10+ Nghị luận về một thói xấu của con người: Sự nịnh bợ (điểm cao)

Viết bài văn nghị luận về một vấn đề đời sống (một thói xấu của con người trong xã hội hiện đại): Sự nịnh bợ điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.

10+ Nghị luận về một thói xấu của con người: Sự nịnh bợ (điểm cao)

Quảng cáo

Dàn ý Viết bài văn nghị luận về một thói xấu của con người trong xã hội hiện đại: Sự nịnh bợ

a) Mở bài:

- Dẫn dắt: Xã hội hiện đại phát triển kéo theo nhiều thay đổi về lối sống, bên cạnh những giá trị tốt đẹp vẫn tồn tại những thói xấu cần phê phán.

- Nêu vấn đề: Sự nịnh bợ (tâng bốc, nịnh hót) - một "căn bệnh" đạo đức nguy hiểm đang lan rộng trong môi trường công sở, xã hội hiện nay.

- Quan điểm: Đây là hành vi tiêu cực, làm băng hoại các mối quan hệ chân thành và cản trở sự tiến bộ.

b) Thân bài:

1. Giải thích sự nịnh bợ là gì?

- Là hành vi tâng bốc, ca ngợi, xu nịnh một cách quá mức, thiếu chân thành đối với cấp trên, người có quyền thế hoặc người có thể mang lại lợi ích cho mình.

Quảng cáo

- Trái ngược với sự chân thành, trung thực, thẳng thắn.

2. Thực trạng sự nịnh bợ hiện nay

- Xuất hiện phổ biến trong môi trường làm việc, công sở, thậm chí cả trong trường học.

- Biểu hiện: "Bỏ nhỏ" cấp trên, đồng tình vô điều kiện, tâng bốc sai sự thật để thăng tiến hoặc được ưu ái.

3. Nguyên nhân của thói nịnh bợ

- Nguyên nhân cá nhân: Lười lao động, thiếu năng lực thực sự nhưng muốn có vị trí cao, lợi ích lớn.

- Tâm lý đám đông: Thấy người khác nịnh bợ thành công nên bắt chước.

- Môi trường: Sự quản lý lỏng lẻo, trọng người dẻo miệng hơn người tài năng.

4. Tác hại của sự nịnh bợ

- Đối với cá nhân: Đánh mất nhân cách, sự tự trọng; khiến bản thân thụ động, không phát triển năng lực thật.

- Đối với tập thể: Làm rạn nứt đoàn kết, gây mất công bằng, kìm hãm sự phát triển của người tài thực sự.

Quảng cáo

- Đối với xã hội: Tạo ra lối sống giả tạo, băng hoại đạo đức, suy giảm niềm tin.

5. Phản đề (Mở rộng vấn đề)

- Cần phân biệt nịnh bợ với việc tôn trọng, khen ngợi, góp ý chân thành, đúng lúc cho người khác.

- Khen ngợi dựa trên sự thật là động lực, nhưng tâng bốc sai sự thật là thói xấu.

c) Kết bài:

- Khẳng định lại vấn đề: Nịnh bợ là một thói xấu nguy hiểm, cần bị loại bỏ.

- Bài học nhận thức và hành động: Sống chân thành, rèn luyện năng lực, không bao che hay học theo thói nịnh bợ.

- Liên hệ bản thân: Xây dựng lối sống trung thực, thẳng thắn. 

Viết bài văn nghị luận về một thói xấu của con người trong xã hội hiện đại: Sự nịnh bợ - mẫu 1

  Trung Hoa là một trong những cái nôi của văn hoá nhân loại. Từ thời cổ đại, người dân Trung Quốc có quyền tự hào về những bậc học giả, về những người thầy lỗi lạc, uyên bác, từng đúc kết nên nhiều triết lý nhân sinh trở thành chân lý cho mọi thời đại. Tuân Tử là một trong số những bậc vĩ đại ấy. Và câu nói của ông: “Người chê ta mà chê phải là thầy ta, người khen ta mà khen phải là bạn ta, những kẻ vuốt ve, nịnh bợ là kẻ thù của ta vậy”, cũng đủ cho hậu thế phải suy nghĩ.

Quảng cáo

Xã hội loài người ngày càng phát triển về kinh tế, về tư tưởng, nhận thức và cũng song hành với sự phức tạp trong mọi quan hệ đời sống. “Miệng lưỡi thế gian” là điều không thể tránh khỏi. Mỗi con người sống chung trong đồng loại cần phải biết chấp nhận lời chê tiếng khen của mọi người. Nhung để nhận biết sự “thật” – “giả” trong mỗi lời khen tiếng chê, để có ứng xử thích hợp, quả không đơn giản. Câu nói của Tuân Tử đã giúp chúng ta cái “kính chiếu yêu” để nhận biết đâu là “thầy”, đâu là “bạn”, đâu là “thù” trong cuộc đời đầy phức tạp đó.

Là một con người, kể cả bậc vua chúa, vĩ nhân, trong cuộc sống, thật khó tránh khỏi những sai lầm. Những lúc như thế, hẳn chúng ta nhận được những lời nhận xét của mọi người. Tất yếu, mỗi người khác nhau, sẽ có những nhận xét, thái độ khác nhau về ta. Điều quan trọng là ở chính bản thân ta: biết nhận ra cái đúng, cái sai của mình; quan trọng hơn, trong vô số những lời “khen”, “chê” đó, ta nhận ra ai là “thầy ta”, ai là “bạn ta” ai là “kẻ thù” của ta vậy!

Lời dạy của Tuân Tử thật chí lý: “Người chê ta mà chê đúng là thầy ta, người khen ta mà khen đúng là bạn ta”. Mỗi người, khi phạm điều sai, tự mình không dễ gì nhận ra. Người nhận ra cái sai của ta, lại “chê”- tức khẳng định cái sai của ta và chỉ cho ta biết – hẳn phải là người có tầm tri thức, hiểu biết hơn ta. Người đó xứng đáng là bậc “thầy” của ta về trí tuệ. Hơn thế, người thấy và dám chỉ cho ta nhận ra cái sai của mình, để mình có hướng khắc phục, sửa chữa, hẳn đó phải là người có cái tâm thật cao quý: nhưng muốn cho chúng ta nhanh chóng tiến bộ. Chúng ta, về thái độ, tình cảm không thể không tôn vinh người đó là bậc “thầy” về nhân cách để ta học tập.

Người “khen ta mà khen phải” – nghĩa là người đó không những không đố kỵ, hiềm khích trước những cái tốt, cái mạnh của ta, mà còn “khen”, cùng chung vui, chia ngọt sẻ bùi… Đó hẳn là người bạn tốt, người bạn tri âm, tri kỷ của ta vậy. Cuộc đời mỗi chúng ta, nếu có được nhiều người “thầy”, người “bạn” như thế thì hạnh phúc biết bao nhiêu.

Tuy nhiên, trong cuộc sống, không phải ai khen hay chê ta đều là “thầy”, là “bạn” của ta. Tuân Tử đã một lần nữa chỉ cho ta biết cách nhận ra “ bộ mặt thật” của những “kẻ” hiểm độc đó. Đó là “kẻ vuốt ve, nịnh bợ ta”, Tuân Tử tỏ thái độ rõ rệt, dứt khoát khi gọi những loại người đó “là kẻ thù của ta vậy”. Nhưng để nhận ra đâu là bạn “khen ta mà khen đúng” với “những kẻ vuốt ve, nịnh bợ” thật không dễ. Trước hết, kẻ vuốt ve, nịnh bợ, họ khen ta là xuất phát mục đích mưu cầu lợi ích riêng của chính họ. Bởi vậy, thành tích của ta chỉ có một, chúng thổi phồng lên ba, bốn hoặc nhiều hơn thế. Thậm chí, có khi chúng còn ngụy biện, “phù phép” những khuyết điểm, sai lầm của ta thành “thành tích”. Những kẻ đó, luôn lấy việc “nịnh bợ” để tiến thân, khiến cho người được khen ngày càng tự đánh mất mình, xa rời lẽ phải…Thật đáng tiếc là những kẻ đó không thời đại nào không có. Sử sách đã ghi lại không biết bao nhiêu bậc vua chúa đã bị những kẻ nịnh thần làm cho u mê, dẫn đến hãm hại trung thần, triều chính đổ nát, xã tắc suy vong… Lời dạy của Tuân Tử lại một lần nhắc nhở mỗi chúng ta cần sáng suốt để nhận ra đâu là “bạn la” khen ta thật lòng, đâu là “kẻ vuốt ve, nịnh bợ” ta.

Không chỉ đúng với xã hội xưa, mà ngày nay và với tất cả mọi người, ở trên mọi lĩnh vực, lời dạy của Tuân Tử như một chiếc “kính chiếu yêu” giúp chúng ta nhận ra người tốt, kẻ xấu trong cuộc sống, trong học tập. Khi kinh tế thị trường mở cửa, những kẻ chạy theo lợi nhuận, vì danh, vì lợi ngày càng nhiều. Nhân viên nịnh bợ thủ trưởng, cấp dưới luôn luôn vuốt ve, chiều theo ý cấp trên; các bạn lười học thì xun xoe các bạn học giỏi để cầu “phao cứu trợ” trong thi cử, kiểm tra… Hành động của những kẻ đó có thể khác nhau, nhưng đều chung một bản chất: mưu cầu lợi ích riêng tư. Nhưng bạn cũng đừng vì những hiện tượng đó mà đánh mất niềm tin vào cuộc đời. Bởi người tốt, những người xứng đáng là “thầy ta”, “bạn ta” luôn luôn ở bên ta.

Câu nói của Tuân Tử cũng là một lời nhắc nhở chí tình, chí lý cho chính mỗi chúng ta trong quan hệ ứng xử với mọi người. Chúng ta muốn mọi người chê ta thật lòng – như Tuân Tử đã dạy- ta phải biết coi trọng những người đó như bậc “thầy của ta”. Cũng vậy, với bạn bè, đồng đội ta phải sống với cái tâm chân thành, dám chỉ ra những khuyết điểm của bạn mà ta nhận thấy, với ý thức cầu mong cho bạn mình ngày càng hoàn thiện. Mỗi chúng ta cần biết “chia ngọt sẻ bùi”” với bạn bè, coi thành tích của bạn làm niềm vui chung cùng chia sẻ.

Viết bài văn nghị luận về một thói xấu của con người trong xã hội hiện đại: Sự nịnh bợ - mẫu 2

Trong cuộc sống của chúng ta, những lời khen là vô cùng cần thiết để khích lệ, động viên hay khen ngợi ai đó. Lời khen giúp họ cảm thấy tự hào về những việc mình đã làm được và cố gắng làm tốt hơn nữa. Tuy nhiên, những lời khen mang tính chất nịnh bợ thì không tốt chút nào. Tuân Tử đã từng nói: “ Người chê ta mà chê phải là thầy ta, người khen ta mà khen phải là bạn ta, những kẻ vuốt ve, nịnh bợ ta chính là kẻ thù của ta vậy.” Trong câu nói bao gồm ba đối tượng: “Người chê ta”, “người khen ta”, “kẻ vuốt ve, nịnh bợ ta” và vai trò của họ đối với cuộc sống mỗi con người.

“Người chê ta mà chê phải là thầy ta”. Chê, nhưng là chê phải. Đó là những người thấy ta sai và dám chỉ ra cái sai của ta, để từ đó ta rút ra được bài học và sửa chữa sai lầm. Bình thường, chúng ta thường không thích những người chê mình. Tuy nhiên, người khôn ngoan phải là người biết phân biệt đâu là những lời chê có thiện chí. Trong cuộc sống, tất nhiên không thiếu những kẻ ganh ghét, luôn chê bai người khác một cách ác ý. Chúng ta nên biết phân biệt đâu là những lời chê ác ý để bỏ qua, và đâu là những lời chê mang tính góp ý để chúng ta tiến bộ. Một người chỉ khi biết tiếp thu ý kiến của người khác thì mới có thể thành công được. Còn nếu cứ khăng khăng làm theo ý mình, sớm muộn gì người đó cũng sẽ thất bại mà thôi. Chính vì thế, vai trò của những lời “chê phải”, những người dám nói lên những lời chê ấy là vô cùng quan trọng trong cuộc sống của chúng ta. Những người ấy chẳng khác gì thầy ta, giúp ta hiểu ra, học được nhiều điều trong cuộc sống.

Đối tượng thứ hai, là những người khen ta, nhưng tất nhiên, là “khen phải”. Vậy thế nào là khen phải? Đó là những lời khen chân thành, không nhằm vụ lợi cho bản thân mà tâng bốc đối tượng một cách quá đáng. Mục đích của lời khen ấy chỉ là xuất phát từ việc bày tỏ sự ngưỡng mộ, hay khích lệ người được khen. Con người ta luôn có xu hướng muốn được khen, vì những lời khen thường “dễ nghe” hơn những lời chê. Lời khen là quan trọng, có tác dụng giúp con người ta thấy tự hào vì những thứ được khen, tuy nhiên, chúng ta cần biết được đâu là những lời khen thật, đâu là những lời tâng bốc, xu nịnh. Không nên vì được khen quá nhiều mà dẫn đến suy nghĩ mình đã hoàn hảo, từ đó sẽ dẫn đến tự kiêu, không cố gắng, tất sẽ có ngày gặp thất bại. Những người có thể hiểu, có thể khen thật ta, đó chính là những người bạn của ta.

Còn đối tượng cuối cùng, cũng liên quan đến những lời khen, nhưng đó lại là “những kẻ vuốt ve, nịnh bợ”ta, như Tuân Tử nói, đó cũng chính là “kẻ thù của ta”. Những kẻ ấy chỉ nói những lời khen nhằm vụ lợi cho bản thân, chứ không xuất phát từ sự chân thành hay sự ngưỡng mộ đối với người được khen. Những lời khen ấy khiến cho người được khen cảm thấy mình thật tốt đẹp, thật quan trọng, thật vĩ đại, từ đó sẽ không cố gắng và dần dần sẽ bị thua kém so với những người xung quanh. Điều ấy thật nguy hiểm. Và những kẻ xu nịnh ta như vậy, giống như kẻ thù của ta vậy. Họ “giết” ta bằng những lời nịnh bợ, dối trá. Điều chúng ta cần làm là tránh xa, hạn chế giao lưu với những đối tượng ấy trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong môi trường học tập, làm việc.

Câu nói của Tuân Tử, từ xưa đến nay, vẫn luôn là bài học sâu sắc và đáng ghi nhớ cho tất cả mọi người trong cuộc sống. Hãy luôn tỉnh táo, để phân biệt được đâu là bạn, đâu là thù, để có thể có được những lời góp ý, lời khen chân thành nhất từ đó có thể hoàn thiện bản thân mình.

Viết bài văn nghị luận về một thói xấu của con người trong xã hội hiện đại: Sự nịnh bợ - mẫu 3

  Trong cuộc sống, con người luôn mong muốn được người khác yêu mến và đánh giá cao. Tuy nhiên, để đạt được điều đó, mỗi người cần dựa vào năng lực, phẩm chất và sự cố gắng chân chính của bản thân. Thế nhưng trong xã hội hiện đại, vẫn tồn tại một thói xấu đáng phê phán, đó là sự nịnh bợ. Đây là một hành vi không lành mạnh, làm suy giảm những giá trị tốt đẹp trong các mối quan hệ xã hội.

Trước hết, nịnh bợ có thể hiểu là hành động cố tình nói những lời khen ngợi, tâng bốc quá mức nhằm làm vừa lòng người khác để đạt được lợi ích cá nhân. Người nịnh bợ thường không nói đúng suy nghĩ thật của mình mà chỉ nói những điều mà người nghe muốn nghe. Họ sẵn sàng khen ngợi quá mức, thậm chí không đúng sự thật, chỉ để lấy lòng những người có quyền lực hoặc có thể mang lại lợi ích cho họ.

Trong xã hội hiện nay, sự nịnh bợ có thể xuất hiện ở nhiều môi trường khác nhau như nơi làm việc, trường học hoặc trong các mối quan hệ xã hội. Có người luôn tìm cách khen ngợi cấp trên một cách quá mức để được chú ý hoặc thăng tiến. Có người lại tâng bốc người khác để được giúp đỡ hay nhận được lợi ích nào đó. Những lời khen tưởng chừng tốt đẹp nhưng thực chất lại mang mục đích vụ lợi.

Thói nịnh bợ gây ra nhiều hậu quả tiêu cực. Trước hết, nó làm mất đi sự chân thành trong các mối quan hệ giữa con người với nhau. Khi những lời nói không còn xuất phát từ sự thật mà chỉ nhằm mục đích lấy lòng, các mối quan hệ sẽ trở nên giả tạo và thiếu tin cậy. Điều này khiến xã hội dần mất đi sự thẳng thắn và trung thực.

Bên cạnh đó, sự nịnh bợ còn làm ảnh hưởng đến sự công bằng trong xã hội. Khi một người được đánh giá cao không phải vì năng lực thực sự mà vì những lời tâng bốc xung quanh, những người có năng lực thật sự có thể bị xem nhẹ. Điều này khiến môi trường học tập và làm việc trở nên thiếu công bằng và kém hiệu quả.

Ngoài ra, thói nịnh bợ còn khiến những người được nịnh bợ dễ rơi vào sự tự mãn. Khi chỉ nghe những lời khen ngợi, họ có thể không nhận ra những điểm yếu của mình để cải thiện. Lâu dần, điều này có thể khiến họ đánh giá sai về năng lực của bản thân và đưa ra những quyết định không đúng đắn.

Nguyên nhân của sự nịnh bợ thường xuất phát từ lối sống thực dụng và tâm lý vụ lợi. Một số người cho rằng nịnh bợ là cách nhanh nhất để đạt được lợi ích hoặc địa vị. Bên cạnh đó, sự thiếu tự tin vào năng lực của bản thân cũng khiến một số người chọn con đường lấy lòng người khác thay vì cố gắng phát triển bản thân.

Để hạn chế thói xấu này, trước hết mỗi người cần xây dựng cho mình thái độ sống trung thực và thẳng thắn. Những lời góp ý chân thành tuy có thể không dễ nghe nhưng lại giúp con người hoàn thiện bản thân. Đồng thời, mỗi người cũng cần hiểu rằng thành công thực sự chỉ có thể đạt được bằng năng lực và sự nỗ lực chân chính.

Ngoài ra, xã hội cũng cần đề cao giá trị của sự trung thực và công bằng. Khi những người có năng lực thật sự được đánh giá đúng mức, thói nịnh bợ sẽ dần không còn đất tồn tại.

Tóm lại, sự nịnh bợ là một thói xấu đáng phê phán trong xã hội hiện đại. Nó không chỉ làm mất đi sự chân thành giữa con người với nhau mà còn ảnh hưởng đến sự công bằng và phát triển lành mạnh của xã hội. Vì vậy, mỗi người cần ý thức rõ về tác hại của thói xấu này để sống trung thực, chân thành và xây dựng những mối quan hệ tốt đẹp hơn trong cuộc sống.

Viết bài văn nghị luận về một thói xấu của con người trong xã hội hiện đại: Sự nịnh bợ - mẫu 4

Trong hành trình hoàn thiện nhân cách, con người luôn cần những lời động viên, khích lệ để vươn lên. Thế nhưng, ranh giới giữa lời khen chân thành và sự nịnh bợ lại vô cùng mong manh. Trong xã hội hiện đại, khi các mối quan hệ đôi khi được xây dựng trên nền tảng của lợi ích, thói nịnh bợ đã trở thành một vấn nạn nhức nhối. Đó không chỉ là một hành vi giao tiếp lệch lạc mà còn là biểu hiện của sự suy đồi về đạo đức và sự thiếu hụt về năng lực thực tế.

Trước hết, cần hiểu rõ nịnh bợ là gì? Nịnh bợ là hành vi dùng lời lẽ tâng bốc, khen ngợi một cách quá mức, sai sự thật nhằm lấy lòng người khác, thường là những người có quyền thế hoặc địa vị cao hơn, để mưu cầu lợi ích cá nhân. Khác với lời khen chân thành xuất phát từ sự ngưỡng mộ thực sự, nịnh bợ mang bản chất của sự giả dối, vụ lợi và có tính toán.

Thực tế hiện nay, sự nịnh bợ len lỏi vào mọi ngóc ngách của đời sống, từ học đường đến công sở. Trong trường học, đó là hình ảnh những cá nhân cố gắng lấy lòng thầy cô bằng những cử chỉ thái quá để đổi lấy điểm số hay danh hiệu. Trong môi trường công sở, nịnh bợ biến tướng thành những lời tung hô "sếp" một cách mù quáng, bất chấp đúng sai. Thói xấu này tạo ra một bầu không khí độc hại, nơi mà năng lực thực sự bị che mờ bởi những kẻ "khéo mồm khéo miệng". Người nịnh bợ giống như những kẻ đeo mặt nạ, họ không sống thật với cảm xúc và suy nghĩ của mình, mà sống theo ý muốn của người họ đang nịnh.

Hệ lụy của thói nịnh bợ là vô cùng nghiêm trọng. Đối với người nịnh, họ dần đánh mất lòng tự trọng và nhân cách của chính mình. Khi phải hạ mình để tâng bốc người khác, họ đã vô tình thừa nhận sự thấp kém về năng lực. Về lâu dài, họ trở nên lười biếng, không chịu rèn luyện trí tuệ mà chỉ tập trung vào việc "đi cửa sau" bằng ngôn từ. Đối với người được nịnh, nếu không tỉnh táo, họ dễ rơi vào ảo tưởng về sức mạnh của bản thân. Những lời "mật ngọt chết ruồi" sẽ khiến họ không nhận ra những thiếu sót, sai lầm, từ đó dẫn đến những quyết định lệch lạc, gây thiệt hại cho tập thể và xã hội.

Đáng sợ hơn, thói nịnh bợ còn tạo ra một sự bất công bằng xã hội. Khi những kẻ nịnh bợ đạt được vị trí cao nhờ sự khéo léo giả tạo, những người có thực tài, liêm khiết và trung thực thường bị gạt sang bên lề. Điều này triệt tiêu động lực phấn đấu của những người chân chính, khiến xã hội chậm phát triển và thiếu đi những giá trị thực chất. Một tập thể có quá nhiều kẻ nịnh bợ sẽ giống như một ngôi nhà xây trên cát, dễ dàng sụp đổ trước những thử thách thực tế vì thiếu đi những cột trụ năng lực vững chắc.

Vậy, làm thế nào để bài trừ thói xấu này? Câu trả lời nằm ở bản lĩnh của mỗi người. Chúng ta cần rèn luyện một cái đầu lạnh để phân biệt phải trái, đúng sai. Với những người lãnh đạo, cần có sự tỉnh táo để không bị những lời tâng bốc làm mờ mắt, luôn lấy hiệu quả công việc và thái độ trung thực làm thước đo. Với những người trẻ, đặc biệt là sinh viên, cần hiểu rằng giá trị của bản thân được xây dựng từ tri thức và đạo đức, chứ không phải từ những lời nịnh hót đầu môi.

Trong thế giới phẳng và kỷ nguyên số, nơi mọi thông tin đều có thể được kiểm chứng nhanh chóng, sự giả dối sẽ sớm bị đào thải. Sự nịnh bợ có thể mang lại lợi ích ngắn hạn, nhưng sự chân thành và năng lực thực tế mới là tấm hộ chiếu đưa chúng ta đi xa trên con đường sự nghiệp.

Khép lại vấn đề, chúng ta hãy học cách khen ngợi đúng lúc và phê bình đúng chỗ. Hãy giữ cho mình một tâm thế thẳng thắn, trọng sự thật và biết quý trọng lòng tự trọng. Một xã hội văn minh không có chỗ cho những lời nịnh hót mù quáng, mà cần những con người dám nói thẳng, dám làm thật và sống bằng tất cả sự chân thành của mình.

Viết bài văn nghị luận về một thói xấu của con người trong xã hội hiện đại: Sự nịnh bợ - mẫu 5

"Lời nói chẳng mất tiền mua lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau" đó là một câu ca dao, một bài học đã có từ rất lâu đời của cha ông ta khuyên dạy con người nên cẩn thận trong lời ăn tiếng nói, biết nói những lời hay ý đẹp để thành công trong quan hệ xã hội. Tuy nhiên cho đến ngày hôm nay nhiều người đã quên đi ý nghĩa thực sự của lời dạy trên mà chỉ chăm chăm nói những "lời hay ý đẹp" bất chấp đó là những lời giả dối hay trái với lòng mình để đạt được những mục đích riêng. Dần dà tạo thành một thói quen xấu ấy là sự xu nịnh bợ đỡ hiện hữu khắp mọi nơi, khiến con người chìm vào mộng tưởng tốt đẹp mà không hề biết được những sự thật đang bị che lấp bởi những lời hoa mỹ của kẻ khác. Đồng thời sự khen tặng trở nên ngày càng rẻ mạt và vô giá trị, điều đó dấy lên trong chúng ta nhiều suy nghĩ trăn trở.

Đầu tiên nói về sự nịnh bợ, phải khẳng định rằng đây là một hành vi mang tính tiêu cực và có phần hơi hèn kém, tiểu nhân. Nịnh bợ là một hành vi đã có từ xa xưa, khi mà con người bắt đầu có những chế độ hành chính, phân chia cấp bậc trong xã hội, những kẻ ở vị trí thấp hơn thường dùng những lời nói dễ nghe, hoa mỹ, tốt đẹp một cách quá mức, thậm chí là đưa ra những lời khen tặng tiểu tiết hoặc không có thật, chấp nhận dối trá để bợ đỡ những người ở vị trí cao hơn, nhằm đạt được những lợi ích cho riêng mình. Mục tiêu của sự nịnh bợ là đánh và tâm lý tình cảm của những người ham hư vinh, thích nghe những lời nói bóng bẩy, tự ảo tưởng về bản thân, không phân biệt được thật giả, hoặc là có biết nhưng vờ như không thấy để thỏa mãn thói xấu của bản thân chìm trong cảm giác được hoan nghênh, tán tụng.

Ngày nay ta thấy sự nịnh bợ diễn ra ở mọi nơi, mọi thời điểm, mọi lứa tuổi, mọi quốc gia, chỉ cần ở nơi đâu có sự phân cấp thì sự xu nịnh đều sẽ xuất hiện. Tuy nó không phải là một căn bệnh truyền nhiễm, thế nhưng sự nịnh bợ thường đem đến những tác động tiêu cực, ảnh hưởng lớn đến các mối quan hệ xã hội cũng như việc đánh giá năng lực có nhân một cách công bằng. Ví như trong môi trường giáo dục, một học sinh biết cách nói khéo lấy lòng thầy cô giáo thì thường được yêu quý và đôi khi còn nhận được sự "châm chước" trong một số trường hợp thi cử, hoặc được ưu tiên quan tâm nhiều hơn, được bỏ qua một số lỗi phạm phải. Điều này gây ảnh hưởng nặng nề đến tâm lý của các học sinh khác, khi họ cho rằng bản thân bị đối xử không công bằng, năng lực của bản thân không được công nhận, dễ gây đến sự xích mích, xung đột giữa các học sinh, hay sự chán nản trong học tập.

Trong môi trường công sở, hành chính sự xu nịnh xảy ra một cách thường xuyên và thậm chí còn trở thành "truyền thống" của dân văn phòng hành chính. Điều đó xuất phát từ nguyên nhân người lãnh đạo ở vị trí cao hơn nắm vai trò lãnh đạo thường có một số tâm lý phổ biến như không thích bị chỉ trích, ghét ai vượt quyền và tỏ ra xuất sắc hơn mình, luôn mong muốn những cảm giác được tôn sùng, và thường bảo thủ với các ý kiến của mình (dù có thể trong một số trường hợp nó không hợp lý). Chính điều này đã tạo cơ hội cho những kẻ giỏi nịnh bợ, bởi lẽ trông những người này khá nghe lời, dễ điều khiển, đặc biệt lại biết nói lời hay, đáp ứng được hết các yêu cầu của những người lãnh đạo ưa nịnh bợ. Thành thử trong môi trường công sở, hành chính ta thường thấy việc nịnh bợ xảy ra thường xuyên, kẻ khen sếp có chiếc cà vạt đẹp, người khen con sếp học giỏi, khen vợ sếp đẹp, hoặc dùng những câu từ lộ liễu có vẻ dí dỏm như "chuyện gì sếp cũng tuyệt vời, chỉ có một điều là sếp toàn năng quá khiến bọn nhân viên chúng em xấu hổ vì không có tài cán được như sếp",... và nhiều những câu khen thừa thãi vô bổ khác. Vì đánh vào tâm lý nên người được khen sẽ thường có cái nhìn thiện chí hơn với những kẻ quen nịnh bợ, sẽ dành ra cho họ những sự ưu ái nhất định, còn những người có năng lực thật sự lại không được trọng dụng gây chán nản trong nhân viên. Ảnh hưởng đến uy tín của cấp trên, người lãnh đạo khó nhận được sự tin phục từ nhân viên, cũng như mất đi khả năng phán đoán và nhận định năng lực khi đã chìm quá sâu vào sự nịnh bợ.

Có thể nhấn mạnh rằng sự nịnh bợ là một kiểu băng hoại đạo đức mang diện mạo tử tế khiến người ta dễ trầm mê và bị thao túng, thậm chí nó trở thành một mối họa khôn lường. Cứ soi chiếu vào lịch sử của nước ta cũng như Trung Quốc, có biết bao nhiêu triều đại lung lay vì nạn nịnh thần, thời Càn Long có Hòa Thân, thời Đường Minh Hoàng có Dương Quốc Trung, đều là những tên giỏi mồm mép, bên trên làm mờ mắt hoàng đế, bên dưới thì ra sức đục khoét làm việc nhũng nhiễu dân chúng khiến người đời căm phẫn. Ở Việt Nam, thời vua Trần Dụ Tông, vua bất tài ham mê tửu sắc, để nịnh thần lộng quyền, Chu Văn Văn 7 lần dâng sớ xin trảm những tên này nhưng đều bị bác bỏ, kết cục là nhà Trần rơi vào cảnh diệt vong.

Có thể so với lịch thì nạn xu nịnh ngày hôm nay không còn để lại những hậu quả ghê gớm nhưng nó cũng mang đến những tác động tiêu cực đến đời sống xã hội, làm rối loạn môi trường học tập, giáo dục, hành chính công,... Vùi lấp những giá trị đích thực, cản trở việc nhận ra sai lầm và sự sửa chữa sai của nhiều cán bộ, công chức, làm mất đi giá trị của lời khen tặng, sự tán dương giữa con người với nhau, khiến cuộc sống trở nên quá bóng bẩy, con người luôn sống trong những ảo tưởng kém thực tế, không tự hoàn thiện mình được. Còn đối với kẻ quen đi nịnh bợ người khác, thì lúc nào cũng phải sống trong cái vỏ bọc giả dối, trở thành tấm "áo cưới" cho người khác, dù đạt được được những mục đích cho riêng mình thế nhưng lại luôn phải sống trong trái với suy nghĩ của bản thân, đến độ quên mất cả cách nói thật. Những người xung quanh bạn sẽ luôn sống với thái độ dè chừng, cẩn trọng với những lời nói mà bạn dành cho họ, bạn không bao giờ đạt được sự tin cẩn hay kính yêu của những người khác. Đặc biệt khi sự xu nịnh hợm hĩnh bị bóc trần, thì lập tức bạn sẽ không còn gì cả, lập tức trở thành kẻ tiểu nhân bị bỏ rơi.

Chính vì thế trên cuộc đời học gì cũng đừng cố học lấy thói xu nịnh, hãy sống thật với mình, làm sao cho mỗi lời nói của bản thân đều có giá trị, khen thực lòng, khéo léo chỉ ra khuyết điểm của người khác, khiêm tốn khi nhận được lời tán dương, chấp nhận những lời nhận xét chỉ ra khuyết điểm của mình và nghiêm túc suy nghĩ sửa đổi. Hãy nhớ một câu nói của Tuân Tử rằng: "Người ta chê mà chê phải là thầy của ta vì hơn ta tầm hiểu biết. Người ta khen mà khen phải là bạn vì hiểu được ta. Người vuốt ve nịnh bợ chính là kẻ thù của ta vậy".

Viết bài văn nghị luận về một thói xấu của con người trong xã hội hiện đại: Sự nịnh bợ - mẫu 6

Thói nịnh bợ là một căn bệnh tuy không di truyền, nhưng đã có từ ngàn xưa cho đến nay, tuy không truyền nhiễm, nhưng đã phát sinh ở nhiều nơi, thời nào cũng có.

Nhận diện tướng mạo của kẻ xu nịnh thường thấy là tướng người với dáng lưng cong, đi đứng khúm núm, khám lâm sàng, thấy lưỡi của đối tượng này có độ uốn rất dẻo, hai đầu gối bị chai sạn, dép giày thì bị mòn mũi, còn da mặt thì có độ dày lì lợm.

Trên thực tế, thói nịnh bợ xưa nay có nhiều kiểu, nhiều cách, nhiều cấp độ khác nhau, với muôn hình vạn trạng biến hóa khôn lường, có khi tiềm ẩn rất lâu, đến một thời điểm nhất định nào đó mới bộc lộ. Nịnh bợ là một thủ đoạn thấp hèn nhằm tìm kiếm các lợi ích riêng tư và nó sống nhờ vào những kẻ đã say sưa thích lắng nghe chúng. Khác với sân khấu, phim ảnh, trong cuộc sống đời thường thì người nịnh và kẻ được nịnh đều được hưởng lợi đáng kể.

Đáng buồn là người nịnh dễ được trọng dụng, cất nhắc, thăng quan tiến chức, lên lương, khen thưởng, thậm chí có thể được che chở khi “lâm nạn”… Loại người này chỉ được lòng một số rất ít, còn lại hầu như bị người đời khinh bỉ, giễu cợt, lên án. Người nịnh tồn tại bởi có nhiều người ưa nịnh. Hai bạn “đồng hành” này kết thành phe cánh, tạo nguồn lợi đối tác cho nhau. Những ai không “hát cùng nhịp” sớm muộn sẽ bị loại dần.

Người nịnh thường chi ra một ít tiền “chơi đẹp”. Còn những người được nịnh thì nghĩ rằng, không mất gì, lại ưa nghe lời ngon ngọt, tụng ca cá nhân, say sưa sống trong cảm giác của kẻ bề trên.

Kẻ nịnh trên thì thường “chèn” dưới, “thượng đội, hạ đạp”, thích báo cáo vẽ vời khoác lác, ba hoa đủ điều. Họ sẵn sàng uốn lưỡi, cong lưng, hạ mình thực hiện hành vi đê tiện, thấp hèn. Hình ảnh của một Hòa Thân thời vua Càn Long là bậc thầy của thói nịnh hót. Từ một tên quan lại hạng quèn đã leo lên đến Tể tướng và đục khoét, giàu có tột đỉnh. Xưa nay kẻ xu nịnh vẫn thường a dua theo đuôi kẻ có quyền lại ưa nịnh để thăng quan tiến chức, bất chấp lẽ phải.

Tham gia nhiều cuộc họp, triển khai công việc, có hôm chúng tôi chứng kiến, nghe khi một vị lãnh đạo chủ trì hội nghị triển khai nghị quyết, do khả năng thuyết trình của mình có phần bị hạn chế, nên vị ấy đã gần như đọc nguyên văn nghị quyết, không hề phân tích, giải thích… thì có cán bộ lại khen: “Anh vốn không thích nói dông, nói dài hay ba hoa như nhiều người khác, truyền đạt nghị quyết như anh vừa trình bày nó vừa tiết kiệm được thời gian, nhưng hiệu quả vẫn đảm bảo”.

Về thăm một huyện miền núi, vị lãnh đạo cấp trên rất quan tâm đến đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số, khi nói chuyện với cán bộ chủ chốt của huyện, đã ân cần căn dặn cấp dưới của mình: “Các đồng chí phải làm thế nào(?) để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân”. Còn làm như thế nào để nâng cao đời sống thì vị ấy không hề nói đến. Đồng chí thư ký đi theo không tiếc lời tâng bốc thủ trưởng của mình: “Anh giao trách nhiệm cho huyện, nhưng không áp đặt giải pháp nào cụ thể mà để cho huyện phát huy tính năng động, sáng tạo của mình miễn sao đạt được mục tiêu đề ra. Nghệ thuật lãnh đạo chỉ đạo của anh thoáng và dân chủ là ở chỗ đó”.

Nói đến thói nịnh bợ, có vô vàn chuyện không sao kể hết. Loại người này thường tùy cơ ứng biến, bất kể trường hợp nào cũng nịnh được, thậm chí nịnh rất hay! Nhưng có một điều đã được khẳng định là, người nịnh và kẻ được nịnh đều tự làm mất nhân cách của mình mà thôi. Thói nịnh bợ gây tác hại không nhỏ. Nó làm cho chính kẻ nịnh mất hết bản lĩnh, trở thành biến chất, thoái hóa. Nó làm cho người được nịnh không đánh giá đúng bản thân mình, sinh ra chủ quan, tự mãn. Nếu người được nịnh là cán bộ có chức quyền cao trọng thì có thể sẽ làm tổn hại đến công việc chung, dẫn đến đánh giá sai lệch cán bộ dưới quyền. Hậu quả là người tốt không được trọng dụng, người xấu lấn lướt lộng quyền. Cần đề cao cảnh giác hơn vì thói nịnh hót là một trong những nguyên nhân gây mất đoàn kết nội bộ, chia bè, chia cánh trong cơ quan làm suy yếu tổ chức.

Người nịnh nọt và người ưa nịnh là hai mặt của một vấn đề. Có kẻ nịnh bởi vì có kẻ ưa nịnh! Nịnh và ưa nịnh có đất sống chứng tỏ trong sinh hoạt chúng ta chưa dám nói thẳng nói thật với nhau, do công tác phê bình và tự phê bình kém. Để hạn chế thói nịnh hót chúng ta cần tạo dư luận xã hội rộng rãi, lên án tệ nịnh hót và thói ưa nịnh. Tổ chức Đảng, chính quyền, các đoàn thể, tổ chức quần chúng cần có tiếng nói mạnh mẽ, trực diện trước những biểu hiện của những kẻ nịnh và kẻ ưa nịnh. Làm được như vậy chắc chắn sẽ loại trừ được kẻ nịnh và kẻ ưa nịnh trong tổ chức, cơ quan, đơn vị mình.

Viết bài văn nghị luận về một thói xấu của con người trong xã hội hiện đại: Sự nịnh bợ - mẫu 7

  Trong xã hội hiện đại, bên cạnh sự phát triển về kinh tế - văn hóa, vẫn còn tồn tại nhiều thói xấu làm tha hóa đạo đức con người. Một trong những thói xấu phổ biến và đáng khinh nhất là sự nịnh bợ. Đây là hành vi lấy lòng người khác bằng những lời nói ngọt ngào, giả tạo, không xuất phát từ tấm lòng chân thành, nhằm mục đích vụ lợi cá nhân.

Trước hết, nịnh bợ là biểu hiện của sự hèn nhát và thiếu nhân cách. Người nịnh bợ thường không dám nói thẳng, nói thật mà chỉ biết “nói theo ý trên”, “nói vừa lòng người”. Họ sẵn sàng khen ngợi quá mức những điều không đáng khen, che giấu khuyết điểm, thậm chí bôi nhọ người khác để lấy lòng cấp trên hoặc người có quyền. Trong môi trường công sở, không ít người vì nịnh bợ mà được thăng chức nhanh chóng, trong khi những người tài năng, trung thực lại bị đẩy ra bên lề. Điều này làm đảo lộn công bằng xã hội, khiến người có tài mất động lực phấn đấu.

Thứ hai, thói nịnh bợ gây hại nghiêm trọng cho tập thể và xã hội. Khi lãnh đạo chỉ thích nghe lời nịnh, họ dễ rơi vào tình trạng chủ quan, xa rời thực tế, dẫn đến quyết định sai lầm. Nhiều vụ việc tiêu cực, tham nhũng lớn xuất phát từ việc lãnh đạo bị bao vây bởi những kẻ nịnh thần. Trong mối quan hệ bạn bè, đồng nghiệp, sự nịnh bợ cũng làm suy giảm lòng tin. Người ta không còn biết ai nói thật, ai nói giả, dẫn đến môi trường sống đầy nghi kỵ và giả dối.

Hơn nữa, người hay nịnh bợ cuối cùng cũng tự hại chính mình. Họ phải sống trong sự dối trá liên tục, đánh mất sự tôn trọng từ người khác và cả sự tự trọng của bản thân. Khi bị vạch trần, họ thường rơi vào cảnh cô lập, bị khinh bỉ. Lịch sử đã chứng minh, những kẻ nịnh bợ dù có được lợi lộc nhất thời cũng không bao giờ có được chỗ đứng vững chắc và sự kính trọng lâu dài.

Để khắc phục thói xấu này, mỗi chúng ta cần rèn luyện lòng dũng cảm, dám nói thẳng, nói thật một cách có văn hóa. Gia đình và nhà trường phải giáo dục thế hệ trẻ biết trân trọng giá trị chân thực, liêm sỉ. Các cơ quan, tổ chức cần xây dựng môi trường dân chủ, công bằng, khuyến khích phê bình và tự phê bình, đồng thời kiên quyết xử lý những hành vi nịnh bợ, chạy chọt.

Tóm lại, sự nịnh bợ là một thói xấu thấp hèn, đáng lên án trong xã hội hiện đại. Nó không chỉ làm tha hóa nhân cách cá nhân mà còn đầu độc môi trường sống chung. Mỗi người hãy tự rèn luyện để trở thành con người trung thực, chính trực. Chỉ khi nào sự nịnh bợ bị đẩy lùi, xã hội chúng ta mới thực sự văn minh, công bằng và phát triển bền vững.

Viết bài văn nghị luận về một thói xấu của con người trong xã hội hiện đại: Sự nịnh bợ - mẫu 8

  Trong bức tranh xã hội hiện đại với bao gam màu rực rỡ của tiến bộ và hội nhập, vẫn tồn tại một "bệnh dịch" lời nói độc hại mang tên "nịnh bợ". Thói xấu này không chỉ làm mất đi sự chân thành trong giao tiếp mà còn là nguy cơ tiềm ẩn, gặm nhấm sự phát triển lành mạnh của cá nhân, tổ chức và xã hội. Việc phê phán và đẩy lùi sự nịnh bợ là vô cùng cần thiết để xây dựng một môi trường sống và làm việc dựa trên sự tôn trọng và giá trị thực.

Sự nịnh bợ là hành vi dùng lời nói hoa mỹ, khen ngợi quá mức, thậm chí là đưa ra những lời nhận xét không có thật hoặc bóp méo sự thật, nhằm lấy lòng hoặc đạt được lợi ích cá nhân từ người có vị trí cao hơn. Trong xã hội hiện đại, biểu hiện của nịnh bợ ngày càng trở nên tinh vi và đa dạng. Ta có thể thấy những lời tâng bốc sáo rỗng, những cái gật gù mù quáng trước mọi ý kiến của cấp trên, dù cho ý kiến đó có thể sai lầm hoặc thiếu sót. Một số người sẵn sàng ca ngợi những điều nhỏ nhặt, vô nghĩa, hoặc thậm chí là khen những khuyết điểm của người khác như những "ưu điểm đặc biệt", chỉ để làm hài lòng người nghe. Trong môi trường công sở, nịnh bợ thường đi đôi với việc "chia bè kết phái", "nói xấu người khác" để làm nổi bật bản thân hoặc hạ bệ đối thủ, tạo ra môi trường làm việc độc hại và thiếu hiệu quả. Ngay cả trong các mối quan hệ cá nhân, sự nịnh bợ cũng có thể len lỏi, khi người ta sẵn sàng "mất lòng" sự thật để giữ lấy một mối quan hệ hời hợt, thiếu chân thành. Những lời khen sáo rỗng, những cử chỉ "giả tạo" mà thiếu đi sự chân thành đích thực, cuối cùng chỉ mang lại sự hài lòng tạm thời, nhưng lại bào mòn dần lòng tin và giá trị của mối quan hệ.

Nguyên nhân dẫn đến thói nịnh bợ rất đa dạng, bắt nguồn từ cả yếu tố cá nhân và môi trường xã hội. Trước hết, đó là sự thiếu tự tin về năng lực bản thân. Khi không đủ tự tin vào khả năng của mình, một số người chọn cách nịnh bợ như một "chiếc phao cứu sinh" để dựa dẫm, để được người khác giúp đỡ, hoặc để che đậy sự yếu kém của mình. Lòng tham danh lợi cũng là một động lực mạnh mẽ. Họ nịnh bợ để mong nhận được sự ưu ái, thăng tiến trong công việc, hoặc đạt được những lợi ích vật chất không chính đáng. Sự thiếu hụt về đạo đức, lòng trung thực và sự tôn trọng bản thân cũng góp phần vào việc hình thành thói quen nịnh bợ. Ngoài ra, môi trường làm việc hoặc xã hội nơi sự nịnh bợ được "dung túng", thậm chí được xem là "chiêu thức" để thành công, cũng vô tình khuyến khích hành vi này. Khi những người nịnh bợ được ưu ái, trong khi những người thẳng thắn, chân thành lại bị xem là "khó ưa" hoặc "không biết điều", thì sự nịnh bợ càng có cơ hội lan tràn.

Hậu quả của sự nịnh bợ là vô cùng nghiêm trọng, ảnh hưởng đến cả cá nhân, tập thể và xã hội. Đối với cá nhân, việc nịnh bợ khiến họ đánh mất sự tự trọng, sống giả tạo và phụ thuộc vào người khác. Họ không còn là chính mình, luôn phải diễn kịch để làm hài lòng người khác, dẫn đến sự mệt mỏi, bất an và trống rỗng trong tâm hồn. Lâu dài, nó còn cản trở sự phát triển năng lực thực sự, bởi họ quen dựa dẫm vào lời khen mà không trau dồi kiến thức, kỹ năng. Đối với tập thể, sự nịnh bợ tạo ra một môi trường làm việc độc hại, thiếu minh bạch và thiếu hiệu quả. Khi cấp trên chỉ nghe những lời lẽ dễ nghe mà không nhận được những phản hồi thẳng thắn, họ sẽ khó nhận ra sai lầm, đưa ra những quyết định sai lầm, ảnh hưởng đến hoạt động chung. Điều này còn tạo ra sự bất công, làm mất động lực của những người làm việc chăm chỉ, chân thành, khi thấy những kẻ nịnh bợ lại được ưu ái. Trên quy mô xã hội, sự nịnh bợ làm suy giảm lòng tin, làm méo mó các giá trị chuẩn mực, và cản trở sự phát triển lành mạnh. Nó có thể dẫn đến sự trì trệ, tham nhũng và làm mất đi sự công bằng.

Để đẩy lùi thói nịnh bợ, cần có sự nỗ lực từ cả cá nhân và cộng đồng. Mỗi người cần rèn luyện cho mình sự tự tin, lòng tự trọng và thái độ thẳng thắn, chân thành trong giao tiếp. Hãy biết phân biệt giữa lời khen chân thành và lời nịnh hót sáo rỗng, và dám đưa ra những phản hồi xây dựng, dù có thể không dễ nghe. Gia đình và nhà trường cần chú trọng giáo dục về giá trị của sự trung thực, lòng biết ơn và sự tôn trọng lẫn nhau. Cần tạo môi trường giao tiếp cởi mở, khuyến khích mọi người dám nói lên suy nghĩ của mình một cách văn minh. Xã hội cần xây dựng một nền văn hóa đề cao sự minh bạch, công bằng, và lên án mạnh mẽ những hành vi nịnh bợ, tâng bốc thiếu cơ sở.

Sự nịnh bợ là "bệnh dịch" lời nói độc hại, gặm nhấm sự phát triển của cá nhân và xã hội. Bằng việc rèn luyện sự chân thành, lòng tự trọng và xây dựng một môi trường giao tiếp lành mạnh, chúng ta có thể đẩy lùi thói xấu này, xây dựng một xã hội đề cao sự thật, tôn trọng giá trị thực và hướng tới sự phát triển bền vững.

Viết bài văn nghị luận về một thói xấu của con người trong xã hội hiện đại: Sự nịnh bợ - mẫu 9

Nịnh tức khen ngợi quá đáng hay hoang tưởng nảy sinh từ quyền lợi riêng tư, có thể được định nghĩa: “Đó là cử chi đáng khinh bỉ. Đó là quà tặng xấu xa và chỉ là bài học của những kẻ hợm hĩnh”. Kẻ nịnh hót thường là những tên ích kỉ nguy hiểm. Nó cố nhét vào trí óc con người những điều hư ảo hòm kiếm chát ân huệ hay đổi lại sự giúp đỡ thật lòng. Đó là kẻ xấu xa nhất trong số những kẻ thù. Nó vừa là tội phạm, vừa là nhân chứng: “Kẻ này lừa dối người phân xử, kẻ kia lừa dối chúng ta”. Một triết gia nói rằng: “Trong số những con thú hoang dã thì con thú gièm pha là đáng sợ nhất, còn trong số những người trong nhà thì đáng sợ nhất là kẻ xu nịnh”. Kẻ nịnh hót chỉ tìm kiếm cái lợi ích riêng tư và nó sống nhờ vào những kẻ đã lắng nghe nó.

Những kẻ chân chính thường ít bị lừa gạt bởi sự nịnh hót, bởi tâm địa của kẻ tìm kiếm cái lợi ích riêng tư và sống nhờ vào những kẻ đã lắng nghe nó. Trong một số bức thư với lời lẽ dịu dàng, Louis Veuillot kể rằng hàng ngày ông nhận được những lời tán dương của biết bao bạn bè thân, sơ. Rồi cũng hàng ngày, đứng trước tấm gương để cạo mặt, ông tự hỏi: “Ta sẽ cạo nhẵn bao nhiêu người?”.

Một người có chức vị, không muốn bị kẻ thuộc quyền khống chế, phải đương đầu chống lại bọn xu phụ, nịnh hót. Chúng cố nắm chỗ yếu của anh ta, làm cho anh ta tin phục, và coi những người khác đều là kẻ thù nghịch.

Một hôm, vua Henry V đi ngang qua Amiens nghe thấy một vị quan tòa đang diễn thuyết. Ông ta ráng cổ trình bày những tiêu đề như: “Rất lớn, rất mạnh, rất tốt, rất nhân từ, rất cao thượng”. Nhà vua bèn nói: “Hãy thêm là rất mệt!”. Nhà vua làm ông quan tòa sửng sốt. Người tự trọng không bao giờ nịnh hót. Sự ca ngợi, còn gọi là “tâng bốc” là lời nói bùi tai, cách gợi cảm ngọt ngào cốt để cho người nghe thấy dễ chịu và nhấn mạnh về sự thành công của anh ta.

Công tước De Mornay nổi tiếng về nghệ thuật tỏ lời khen tặng. Vào năm 1862, tại Clermont Ferrand, ông kết thúc bài diễn văn bằng lòng khen ngợi hoàng hậu “là người đã đưa nhiều ân huệ lên ngai vàng, và hàng ngày ban bố xuống thần dân biết bao nhiêu lòng nhân ái”.

Lời khen ngợi phải chân thực, thích hợp, xúc động. Nó mở ra những lời tán dương mà người la chưa diễn đạt hết và cũng tìm thấy ở đó đầy sự khoan dung. Nhưng nếu khen tặng lộ liễu thì có khi làm tổn thương tới tính khiêm tốn. Nếu nói thái quá thì trở thành kì cục, đôi khi còn bị người nghe phản đối. Sự khen tặng phải được cân nhắc cho hợp lý và công bằng, nhất là khi hạ thấp giá trị của người này để khen tặng người kia. Chẳng hạn có kẻ nói “Anh cũng rộng rãi như A, còn B thì hà tiện”. Phải trân trọng lời khuyên và cần lánh xa nó. Người ta lắng nghe và cử chỉ khiêm tốn ngay khi được khen, không nên tỏ vẻ vui mừng trên nét mặt và chỉ tỏ vẻ cảm ơn bằng cách nói: tôi chỉ làm hết bổn phận. Có lẽ khôn ngoan hơn là đừng nói gì cả…

Viết bài văn nghị luận về một thói xấu của con người trong xã hội hiện đại: Sự nịnh bợ - mẫu 10

  Ngôn ngữ tiếng Việt có rất nhiều từ nịnh có thể dùng làm cả danh từ,động từ và tính từ, nhưng định nghĩa chung nhất của từ nịnh là: Khen quá đáng hoặc khen không đúng, chỉ cốt để làm đẹp lòng (thường nhằm mục đích cầu lợi). Các kiểu nịnh cũng khá rôm rả: ninh bợ (tự hạ mình, nịnh một cách hèn hạ để cầu lợi), nịnh hót (nịnh nọt và ton hót chuyện), nịnh nọt (nịnh bằng cách luồn cúi hèn hạ), nịnh đầm (chỉ nịnh phụ nữ để lấy lòng), nịnh thần (chỉ chung những kẻ dưới gian nịnh)… cho đến nịnh thối! Chuyện cũ kể rằng: Có hai tay bợm nịnh đang ngồi hầu chuyện quan lớn, bỗng quan cho ra một cái trung tiện. Lập tức một bợm lắng nghe rồi thốt lên: "Y hi, quản huyền chi âm (nghe như tiếng đàn, tiếng sáo). Bợm kia cũng hếch mũi hít hà rồi trầm trồ: "Phảng phất chi lan chi vị (thoang thoảng mùi hoa lan hoa nhài)". Nhưng quan lớn tỏ ra hiểu biết, không bằng lòng: "Trung tiện mà thơm thì e tuổi thọ ta không được dài". Nghe vậy, một bợm gật gù: "Bẩm cụ, bây giờ đã có mùi rồi ạ!" bợm kia cũng khẳng khái khẳng định: "Bẩm, bây giờ thì thối lắm ạ!", tương truyền vì thế mới có câu dân gian rằng: nịnh thối không ngửi được.

Xã hội càng phát triển thì từ nịnh càng trở nên đa dạng hơn với những biến thể, kết hợp mới nhằm bắt kịp thời đại như: phỉnh nịnh, xu nịnh, ưa nịnh, đua nịnh, nịnh trên nạt dưới. Xu nịnh là thói xấu nhưng không ngừng lan rộng trong mọi lĩnh vực bởi nguyên nhân chủ yếu: những kẻ tài hèn, sức mọn, đức kém, văn hóa "lùn” lại muốn bay cao, vươn xa, thăng quan tiến chức hoặc kiếm cách trục lợi tiền bạc. Thiết nghĩ ta cũng nên đặt một danh từ riêng gọi là nịnh sĩ cho tiện phân biệt! Tất nhiên nịnh sĩ chỉ hướng vào các bậc lãnh đạo để thi thố tài năng và những người lãnh đạo cương trực sáng suốt, kiên quyết, nhạy bén không bao giờ lầm lẫn trong mê cung của nịnh thần, trừ những vị quan chức ngạo mạn, thiếu suy nghĩ, ích kỷ, thiển cận đương nhiên sa đà vào những lời đường mật, vị mật ngọt thì chết ruồi. Những biểu hiện của nịnh nọt bây giờ không còn chất phác, thô và phô như ngày xưa mà nó trở nên nhuần nhuyễn, khôn khéo, hiện đại, thực dụng và tinh vi hơn nhiều. Trước hết điểm qua vài cụm ngôn từ trau chuốt, mỹ miều phổ thông dành riêng cho bề trên như: Anh quá tinh ý! Tầm nhìn xa chiến lược của anh thật không còn gì đáng bàn! Không có anh, cơ quan không biết trông cậy vào đâu! Hình như vượng khí của sếp đang phất. Dạo này chị trẻ quá, da cứ căng đẹp mịn màng!

Trông chị không ai đoán đúng được tuổi! Bộ váy áo xịn này cứ như thiết kế dành riêng cho chị ấy. Ngoài ra, lúc nào cũng phải thường trực tinh thần đón ý cấp trên mà lựa chiều phát ngôn, luôn luôn tán dương ý kiến lãnh đạo tâng bốc năng lực thủ trưởng lên tận mây xanh: Quan lộ của sếp xa tít tắp. Khả năng sếp còn phải ngồi cao nữa mới xứng tầm! Sếp dạy lúc nào cũng chí phải!

Nói ngọt không thôi thì chưa đủ các nịnh sĩ còn phải có hành động nhất quán với lời nói nữa. Bất kỳ nơi đâu, bất kỳ nơi nào có cấp trên là nịnh sĩ xuất hiện xun xoe, khúm núm, chăm chút sửa sang phục trang cho sếp, cắp cặp che ô, đưa đón (vai trợ lý), hiểu ý của sếp để tuyên truyền, thôi thúc người khác làm theo (vai phát ngôn viên), lúc trái gió trở trời mà sếp ốm đau, cảm mạo, húng hắng ho thì phải chăm sóc, xoa bóp, sắc thuốc (vai hộ lý). Có chuyện thật như đùa rằng: Trong một cuộc họp cơ quan nọ, ban lãnh đạo đề nghị cán bộ thẳng thắn phê bình xếp để rút kinh nghiệm, nhưng chỉ nghe khen sếp toàn tâm, toàn diện, toàn tài. Đột nhiên có một anh đứng lên xin được phê bình sếp khiến cả cơ quan tròn mắt, lắng nghe. Anh này thủng thẳng: “Những gì cần nói, anh chị em đã nói hết rồi, còn tôi xin phê bình một khuyết điểm lớn của sếp là quá lo nghĩ cho tập thể, làm việc ngày đêm mà không chú ý đến sức khỏe của chính mình! Sức khỏe của sếp là tài sản của cơ quan, lỡ sếp đau ốm thì cơ quan thiệt hại to”!

Không dừng ở lời nói kèm hành động, các nịnh sĩ chân chính còn dùng thêm chiêu bài quà tình cảm. Những hiện vật nho nhỏ này bày tỏ tấm lòng tuy không phải của nhà làm được nhưng đều có người thân, bạn bè cho, tặng, mua rẻ lại xịn nên nhớ thương lãnh đạo mà kính chuyển nào: Củ sâm thằng bạn em vừa đi Hàn Quốc công tác mang về, hộp mỹ phẩm nhà em xách tay từ Paris! Rồi cà vạt bút ký, cặp da, nước hoa… đều là quà tình cảm nhẹ nhàng chưa thể gọi là hối lộ được, thử hỏi sếp nào nỡ từ chối tấm lòng thành? Chủ đề này chưa thể dừng ở đây được, phải điểm danh một số thủ pháp bí kíp mà các nịnh sĩ nhập vai mỗi khi vào việc như bình bầu danh hiệu, đề bạt chức vụ, bỏ phiếu tín nhiệm, chọn đại biểu đại diện… là các nịnh sĩ kiêm luôn kịch sĩ, không những nịnh trên mà còn tranh thủ cả các đồng nghiệp để thuê ủng hộ, vay lá phiếu, mượn cánh tay biểu quyết cốt thu được kết quả cuối cùng. Chỉ khổ cho những viên chức cần cù, chăm chỉ làm việc với tinh thần trách nhiệm và tận tâm cống hiến nhưng chưa qua lớp đào tạo nịnh ngắn hạn hoặc cấp tốc nên cả đời cứ dậm chân tại chỗ, không bao giờ được cất nhắc, trọng dụng, dẫn đến mất lòng tin, không còn hứng thú sáng tạo trong công việc nữa, cũng vì thế nên mới có câu ca dao: không bằng cấp nào hơn cái bằng lòng, mà cái bằng này chỉ có được nhờ 80% phương pháp nịnh học cùng những bí kíp chân truyền của nó. Từ xưa, sách sử đã cho rằng: hôn quân bao giờ cũng gắn kết với nịnh thần. Xiểm nịnh làm cho người lãnh đạo thiếu sáng suốt và công bằng, thiên vị cảm tính, không khách quan, luôn lơ mơ trong thực tiễn, lúc nào cũng tự hài lòng về bản thân sẽ thoái hóa dần trí tuệ rồi mắc sai lầm khuyết điểm vì nịnh sĩ. Ngược lại, nịnh sĩ sẽ trở thành hiện tượng tiểu nhân đắc ý nêu gương xấu cho xã hội với hệ lụy không cần học hành, phấn đấu, cố gắng làm gì cho mệt, chỉ cần mài gối, uốn lưỡi rèn luyện kỹ năng nịnh ắt thành công.

Chúng ta muốn đổi mới cách làm việc thì cần phải phê phán, lên án nghiêm khắc thói xu nịnh vì đây là hành vi phản văn hóa dưới nhiều góc độ khác nhau. Loại bỏ thói xu nịnh không hề dễ dàng vì bản chất nó vốn thể hiện bằng những lời có cánh êm ái du dương nên hễ chui qua tai là ngấm ngay vào tim. Kinh nghiệm cho thấy khắc tinh của nịnh thần chỉ có: trung thần – chính thần – trực thần nhưng điều khó khăn nhất và đồng thời nhân tố quyết định là làm thế nào người cầm cân nảy mực chọn chính xác được trung thần mà không bị nhầm lẫn với nịnh thần?

Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:

Mục lục Văn mẫu | Văn hay lớp 8 theo từng phần:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Loạt bài Tuyển tập những bài văn hay | văn mẫu lớp 8 của chúng tôi được biên soạn một phần dựa trên cuốn sách: Văn mẫu lớp 8Những bài văn hay lớp 8 đạt điểm cao.

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.


Giải bài tập lớp 8 sách mới các môn học