dị và giá trị thực sự của cuộc sống, đồng thời phê phán sự quan trọng quá mức đối với danh vọng và danh tiếng. Đến hai câu cuối, sự mỉa mai của bài thơ mới thực sự đạt đến đỉnh điểm, phá hủy sự thật và sự giả dối của câu trước:

"Ghế chéo lọng xanh ngồi bảnh chọe,

Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi!’’

"Ghế chéo lọng xanh ngồi bảnh chọe" mô tả một hình ảnh về việc ngồi trên một chiếc ghế chéo lọng màu xanh, và người ngồi được mô tả là "bảnh chọe", "Ghế treo lọng xanh" có thể. Cụm từ "bảnh chọe" có thể ám chỉ sự thoải mái, thoải mái, hoặc sự tươi trẻ, tinh tế. Câu thứ hai nói về việc nghĩ rằng "đồ thật hoá đồ chơi. "Đồ chơi" ở đây có thể đại diện cho những thứ nhẹ nhàng, không quan trọng, trong khi "đồ thật" là những điều quan trọng, nghiêm túc. Đoạn thơ này có thể là một lời nhắc nhở về việc giữ cho cuộc sống và giá trị thực của chúng ta không bị mất đi nhất là thời kì công nghệ đang phát triển, nơi mà đôi khi sự giả mạo có thể che đậy giá trị thực sự.

Bài thơ "Tiến sĩ giấy" đã đóng góp cho xã hội Việt Nam lúc bấy giờ trong việc khơi dậy nhận thức xã hội và đấu tranh cho sự công bằng, bình đẳng. Đây cũng là một trong những tác phẩm văn học nổi tiếng của Nguyễn Khuyến và được coi là biểu tượng của phong trào cải cách xã hội, giáo dục trong lịch sử Việt Nam

Viết bài nghị luận về một vấn đề xã hội: Vấn đề thi cử đối phó thông qua tác phẩm Tiến sĩ giấy - mẫu 5

Mục đích chân chính của việc học là trau dồi tri thức và hoàn thiện nhân cách. Thế nhưng, trong xã hội xưa và nay, không ít người lại coi việc học và thi cử chỉ là công cụ để kiếm danh lợi. Từ thế kỷ XIX, nhà thơ Nguyễn Khuyến đã mượn hình ảnh đồ chơi Trung thu để phê phán sâu sắc thực trạng này qua bài thơ Tiến sĩ giấy. Cho đến tận hôm nay, tác phẩm ấy vẫn là một lời cảnh tỉnh đắt giá về vấn đề nhức nhối trong giáo dục: nạn học vẹt, thi cử đối phó.

Bài thơ Tiến sĩ giấy khắc họa hình ảnh một ông tiến sĩ làm bằng giấy, bên ngoài có vẻ lộng lẫy với "mảnh giấy làm nên khoa giáp", "ghế tréo bọng lọng", nhưng thực chất bên trong lại rỗng tuếch. Qua lăng kính trào phúng, Nguyễn Khuyến châm biếm sâu cay những kẻ mang danh trí thức, thi đỗ làm quan nhưng lại vô dụng, thiếu thực tài. Từ hiện tượng "tiến sĩ giấy" thời phong kiến suy tàn, ta nhìn lại hiện tại và giật mình nhận ra bóng dáng của căn bệnh "thi cử đối phó" đang tồn tại trong môi trường học đường.

Thi cử đối phó là tình trạng học sinh học tập không xuất phát từ niềm say mê hay khao khát hiểu biết, mà chỉ cốt để vượt qua các bài kiểm tra. Biểu hiện của nó rất đa dạng: học vẹt, học tủ, gian lận trong thi cử, hoặc học nhồi nhét trước ngày thi rồi thi xong là chữ nghĩa "trả lại hết cho thầy cô". Thậm chí, nhiều phụ huynh và học sinh chỉ chăm chăm vào điểm số, tấm bằng mà bỏ quên việc rèn luyện kỹ năng thực tế.

Nguyên nhân của thực trạng này trước hết bắt nguồn từ "bệnh thành tích" còn nặng nề. Áp lực từ gia đình muốn con cái phải có điểm cao, bằng giỏi đã vô tình biến việc học thành một gánh nặng. Bên cạnh đó, bản thân nhiều học sinh chưa xác định được mục tiêu học tập đúng đắn, mang tâm lý lười biếng, ỷ lại.

Hậu quả của việc thi cử đối phó vô cùng nghiêm trọng. Trước mắt, nó tạo ra những điểm số ảo, thành tích giả. Về lâu dài, nó cho ra đời những thế hệ "tiến sĩ giấy" thời hiện đại: có bằng cấp cao nhưng kỹ năng làm việc kém, thiếu tư duy phản biện và sáng tạo. Một xã hội với những con người rỗng tuếch về trí tuệ và kỹ năng sẽ không thể nào phát triển vững mạnh.

Để khắc phục vấn đề này, mỗi học sinh cần thay đổi nhận thức: học cho mình, học để làm việc và cống hiến chứ không phải học vì điểm số. Gia đình và nhà trường cũng cần giảm bớt áp lực thành tích, chú trọng đánh giá năng lực thực chất và kỹ năng thực hành của người học.

Tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến tuy ra đời cách đây hơn một thế kỷ nhưng giá trị thời sự vẫn còn nguyên vẹn. Tác phẩm nhắc nhở chúng ta rằng: áo mão không làm nên người trí thức, điểm số không phản ánh trọn vẹn trí tuệ. Chỉ có sự nỗ lực học hỏi thực chất mới giúp mỗi người vươn tới thành công và đóng góp giá trị thật cho cuộc đời.

Viết bài nghị luận về một vấn đề xã hội: Vấn đề thi cử đối phó thông qua tác phẩm Tiến sĩ giấy - mẫu 6

“Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai / Cũng gọi ông nghè có kém ai”. Những câu thơ trào phúng mà xót xa ấy trong bài Tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến đã lột tả chân thực sự xuống cấp của nền khoa cử nước nhà thời bấy giờ. Từ hình ảnh ông tiến sĩ làm bằng giấy mỏng manh, vô hồn, nhà thơ đã gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh về nạn "mua danh bán tước", học giả danh thật. Bước vào xã hội hiện đại, thông điệp ấy vẫn khiến chúng ta phải trăn trở trước một vấn đề bức thiết: căn bệnh thi cử đối phó và chạy theo thành tích.

"Tiến sĩ giấy" trong thơ Nguyễn Khuyến là một món đồ chơi hào nhoáng nhưng vô dụng. Tác giả đã dùng nó để ám chỉ những kẻ có hư danh mà không có thực tài. Đáng buồn thay, căn bệnh mang tên "tiến sĩ giấy" ấy ngày nay đã biến tướng thành nạn học và thi cử đối phó.

Thi đối phó là thái độ học tập thụ động, mang tính chất "trả nợ". Người học chỉ coi trọng kết quả bề nổi để làm hài lòng cha mẹ, thầy cô hoặc để có một tấm bằng đẹp đi xin việc. Thay vì chủ động đào sâu suy nghĩ, họ chọn cách chép phao, học vẹt, hoặc dùng những mánh khóe gian lận.

Tại sao chúng ta lại rơi vào tình trạng này? Một phần lớn là do tâm lý chuộng bằng cấp vẫn còn ăn sâu vào nếp nghĩ của xã hội. Thước đo đánh giá năng lực đôi khi bị quy chụp hoàn toàn vào những con số trên bảng điểm. Chính áp lực vô hình đó đã khiến những người trẻ, thay vì tận hưởng niềm vui khám phá tri thức, lại phải gồng mình lên để đối phó với những kỳ thi.

Sự nguy hại của việc thi cử đối phó là nó tạo ra một vỏ bọc hoàn hảo nhưng bên trong lại mục rỗng. Sẽ ra sao nếu một bác sĩ chỉ học đối phó qua môn? Sẽ ra sao nếu một kỹ sư ra trường với tấm bằng giỏi nhưng không biết áp dụng vào thực tế? Nạn học giả, thi giả không chỉ làm lãng phí thời gian, tiền bạc của gia đình và xã hội mà còn làm thui chột đi sự sáng tạo, thui chột đi sự trung thực – phẩm chất quan trọng nhất của con người.

Đã đến lúc chúng ta phải dũng cảm nói "không" với thi cử đối phó. Việc học phải gắn liền với "hành". Bản thân người học cần trung thực với chính mình, biết tự hào về điểm số do chính sức lao động trí óc của mình làm ra, dù đó không phải là điểm tuyệt đối.

Tiếng cười chua chát của Nguyễn Khuyến qua Tiến sĩ giấy chính là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị thực của con người. Đừng để bản thân trở thành những "tiến sĩ giấy" trong thời đại mới, lòe loẹt bên ngoài nhưng yếu ớt trước những thử thách thực tế. Hãy học bằng cả trái tim và khối óc, bởi chỉ có tri thức thật mới là bệ phóng vững chắc nhất cho tương lai.

Viết bài nghị luận về một vấn đề xã hội: Vấn đề thi cử đối phó thông qua tác phẩm Tiến sĩ giấy - mẫu 7

Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, truyện cười Tiến sĩ giấy là một viên ngọc sắc lạnh, phơi bày bộ mặt thật của nạn học giả, học vị giả. Câu chuyện về ông “tiến sĩ” chỉ biết cắn cờ, giật kinh trong khi không có thực học đã trở thành hồi chuông cảnh tỉnh cho mọi thời đại. Dù đã qua hàng trăm năm, vấn đề đặt ra trong tác phẩm – nạn học vẹt, thi cử đối phó để lấy danh vị – vẫn còn vẹn nguyên tính thời sự, gióng lên hồi chuông báo động về căn bệnh thành tích trong giáo dục đương đại.

Trước hết, Tiến sĩ giấy đã phơi bày bản chất của lối học đối phó, lấy danh lợi làm mục tiêu tối thượng. Nhân vật “tiến sĩ” trong truyện không hề có kiến thức thực sự. Khi bước vào sân rồng, trước mặt vua, ông ta lúng túng đến mức không biết chữ “cờ” là cờ gì, phải nhìn theo tay quan mới dám cắn. Hành động “cắn cờ”, “giật kinh” ấy là biểu tượng hài hước nhưng cay đắng cho những kẻ khoác áo quan nhưng đầu óc rỗng tuếch. Họ học không phải để hiểu, để làm, để thành tài, mà học để qua kỳ thi, để có cái danh “tiến sĩ” đủ sức bước vào hàng ngũ quan lại, hưởng vinh hoa phú quý. Cái giá phải trả cho lối học ấy là sự lố bịch, ngu dốt ngay trên chính sân khấu danh vọng, và sâu xa hơn, là sự suy đồi của cả một hệ thống quản lý đất nước khi dùng người không đúng thực tài.

Vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học dân gian ấy không phải là chuyện cũ. Nó đã “thay hình đổi dạng” tồn tại trong xã hội hiện đại dưới những tên gọi khác: bệnh thành tích, chạy theo điểm số, học lệch, học tủ, bằng giả, bằng không… Trong môi trường học đường ngày nay, không khó để bắt gặp hình ảnh học sinh học thuộc lòng một cách máy móc để trả bài cho giáo viên, nhưng khi vận dụng thực tế lại lúng túng như “ông tiến sĩ cắn cờ”. Áp lực thi cử, chạy theo danh hiệu học sinh giỏi, trường chuyên lớp chọn đã vô tình biến việc học từ quá trình tích lũy tri thức thành cuộc đua thành tích. Khi điểm số trở thành thước đo duy nhất, thì “kiến thức giấy” sẽ lên ngôi, và những “tiến sĩ giấy” thời @ sẽ ra đời – những người có tấm bằng đẹp trên tay nhưng thiếu kỹ năng thực hành, thiếu tư duy phản biện và sáng tạo. Hậu quả thật khôn lường: đó là sự lãng phí tiền bạc, thời gian của cá nhân và gia đình; là chất lượng nguồn nhân lực bị suy giảm, khiến đất nước khó cạnh tranh trong thời đại hội nhập; và nguy hiểm hơn, đó là sự hình thành lối sống thực dụng, gian dối ngay từ trên ghế nhà trường.

Từ bài học xuyên thời gian của Tiến sĩ giấy, để đẩy lùi căn bệnh thi cử đối phó, cần có sự chung tay từ nhiều phía. Trước hết, mỗi người học phải thay đổi nhận thức: học là để “biết”, để “làm”, để “chung sống” và để “làm người”, chứ không phải để qua mặt kỳ thi. Cha mẹ cần tránh tạo áp lực điểm số thái quá lên con cái, thay vào đó hãy đồng hành, khuyến khích niềm yêu thích khám phá tri thức. Về phía nhà trường và xã hội, cần tiếp tục đổi mới căn bản phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá, chuyển từ kiểm tra khả năng ghi nhớ sang đánh giá năng lực vận dụng, tư duy sáng tạo. Không thể để một thế hệ “tiến sĩ giấy” nối tiếp nhau ra đời, bởi một nền giáo dục chỉ biết sản sinh ra những con người có học vị mà không có học vấn, có bằng cấp mà không có thực lực, sẽ kéo lùi sự phát triển của toàn xã hội.

Truyện cười Tiến sĩ giấy dù ngắn gọn nhưng lại là tấm gương phản chiếu sâu sắc nhất về căn bệnh học giả, danh giả. Nó nhắc nhở chúng ta rằng, trong bất kỳ thời đại nào, nếu chạy theo danh vị ảo và lối học đối phó, con người sẽ đánh mất bản chất chân chính của việc học. Hãy để việc học trở về đúng giá trị vốn có: khai phóng tâm trí, bồi đắp nhân cách và kiến tạo nên những con người thực tài – những “tiến sĩ” thực thụ có thể gánh vác những trọng trách lớn lao cho gia đình, xã hội và đất nước.

Viết bài nghị luận về một vấn đề xã hội: Vấn đề thi cử đối phó thông qua tác phẩm Tiến sĩ giấy - mẫu 8

Truyện cười Tiến sĩ giấy kể về một ông quan được phong tiến sĩ nhưng thực chất không có học vấn. Khi vào chầu vua, thấy vua cắn cờ, ông ta cũng cắn theo; thấy vua giật kinh, ông ta cũng giật theo. Câu chuyện hài hước nhưng chua chát ấy đã phê phán sâu sắc lối học hình thức, cầu danh lợi mà không có thực tài. Và vấn đề “tiến sĩ giấy” này vẫn đang hiện hữu trong xã hội hiện đại dưới hình thức của bệnh thành tích và thi cử đối phó.

Ngày nay, không khó để thấy những “ông tiến sĩ giấy” thời xưa. Đó là những học sinh học thuộc lòng để trả bài, nhưng hỏi đến bản chất lại không hiểu. Đó là sinh viên chỉ lo thi qua môn, lấy bằng nhưng thiếu kỹ năng hành nghề. Đó là ám ảnh về điểm số, thành tích khiến việc học trở nên máy móc, thụ động. Nguyên nhân của tình trạng này đến từ áp lực thi cử, từ cách dạy “nhồi nhét” kiến thức và từ quan niệm sai lầm coi bằng cấp là thước đo duy nhất của tài năng. Hậu quả là tạo ra những “tiến sĩ giấy” – những người có bằng cấp nhưng năng lực hạn chế, không đáp ứng được yêu cầu của xã hội, thậm chí dẫn đến những hành vi gian lận, thiếu trung thực trong học tập.

Để giải quyết vấn đề này, cần có sự thay đổi từ nhiều phía. Bản thân học sinh, sinh viên phải xác định động cơ học tập đúng đắn: học để tri thức, để trưởng thành, chứ không phải học để qua kỳ thi. Gia đình cần đồng hành, không tạo áp lực điểm số thái quá. Nhà trường cần đổi mới phương pháp dạy và kiểm tra, chú trọng thực hành, kỹ năng và tư duy sáng tạo. Xã hội cần có cái nhìn toàn diện hơn về giá trị con người, không chỉ dựa vào bằng cấp.

Tóm lại, Tiến sĩ giấy không chỉ là câu chuyện cười xưa mà còn là bài học cảnh tỉnh cho chúng ta hôm nay. Hãy tránh xa lối học đối phó, hình thức để không trở thành những “tiến sĩ giấy” lố lăng, hổ thẹn với bản thân và xã hội.

Viết bài nghị luận về một vấn đề xã hội: Vấn đề thi cử đối phó thông qua tác phẩm Tiến sĩ giấy - mẫu 9

Có những câu chuyện dân gian dù ra đời từ ngàn xưa nhưng vẫn vẹn nguyên giá trị như một tấm gương chiếu mạng. “Tiến sĩ giấy” là một câu chuyện như thế. Hình ảnh ông tiến sĩ lúng túng đến mức phải “cắn cờ”, “giật kinh” theo nhà vua như một con rối bị giật dây đã phơi bày một căn bệnh trầm kha: bệnh học giả, danh giả. Và điều đáng buồn là, dù thời gian đã lùi xa, căn bệnh ấy vẫn chưa có thuốc chữa, nó chỉ khoác lên mình chiếc áo mới của “bệnh thành tích” và “thi cử đối phó” trong xã hội hiện đại.

Văn học là “nhân học”. “Tiến sĩ giấy” đã dựng lên một kiểu nhân vật – những kẻ có tấm bằng danh giá nhưng “trong bụng thì rỗng tuếch”. Ông tiến sĩ trong truyện được phong tước vị cao sang nhưng không hiểu nghi lễ cơ bản. Khi nhà vua cắn cờ, ông cũng vội vàng cắn cờ; khi vua giật kinh, ông cũng hấp tấp giật kinh. Tiếng cười trong truyện vang lên không chỉ vì sự lố bịch mà còn vì sự ngậm ngùi, xót xa: danh vị ấy có đáng để đánh đổi bằng sự ngu dốt và hổ thẹn? Đặt trong bối cảnh khoa cử phong kiến, nhân vật ấy là sản phẩm của một nền giáo dục đề cao hình thức, sính bằng cấp, coi trọng danh thơm hơn thực tài.

Ngày nay, nhìn vào hệ thống giáo dục, ta vẫn thấy đâu đó những “ông tiến sĩ giấy” mang dáng dấp hiện đại. Đó là học sinh chỉ biết “học tủ, học vẹt” để đối phó với kỳ thi, ngay sau khi thi xong là quên sạch như chưa từng được học. Đó là sinh viên tốt nghiệp loại giỏi nhưng không thể viết nổi một email công việc hay giải quyết một tình huống thực tế. Đó là nỗi ám ảnh về “bằng cấp” khiến nhiều người sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn, kể cả gian lận và chạy chọt, để có được tấm bằng đẹp. Áp lực từ xã hội, từ gia đình, từ kỳ vọng “danh giá” đã vô tình biến nhà trường thành nhà máy sản xuất những tấm bằng, thay vì ươm mầm những nhân cách và khối óc sáng tạo. Hệ quả là một thế hệ “siêu nhân giấy” – kiến thức thì siêu phàm trên trang giấy, nhưng năng lực thực tế lại… tầm thường. Điều đó không chỉ gây lãng phí cho xã hội mà còn là sự đánh mất chính bản thân người học trong cuộc đua đầy hào nhoáng nhưng hư ảo.

Có người từng nói: “Học vấn không có quê hương, nhưng người có học vấn phải có Tổ quốc”. Tôi xin được nói thêm: Bằng cấp không có tội, nhưng người chỉ biết chạy theo bằng cấp thì có tội với chính tương lai của mình. Dẹp bỏ “tiến sĩ giấy” không phải là xóa bỏ bằng cấp, mà là xóa bỏ thói sùng bái bằng cấp, xóa bỏ lối học đối phó. Để làm được điều đó, mỗi học sinh cần tự vấn: mình học vì điều gì? Gia đình hãy hỏi con: con đã hiểu gì chứ không phải con được bao nhiêu điểm? Và nhà trường hãy thay đổi cách đo đếm: không còn là kiểm tra trí nhớ, mà là kiểm tra năng lực tư duy, sáng tạo và giải quyết vấn đề.

“Tiến sĩ giấy” là một câu chuyện cười, nhưng tiếng cười ấy có thể khiến ta rơi nước mắt nếu chúng ta vẫn mãi là những kẻ “cắn cờ”, “giật kinh” theo một nền giáo dục hình thức. Hãy để mỗi tấm bằng là kết quả của một quá trình lao động thực sự, và mỗi người học là một “tiến sĩ thực” – vững vàng về tri thức, sắc bén về tư duy, và trung thực trong tâm hồn. Đó mới là đích đến đích thực của giáo dục, vượt lên trên mọi thứ danh vị phù du.

Viết bài nghị luận về một vấn đề xã hội: Vấn đề thi cử đối phó thông qua tác phẩm Tiến sĩ giấy - mẫu 10

Trong kho tàng văn học hiện thực phê phán Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, "Tiến sĩ giấy" của Vũ Trọng Phụng là một truyện ngắn sắc sảo, vạch trần bộ mặt giả dối của xã hội thực dân phong kiến. Tác phẩm xoay quanh nhân vật Tiến sĩ Sùng, một kẻ "học vẹt" đỗ đạt nhờ đối phó thi cử, nhưng thực chất là đồ bỏ đi vô dụng. Qua đó, Vũ Trọng Phụng đặt ra vấn đề xã hội gay gắt: thi cử đối phó – căn bệnh trầm kha của nền giáo dục phong kiến, sản sinh ra lớp người "tiến sĩ giấy" vô tài, góp phần làm suy vong đất nước.

Trước hết, "Tiến sĩ giấy" khắc họa rõ nét hiện tượng thi cử đối phó qua hành trình của nhân vật Sùng. Từ nhỏ, Sùng đã học thuộc lòng sách vở mà không hiểu nội dung, chỉ nhằm đỗ đạt để "làm quan". Cậu ta "học đối phó", cày cuốc ngày đêm để nhớ máy móc các câu Nho học, rồi đỗ tiến sĩ nhờ may mắn và thủ đoạn. Sau khi đỗ đạt, Sùng không có tài năng thực sự: làm thơ dở tệ, viết văn lủng củng, thậm chí không biết chữ Quốc ngữ. Vũ Trọng Phụng dùng chi tiết điển hình như cảnh Sùng khoe khoang bằng cấp, sống phè phỡn trên mồ hôi nhân dân, để tố cáo: thi cử phong kiến chỉ là trò lừa bịp, biến khoa cử thành "chợ thịt" mua bán bằng cấp. Vấn đề xã hội được đặt ra ở đây là nền giáo dục nặng hình thức, khuyến khích học vẹt thay vì sáng tạo, dẫn đến sản sinh lớp trí thức "giấy" – có danh mà vô thực.

Sâu sắc hơn, tác phẩm phê phán hậu quả xã hội của thi cử đối phó: sự tha hóa đạo đức và suy vong quốc gia. Sùng đại diện cho tầng lớp nho sĩ phong kiến – những kẻ "tiến sĩ giấy" nắm quyền hành, tham lam, vô trách nhiệm. Họ sống xa hoa trên sưu thuế dân nghèo, thờ ơ với vận mệnh đất nước đang bị thực dân xâu xé. Vũ Trọng Phụng sử dụng nghệ thuật trào phúng chua cay: bút pháp phóng đại (Sùng "học đến ói ra"), ngôn ngữ mỉa mai ("tiến sĩ giấy", "học đối phó"), kết hợp với giọng điệu giễu cợt để làm nổi bật bi kịch. Vấn đề không chỉ dừng ở cá nhân mà lan tỏa thành căn bệnh của toàn xã hội: thi cử đối phó làm méo mó nhân cách, triệt tiêu tài năng thực thụ, khiến đất nước thiếu nhân tài chân chính, dễ dàng rơi vào tay thực dân.

Từ "Tiến sĩ giấy", Vũ Trọng Phụng không chỉ tố cáo mà còn kêu gọi cải cách giáo dục, hướng tới nền học vấn thực học vì dân vì nước. Truyện ngắn đã đánh thức nhận thức, góp phần vào phong trào Duy Tân và hiện đại hóa giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ XX.

Tóm lại, qua "Tiến sĩ giấy", Vũ Trọng Phụng đã đặt ra vấn đề xã hội thi cử đối phó như một bi kịch lịch sử, tố cáo nền giáo dục phong kiến sản sinh lớp người vô dụng. Ngày nay, dù xã hội hiện đại với thi cử công bằng hơn, căn bệnh học vẹt, chạy theo điểm số vẫn âm ỉ tồn tại. Bài học từ nhân vật Sùng nhắc nhở chúng ta: cần xây dựng nền giáo dục thực chất, khuyến khích sáng tạo và đạo đức, để đào tạo thế hệ trẻ tài năng thực thụ. Chỉ khi loại bỏ "tiến sĩ giấy", dân tộc mới thực sự hùng cường, vươn mình hội nhập thế giới.

Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:

Mục lục Văn mẫu | Văn hay lớp 8 theo từng phần:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Loạt bài Tuyển tập những bài văn hay | văn mẫu lớp 8 của chúng tôi được biên soạn một phần dựa trên cuốn sách: Văn mẫu lớp 8Những bài văn hay lớp 8 đạt điểm cao.

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.


Giải bài tập lớp 8 sách mới các môn học