5+ Nghị luận phân tích Ai tư vãn (điểm cao)

Viết bài văn nghị luận phân tích tác phẩm Ai tư vãn (Lê Ngọc Hân) hay nhất giúp học sinh có thêm tài liệu tham khảo để viết văn hay hơn.

5+ Nghị luận phân tích Ai tư vãn (điểm cao)

Quảng cáo

Nghị luận phân tích Ai tư vãn - mẫu 1

Bài thơ Ai tư vãn được công chúa Lê Ngọc Hân sáng tác để khóc thương chồng – vua Quang Trung. Bài thơ là dòng huyết lệ của nỗi buồn đau tưởng nhớ, tiếng khóc thành thơ của một bà hoàng, một trong những tác phẩm sáng giá nhất (và có thể là sớm nhất) viết về người anh hùng kiệt xuất Quang Trung Nguyễn Huệ.

Trong "Từ điển văn học" (bộ mới. NXB Thế giới, 2004), ở mục từ "Ai tư vãn", nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc viết: "Lê Ngọc Hân (1770 - 1799) là con gái thứ 21 của vua Lê Hiển Tông. Mẹ đẻ là người làng Phù Ninh, huyện Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, nay thuộc ngoại thành Hà Nội. Từ bé đã thông kinh sử và biết làm thơ văn. Năm 1786, mới 16 tuổi nàng được vua cha cho kết duyên với Nguyễn Huệ lúc Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc với danh nghĩa phù Lê diệt Trịnh. Sau đó, Nguyễn Huệ lên làm vua. Năm Kỷ Dậu (1789) chiến thắng quân Thanh, vua Quang Trung lập Ngọc Hân làm Bắc cung Hoàng hậu. Năm Nhâm Tý (1792) nhà vua qua đời, để lại cho Ngọc Hân hai con nhỏ. Ngọc Hân rất đau khổ, nàng làm bài "Ai tư vãn" để khóc chồng. Sau khi Ngọc Hân mất, triều đình Tây Sơn truy tặng miếu hiệu là Như ý Trang Thận Trinh Nhất Vũ Hoàng hậu".

Quảng cáo

Từ một vài thông tin ngắn gọn về tác giả tác phẩm như trên, có thể Lê Ngọc Hân là một bà hoàng làm thơ. Đây là trường hợp hy hữu trong lịch sử thi ca Việt Nam: văn chương trung đại ở ta không hiếm những ông hoàng làm thơ (Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Minh Tông, Lê Thánh Tông, Tự Đức...), nhưng bà hoàng làm thơ - và lại là loại thơ có thể lưu truyền hậu thế - thì cực ít. Ngoài ra, đây là "nhà thơ một bài". Vì, tuy nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc viết: "Từ bé đã thông kinh sử và biết làm thơ văn", nhưng về mặt tư liệu, cho đến nay vẫn chưa ai tìm thấy tác phẩm nào khác của Ngọc Hân công chúa ngoài "Ai tư vãn".

"Ai tư vãn" được Ngọc Hân công chúa viết ra có lẽ không với dụng ý "làm thơ", mà đó là tiếng khóc thành thơ, là tâm trạng buồn đau khôn xiết đã mượn được cấu trúc âm điệu sẵn có của thể song thất lục bát mà cất lên lời. "Ai tư vãn", như chính tên gọi của nó - Bài vãn ca về nỗi buồn đau tưởng nhớ - là tác phẩm nói lên một tâm trạng, chứ không phải tác phẩm chuyển tải một luận đề hay kể lại một câu chuyện. Và đây là tâm trạng của chính tác giả - Ngọc Hân công chúa, một con người cụ thể, được lưu lại trong biên niên sử - chứ không phải tâm trạng của một nhân vật văn chương (người vợ có chồng đi lính trong "Chinh phụ ngâm", hay người cung nữ bị thất sủng trong "Cung oán ngâm").

Quảng cáo

Tâm trạng ấy khởi lên từ mối quan hệ với một con người cũng rất cụ thể, được lưu lại trong biên niên sử - hoàng đế Quang Trung - chứ không phải từ một nhân vật của văn chương (người chinh phụ trong "Chinh phụ ngâm", hay đấng thiên tử háo sắc và bạc bẽo trong "Cung oán ngâm").

Mạch tâm trạng của chủ thể trữ tình trong "Ai tư vãn", theo chiều thời gian, chạy suốt từ quá khứ tới hiện tại, từ nỗi nhớ về hình ảnh lúc sinh thời của người đã khuất tới những cảm nhận về sự mất mát đang hiện hữu quanh mình. Thoạt tiên là nỗi nhớ về "khởi điểm của mọi khởi điểm", tức lúc đôi trai tài gái sắc kết duyên phu phụ: "Từ cờ thắm trỏ vời cõi Bắc/ Nghĩa tôn phù vằng vặc bóng dương/ Xe dây vâng mệnh phụ hoàng/ Thuyền lan chèo quế thuận đường vu quy".

Ngọc Hân công chúa không "giấu giếm" sự thật về cuộc hôn nhân của mình: bốn chữ "vâng mệnh phụ hoàng" đã cho thấy đó là cuộc hôn nhân vương giả với không ít những ý đồ, những mưu toan chính trị của cả hai bên được ẩn vào bên trong. Dẫu vậy, vượt qua những toan tính thực dụng ban đầu của cuộc hôn nhân vương giả, Lê Ngọc Hân và Nguyễn Huệ đã sống một đời sống vợ chồng chứa chan tình nghĩa (Nhờ hồng phúc gội cành hòe quế/ Đượm hơi dương dây rễ cùng tươi) và mơ ước tới sự lâu bền của hạnh phúc ấy (Những ao ước chập trung tuổi hạc/ Nguyền trăm năm ngõ được vầy vui). Thế nhưng: "Ngán thay máy Tạo đất bằng/ Bóng mây thoắt đã ngất chừng xe loan!". Quang Trung băng hà, để lại một sự nghiệp hiển hách với bao hoài bão to lớn chưa kịp thực hiện, để lại trên đời vợ góa con côi. Người thác, nhưng còn dư ảnh. Và chính cái dư ảnh ấy đã khiến cho người đang sống không ít phen phải rơi vào trạng thái nửa thực nửa mộng, tựa như bị thôi miên: "Khi trận gió hoa bay thấp thoáng/ Ngỡ hương trời bảng lảng còn đâu/ Vội vàng sửa áo lên chầu/ Thương ôi quạnh quẽ trước lầu nhện giăng/ Khi bóng trăng lá in lấp lánh/ Ngỡ tàn vàng nhớ cảnh ngự chơi/ Vội vàng dạo bước tới nơi/ Thương ôi vắng vẻ giữa trời sương sa!". Đọc những câu Ngọc Hân công chúa ghi lại sự trải nghiệm cá nhân này, không hồ nghi gì nữa, cái tình thực của cổ nhân đã hằn trên dòng chảy thời gian, như một minh chứng cho nỗi đau khôn xiết.

Quảng cáo

Trong hồi tưởng của Ngọc Hân công chúa, bằng những câu thơ cực tả, vua Quang Trung đã hiện lên lồng lộng với kích thước của những vĩ nhân trong huyền thoại: "Nghe trước có đấng vương Thang, Võ/ Công nghiệp nhiều, tuổi thọ thêm cao/ Mà nay áo vải cờ đào/ Giúp dân dựng nước biết bao công trình/ Nghe rành rành trước vua Nghiêu, Thuấn/ Công đức dầy ngự vận càng lâu/ Mà nay lượng cả ơn sâu/ Móc mưa tưới khắp chín châu đượm nhuần!". Xét từ quan điểm ý thức hệ, cách nhìn nhận đánh giá về Quang Trung Nguyễn Huệ như vậy tuyệt nhiên không thể có ở những người phò Lê hay theo Nguyễn - nó gần với quan điểm của nhà sử học cách mạng hơn nhiều! Dù sao chăng nữa, qua đoạn thơ này, ít nhất tác giả cũng đã lưu lại được dấu ấn của mình trong văn học sử dân tộc với một cụm từ định tính (có sức phổ biến rất rộng và lâu bền) cho nhân vật lịch sử Quang Trung: "Áo vải cờ đào".

Từ hồi tưởng quá khứ tới những cảm nhận hiện tại là cả một niềm đau đớn, một "đích lịch trình khổ nạn" với tác giả "Ai tư vãn". Bà cho hậu thế thấy điều đó bằng sự đối lập Xưa/ Giờ: "Xưa sao sớm hỏi khuya bầy/ Nặng lòng vàng đá, cạn lời tóc tơ/ Giờ sao bỗng thờ ơ lặng lẽ/ Tình cô đơn ai kẻ xét đâu/ Xưa sao gang tấc gần chầu/ Trước sân phong nguyệt trên lầu sinh ca/ Giờ sao bỗng cách xa đôi cõi/ Tin hàn huyên khôn hỏi thăm lênh/ Nửa cung gẫy, phiếm cầm lành/ Nỗi con côi cút, nỗi mình bơ vơ".

Nếu xét tới "thân thế sự nghiệp" của tác giả, người đọc tất sẽ không tránh khỏi cảm giác ngậm ngùi khi đọc đoạn thơ này. Không còn là một bà hoàng sống trong nhung lụa và đau nỗi đau vương giả nữa. Tuyệt nhiên không. Chỉ còn là một góa phụ, một người đàn bà hết sức bình thường đang sống trong tâm trạng đầy sợ hãi khi phải đối diện với viễn cảnh mẹ góa con côi bơ vơ giữa biển đời dông tố!

"Đời" hơn nên đau hơn, nên hoang mang hơn, mờ mịt hơn khi người viết tự đặt mình trong cái mênh mông của không gian: "Trông mái đông lá buồm xuôi ngược/ Thấy mênh mông những nước cùng mây/ Đông rồi thời lại trông tây/ Thấy non ngân ngất, thấy cây rườm rà/ Trông nam thấy nhạn sa lác đác/ Trông bắc thôi ngàn bạc màu sương/ No trông trời đất bốn phương/ Cõi tiên khơi thẳm biết đường nào đi". Phóng tầm mắt, cũng là trải lòng mình ra khắp bốn phương trời, đây là điều thật ra Ngọc Hân công chúa, dù muốn hay không, đã học được từ người vợ lính trong "Chinh phụ ngâm" của Đặng Trần Côn. Thế nhưng, là tâm sự của một con người cụ thể trong hoàn cảnh cụ thể, có thể nói, nỗi thấm thía về cái mất mát mà "Ai tư vãn" của Lê Ngọc Hân đặt trên người đọc đã có được một sức lan truyền đặc biệt.

Thế kỷ XVIII - tiền bán thế kỷ XIX, giai đoạn "vàng" của văn học Việt Nam trung đại. Tính chất "vàng" của giai đoạn này đã được các nhà nghiên cứu lịch sử văn học chứng minh trên nhiều phương diện (đội ngũ tác giả, cảm hứng nhân văn, sự xuất hiện các thể loại mới bằng chữ Nôm v.v...), người viết chỉ xin nhắc đến một điểm nhỏ: đây là giai đoạn bừng nở của những tác giả nữ sáng giá, điều dường như không thể có trong bảy, tám thế kỷ văn chương trước kia: Hồ Xuân Hương, Bà huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm, và Ngọc Hân công chúa.

"Nhà thơ một bài" Lê Ngọc Hân, nếu xét từ giác độ một sự nghiệp văn chương cũng như sự độc đáo trong phong cách nghệ thuật thì có thể "lép" hơn một chút so với ba tác giả kể trên - ấy là kẻ hậu nhân bạo gan mà làm cái việc "cân đo" như vậy - song bà vẫn có một vị thế riêng.

"Ai tư vãn", dòng huyết lệ của nỗi buồn đau tưởng nhớ, tiếng khóc thành thơ của một bà hoàng, một trong những tác phẩm sáng giá nhất (và có thể là sớm nhất) viết về người anh hùng kiệt xuất Quang Trung Nguyễn Huệ. Bấy nhiêu đó có lẽ đã là quá đủ để Ngọc Hân công chúa lưu danh trong lịch sử văn chương dân tộc.

5+ Nghị luận phân tích Ai tư vãn (điểm cao)

Dàn ý Nghị luận phân tích Ai tư vãn

a. Mở bài

- Giới thiệu khái quát về tác giả Lê Ngọc Hân và bài thơ Ai tư vãn.

b. Thân bài

- Phân tích hoàn cảnh ra đời của bài thơ Ai tư vãn.

- Phân tích nội dung (ý nghĩa, thông điệp,...) của bài thơ.

- Phân tích nghệ thuật (ngôn từ, BPTT,...) của bài thơ.

c. Kết bài

- Khái quát nội dung và nghệ thuật của bài thơ.

Nghị luận phân tích Ai tư vãn - mẫu 2

Như nhà thơ Tố Hữu từng nói: “Thơ là tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm hồn con người trước cuộc đời”. Phải chăng chính vì điều đó mà ta bắt gặp một chất giọng sầu thương ai oán trong tác phẩm “Ai tư vãn” của Lê Ngọc Hân. Nổi bật lên trong thi phẩm là đoạn trích “Nỗi buồn quả phụ” bởi chính nỗi đau xé triền miên của một người quả phụ khóc thương cho người chồng của mình:

“Buồn trông trùng, trăng mờ thêm tủi:

Cuộc đời là thế, biết hầu nài sao?”

Lê Ngọc Hân (1770-799) hay còn gọi là công chúa Ngọc Hân, là con gái thứ 21 của vua Lê Hiển Tông. Nàng là một người con gái tài sắc vẹn toàn, từ nhỏ đã tinh thông kinh sử và biết làm thơ. Năm 16 được, Ngọc Hân vâng lời vua cha kết duyên cùng Nguyễn Huệ. Dù cuộc hôn nhân này nhằm mục đích chính trị nhưng tình cảm của hai người dành cho nhau sớm đã mặn nồng. Hạnh phúc không được bao lâu thì đến năm 1792, vua Quang Trung đột ngột qua đời, để lại cho nàng hai đứa con nhỏ. Cũng chính vì thế mà bài thơ “Ai tư vẫn” được ra đời.

"Ai tư vãn” có nghĩa là “Bài văn ca về nỗi buồn đau tưởng nhớ”. Như chính tên gọi bài thơ là tiếng khóc thành thơ, là nỗi buồn đau khôn xiết của công chúa Ngọc Hân khi biết người chồng yêu quý của mình đã không còn tồn tại trên cõi đời. Đoạn trích “Nỗi buồn quả phụ” thuộc phần cuối, thể hiện rất rõ tư tưởng chính của tác phẩm cũng như tài năng văn chương của công chúa Ngọc Hân.

Ở hai khổ thơ đầu tiên, ta đã thấy được nỗi buồn triền miên từ sâu thẳm trong tâm hồn của nhân vật trữ tỉnh. Ngay từ đầu đoạn trích, một màu sắc u ám đã bao lấy toàn bộ cảnh vật:

“Buồn trông trăng, trăng mờ thêm tủi:

Gương Hằng Nga đã bụi màu trong!"

Một mình lẻ loi trong căn phòng trống, người quả phụ ngước nhìn lên trăng, để tìm cho mình chút an ủi, nhưng dường như mọi thứ lại càng trở nên tồi tệ hơn. “Trăng” là một hình ảnh thường hay xuất hiện trong thơ ca trung đại. Trăng đại diện cho những điều đẹp đẽ, cho hẹn ước của đôi lứa, cho cả những khát vọng chưa thể thực hiện được. Người quả phụ đứng trước nỗi buồn, ngước nhìn lên trăng với mong ước giải bớt nỗi u sầu nhưng thật khó vì trăng cũng không còn tròn trịa, đầy đặn như một thời quá khứ viên mãn. Phải chăng, “trăng mờ” chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên hay là do giọt nước mắt còn vương trên mi nàng đã làm cho trăng cứ thế mờ đi mãi.

Lặng ngắm mình trước gương, thi sĩ lại càng thấy hổ thẹn với lòng mình hơn:

“Nhìn gương càng thẹn tấm lòng,

Thiên duyên lạnh lẽo, đêm động biên hà.”

Cứ ngỡ cuộc tình này là một mối lương duyên trời ban, nhưng khi đứng trước thực tại âm dương cách biệt, nhìn lại hiện thực phũ phàng, chỉ thấy lòng người càng thêm lạnh giá. Thương cho chồng chốn biên cương lạnh lẽo, cũng thương cho số phận hẩm hiu của chính mình.

Nỗi buồn của người quả phụ ấy đã ngấm sâu vào cả trong những bông hoa trong vườn. Quanh quẩn buồn chán, ngắm nhìn những bông hoa, nhưng nào biết rằng hoa cũng đã nhuốm màu tâm trạng của chính mình:

“Buồn xem hoa, hoa buồn Nệm thẹn

Cảnh hải đường đã quyện giọt sương!”

Hoa hải đường là loài hoa tượng trưng cho sự may mắn, tốt đẹp. Nhưng nay hải đường đã quyện sương. Đấy là giọt sương hay giọt lệ của hoa. Phải chăng, ý của tác giả là hải đường đang khóc. Như vậy, thiên nhiên cũng khóc thương cho chuyện tình của nàng. Nhìn lên trăng, trăng cũng đeo sầu, nhìn vào gương chỉ thấy mình thêm thẹn, nhìn xuống hoa thấy hoa đang khóc, nhìn ra xa lại thấy chim lẻ bóng đơn côi. Nhìn vào đâu đâu, nàng cũng chỉ thấy sự chia lìa xa cách:

Trông chim càng dễ đoạn trường

uyên ương chiếc bóng, phượng hoàng lẻ đôi”

Việc sử dụng các hình ảnh trên kết hợp cùng lớp từ ngữ: buồn”, “tủi”, “thẹn”, “lạnh lẽo”, “quyện”, “lễ đôi”... góp phần làm tăng thêm màu sắc u buồn, bi lụy cho câu thơ; nhấn mạnh Và xoáy sâu vào trong nỗi buồn của người quả phụ. Ngoài ra, ta còn thấy sự tài năng của tác gia được thể hiện qua các biện pháp tu từ như điệp từ, điệp cấu trúc “Buồn trông”, “buôn xem”, “nhìn gương”, “trông chim”... đã góp phần thể hiện tâm trạng: khiến cho nỗi buồn cứ trở đi trở lại trong những vần thơ, mang một cảm thức não nùng thê lương. Cũng như giúp cho bài thơ trở nên nhịp nhàng, uyển chuyển, tăng thêm giá trị nghệ thuật cho bài thơ. Hay là biện pháp tu từ nhân hóa: hoa buồn, uyên ương chiếc bóng, phượng hoàng lẻ đôi làm cho vạn vật trở nên có hồn hơn, từ đó nỗi sầu cũng bao trọn không gian.

Sự kết hợp của các từ hình ảnh và từ ngữ trong hai khổ thơ trên đã nhuốm lên trang thơ một màu sắc bị thương khó tả. Người quả phụ nhìn lên trăng, thấy trăng mờ, nhìn xuống hoa chỉ thấy hoa tàn úa. Một mình cô đơn trong phòng khuê lạnh lẽo, đến bầu bạn cùng hoa cũng chỉ thấy hoa đã tàn úa. Nỗi buồn cứ thế lan dần ra, chiếm hết mọi ngõ ngách không gian.

Nếu hai khổ thơ trước, Lê Ngọc Hân khắc họa nỗi buồn của mình hòa vào thiên nhiên cảnh vật, thì tới khổ thơ tiếp theo ta như được nghe thấy tiếng lòng ai oán của nàng về cuộc tình hẩm hiu của chính mình:

“Cảnh nào cũng ngùi ngùi cảnh ấy.

Tiệc vui mừng còn thấy chỉ đâu!

Phút giây bãi biển nương dâu,

Cuộc đời là thể, biết hầu nài sao?”

Ngắm nhìn cảnh vật, người quả phụ chỉ thấy một màu đau buồn tang tóc. Trở về thực tại, về với chính cõi lòng của mình, nàng thấy tiếc thương cho những tháng năm hạnh phúc trong quá khứ, cho cuộc tình oái ăm này. Thành ngữ “Bãi bể nương dâu” được tác giả sử dụng để chỉ những biến cố, những thay đổi lớn trong cuộc đời. Ở đây, đó chính là cái chết của vua Quang Trung, một sự mất mát vô cùng to lớn trong cuộc đời của công chúa Ngọc Hân. Các từ ngữ “ngùi ngùi, “còn thấy chi đâu”, “bãi biển nương dâu”... có tác dụng trong việc miêu tả một cuộc đời không mấy thuận lợi. Làm tăng thêm nỗi buồn, sự ai thán về cuộc đời của người quả phụ. Việc sử dụng thành ngữ cùng với câu hỏi ta từ “cuộc đời là thế, biết hầu nài sao?” như chính là một lời trách cứ cho số phận của mình, cũng như thể hiện sự bất lực của nàng trước sự xoay chuyển của cuộc đời. Khổ thơ là tiếng lòng xót thương cho cuộc đời của mình, là nỗi đau buồn khi phải sống trong ảnh quá phụ cô đơn lẻ chiếc một mình.

Chỉ vỏn vẹn trong ba khổ thơ ngắn, đoạn trích “Nỗi buồn quả phụ” đã khắc họa rất thành công nỗi buồn triền miên, sự đau khổ trong tâm hồn của tác giả cũng như thể hiện tình yêu mà nàng dành cho người chồng của mình. Và để có thể chuyển tải một cách sâu sắc tâm trạng cũng như tấm lòng của Ngọc Hân dành cho Quang Trung, đoạn trích đã xây dựng rất thành công một số biện pháp nghệ thuật, đặc biệt phải kể đến bút pháp tả cảnh ngụ tình. Xuyên suốt đoạn trích, cảnh vật thê lương, ảm đạm: trăng mờ, hoa buồn, hải đường quyện giọt sương, uyên ương chiếc bóng, phượng hoàng lẻ đôi... Không có một hình ảnh nào ấm áp, vui tươi. Nỗi buồn của nàng đã ngấm sâu vào trong cảnh vật, làm cho mọi thứ nhuốm một màu sắc bị thương, u tối. Bên cạnh đó, việc sử dụng từ ngữ, hình ảnh chọn lọc cùng các biện pháp tu từ độc đáo cũng đã góp phần làm nên thành công của đoạn trích. Từ đó ta có thể thấy được sự tài năng của tác giả.

Cùng viết về nỗi buồn, sự cô đơn của người phụ nữ, nhưng ở mỗi tác phẩm khác nhau, mỗi tác gia lại có những cách thể hiện khác nhau. Trong đó, có thể kể đến bài thơ “Chinh phụ ngâm. Đặng Trần Côn đã tập trung khắc họa sự lẻ loi, cô độc, luôn ngóng trông người

“Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,

Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.

Cảnh buồn người thiết tha lòng

Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phùn”.

Khác với “Ai tư vãn” của “Lê Ngọc Hân, bài thơ “Chinh phụ ngâm” thể hiện nỗi nhớ đến tột cùng của người chinh phụ, luôn ngóng trông tin của người chồng từ phương xa trở về. Một nét chung có thể thấy ở cả hai tác phẩm là bút pháp tả cảnh ngụ tình vô cùng điêu luyện. Nỗi nhớ của nhân vật trữ tỉnh đã ngấm sâu vào trong cảnh vật, làm cho thiên nhiên, trời đất cũng phải buồn theo con người.

Là tiếng lòng được cất lên từ chính cuộc đời của mình, “Nỗi buồn quả phụ” là một đoạn trích rất đặc sắc, là những dòng tâm sự của nàng về cuộc đời của mình, về nỗi buồn chua xót khi mất đi người chồng. Chính những cảm xúc chân thành ấy đã làm nên sự thành công cho tác phẩm của nàng cũng như ghi dấu ấn với bạn đọc muôn thế hệ.

Nghị luận phân tích Ai tư vãn - mẫu 3

Trong "Từ điển văn học" (bộ mới. NXB Thế giới, 2004), ở mục từ "Ai tư vãn", nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc viết: "Lê Ngọc Hân (1770 - 1799) là con gái thứ 21 của vua Lê Hiển Tông. Mẹ đẻ là người làng Phù Ninh, huyện Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, nay thuộc ngoại thành Hà Nội. Từ bé đã thông kinh sử và biết làm thơ văn. Năm 1786, mới 16 tuổi nàng được vua cha cho kết duyên với Nguyễn Huệ lúc Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc với danh nghĩa phù Lê diệt Trịnh. Sau đó, Nguyễn Huệ lên làm vua. Năm Kỷ Dậu (1789) chiến thắng quân Thanh, vua Quang Trung lập Ngọc Hân làm Bắc cung Hoàng hậu. Năm Nhâm Tý (1792) nhà vua qua đời, để lại cho Ngọc Hân hai con nhỏ. Ngọc Hân rất đau khổ, nàng làm bài "Ai tư vãn" để khóc chồng. Sau khi Ngọc Hân mất, triều đình Tây Sơn truy tặng miếu hiệu là Như ý Trang Thận Trinh Nhất Vũ Hoàng hậu".

Từ một vài thông tin ngắn gọn về tác giả tác phẩm như trên, có thể Lê Ngọc Hân là một bà hoàng làm thơ. Đây là trường hợp hy hữu trong lịch sử thi ca Việt Nam: văn chương trung đại ở ta không hiếm những ông hoàng làm thơ (Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Minh Tông, Lê Thánh Tông, Tự Đức...), nhưng bà hoàng làm thơ - và lại là loại thơ có thể lưu truyền hậu thế - thì cực ít. Ngoài ra, đây là "nhà thơ một bài". Vì, tuy nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc viết: "Từ bé đã thông kinh sử và biết làm thơ văn", nhưng về mặt tư liệu, cho đến nay vẫn chưa ai tìm thấy tác phẩm nào khác của Ngọc Hân công chúa ngoài "Ai tư vãn".

"Ai tư vãn" được Ngọc Hân công chúa viết ra có lẽ không với dụng ý "làm thơ", mà đó là tiếng khóc thành thơ, là tâm trạng buồn đau khôn xiết đã mượn được cấu trúc âm điệu sẵn có của thể song thất lục bát mà cất lên lời. "Ai tư vãn", như chính tên gọi của nó - Bài vãn ca về nỗi buồn đau tưởng nhớ - là tác phẩm nói lên một tâm trạng, chứ không phải tác phẩm chuyển tải một luận đề hay kể lại một câu chuyện. Và đây là tâm trạng của chính tác giả - Ngọc Hân công chúa, một con người cụ thể, được lưu lại trong biên niên sử - chứ không phải tâm trạng của một nhân vật văn chương (người vợ có chồng đi lính trong "Chinh phụ ngâm", hay người cung nữ bị thất sủng trong "Cung oán ngâm").

Tâm trạng ấy khởi lên từ mối quan hệ với một con người cũng rất cụ thể, được lưu lại trong biên niên sử - hoàng đế Quang Trung - chứ không phải từ một nhân vật của văn chương (người chinh phụ trong "Chinh phụ ngâm", hay đấng thiên tử háo sắc và bạc bẽo trong "Cung oán ngâm").

Mạch tâm trạng của chủ thể trữ tình trong "Ai tư vãn", theo chiều thời gian, chạy suốt từ quá khứ tới hiện tại, từ nỗi nhớ về hình ảnh lúc sinh thời của người đã khuất tới những cảm nhận về sự mất mát đang hiện hữu quanh mình. Thoạt tiên là nỗi nhớ về "khởi điểm của mọi khởi điểm", tức lúc đôi trai tài gái sắc kết duyên phu phụ: "Từ cờ thắm trỏ vời cõi Bắc/ Nghĩa tôn phù vằng vặc bóng dương/ Xe dây vâng mệnh phụ hoàng/ Thuyền lan chèo quế thuận đường vu quy".

Ngọc Hân công chúa không "giấu giếm" sự thật về cuộc hôn nhân của mình: bốn chữ "vâng mệnh phụ hoàng" đã cho thấy đó là cuộc hôn nhân vương giả với không ít những ý đồ, những mưu toan chính trị của cả hai bên được ẩn vào bên trong. Dẫu vậy, vượt qua những toan tính thực dụng ban đầu của cuộc hôn nhân vương giả, Lê Ngọc Hân và Nguyễn Huệ đã sống một đời sống vợ chồng chứa chan tình nghĩa (Nhờ hồng phúc gội cành hòe quế/ Đượm hơi dương dây rễ cùng tươi) và mơ ước tới sự lâu bền của hạnh phúc ấy (Những ao ước chập trung tuổi hạc/ Nguyền trăm năm ngõ được vầy vui). Thế nhưng: "Ngán thay máy Tạo đất bằng/ Bóng mây thoắt đã ngất chừng xe loan!". Quang Trung băng hà, để lại một sự nghiệp hiển hách với bao hoài bão to lớn chưa kịp thực hiện, để lại trên đời vợ góa con côi. Người thác, nhưng còn dư ảnh. Và chính cái dư ảnh ấy đã khiến cho người đang sống không ít phen phải rơi vào trạng thái nửa thực nửa mộng, tựa như bị thôi miên: "Khi trận gió hoa bay thấp thoáng/ Ngỡ hương trời bảng lảng còn đâu/ Vội vàng sửa áo lên chầu/ Thương ôi quạnh quẽ trước lầu nhện giăng/ Khi bóng trăng lá in lấp lánh/ Ngỡ tàn vàng nhớ cảnh ngự chơi/ Vội vàng dạo bước tới nơi/ Thương ôi vắng vẻ giữa trời sương sa!". Đọc những câu Ngọc Hân công chúa ghi lại sự trải nghiệm cá nhân này, không hồ nghi gì nữa, cái tình thực của cổ nhân đã hằn trên dòng chảy thời gian, như một minh chứng cho nỗi đau khôn xiết.

Trong hồi tưởng của Ngọc Hân công chúa, bằng những câu thơ cực tả, vua Quang Trung đã hiện lên lồng lộng với kích thước của những vĩ nhân trong huyền thoại: "Nghe trước có đấng vương Thang, Võ/ Công nghiệp nhiều, tuổi thọ thêm cao/ Mà nay áo vải cờ đào/ Giúp dân dựng nước biết bao công trình/ Nghe rành rành trước vua Nghiêu, Thuấn/ Công đức dầy ngự vận càng lâu/ Mà nay lượng cả ơn sâu/ Móc mưa tưới khắp chín châu đượm nhuần!". Xét từ quan điểm ý thức hệ, cách nhìn nhận đánh giá về Quang Trung Nguyễn Huệ như vậy tuyệt nhiên không thể có ở những người phò Lê hay theo Nguyễn - nó gần với quan điểm của nhà sử học cách mạng hơn nhiều! Dù sao chăng nữa, qua đoạn thơ này, ít nhất tác giả cũng đã lưu lại được dấu ấn của mình trong văn học sử dân tộc với một cụm từ định tính (có sức phổ biến rất rộng và lâu bền) cho nhân vật lịch sử Quang Trung: "Áo vải cờ đào".

Từ hồi tưởng quá khứ tới những cảm nhận hiện tại là cả một niềm đau đớn, một "đích lịch trình khổ nạn" với tác giả "Ai tư vãn". Bà cho hậu thế thấy điều đó bằng sự đối lập Xưa/ Giờ: "Xưa sao sớm hỏi khuya bầy/ Nặng lòng vàng đá, cạn lời tóc tơ/ Giờ sao bỗng thờ ơ lặng lẽ/ Tình cô đơn ai kẻ xét đâu/ Xưa sao gang tấc gần chầu/ Trước sân phong nguyệt trên lầu sinh ca/ Giờ sao bỗng cách xa đôi cõi/ Tin hàn huyên khôn hỏi thăm lênh/ Nửa cung gẫy, phiếm cầm lành/ Nỗi con côi cút, nỗi mình bơ vơ".

Nếu xét tới "thân thế sự nghiệp" của tác giả, người đọc tất sẽ không tránh khỏi cảm giác ngậm ngùi khi đọc đoạn thơ này. Không còn là một bà hoàng sống trong nhung lụa và đau nỗi đau vương giả nữa. Tuyệt nhiên không. Chỉ còn là một góa phụ, một người đàn bà hết sức bình thường đang sống trong tâm trạng đầy sợ hãi khi phải đối diện với viễn cảnh mẹ góa con côi bơ vơ giữa biển đời dông tố!

"Đời" hơn nên đau hơn, nên hoang mang hơn, mờ mịt hơn khi người viết tự đặt mình trong cái mênh mông của không gian: "Trông mái đông lá buồm xuôi ngược/ Thấy mênh mông những nước cùng mây/ Đông rồi thời lại trông tây/ Thấy non ngân ngất, thấy cây rườm rà/ Trông nam thấy nhạn sa lác đác/ Trông bắc thôi ngàn bạc màu sương/ No trông trời đất bốn phương/ Cõi tiên khơi thẳm biết đường nào đi". Phóng tầm mắt, cũng là trải lòng mình ra khắp bốn phương trời, đây là điều thật ra Ngọc Hân công chúa, dù muốn hay không, đã học được từ người vợ lính trong "Chinh phụ ngâm" của Đặng Trần Côn. Thế nhưng, là tâm sự của một con người cụ thể trong hoàn cảnh cụ thể, có thể nói, nỗi thấm thía về cái mất mát mà "Ai tư vãn" của Lê Ngọc Hân đặt trên người đọc đã có được một sức lan truyền đặc biệt.

Thế kỷ XVIII - tiền bán thế kỷ XIX, giai đoạn "vàng" của văn học Việt Nam trung đại. Tính chất "vàng" của giai đoạn này đã được các nhà nghiên cứu lịch sử văn học chứng minh trên nhiều phương diện (đội ngũ tác giả, cảm hứng nhân văn, sự xuất hiện các thể loại mới bằng chữ Nôm v.v...), người viết chỉ xin nhắc đến một điểm nhỏ: đây là giai đoạn bừng nở của những tác giả nữ sáng giá, điều dường như không thể có trong bảy, tám thế kỷ văn chương trước kia: Hồ Xuân Hương, Bà huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm, và Ngọc Hân công chúa.

"Nhà thơ một bài" Lê Ngọc Hân, nếu xét từ giác độ một sự nghiệp văn chương cũng như sự độc đáo trong phong cách nghệ thuật thì có thể "lép" hơn một chút so với ba tác giả kể trên - ấy là kẻ hậu nhân bạo gan mà làm cái việc "cân đo" như vậy - song bà vẫn có một vị thế riêng.

"Ai tư vãn", dòng huyết lệ của nỗi buồn đau tưởng nhớ, tiếng khóc thành thơ của một bà hoàng, một trong những tác phẩm sáng giá nhất (và có thể là sớm nhất) viết về người anh hùng kiệt xuất Quang Trung Nguyễn Huệ. Bấy nhiêu đó có lẽ đã là quá đủ để Ngọc Hân công chúa lưu danh trong lịch sử văn chương dân tộc.

Nghị luận phân tích Ai tư vãn - mẫu 4

"Vua Quang Trung – bậc anh hùng áo vải cờ đào" là hình ảnh đã đi vào huyền thoại. Thế nhưng ít ai biết rằng, bên cạnh đấng anh hùng ấy có một người vợ mang hai dòng máu hoàng tộc, ngày ngày viết những dòng thơ đẫm lệ khi ông đột ngột qua đời. Công chúa Lê Ngọc Hân – con gái vua Lê Hiển Tông – đã để lại "Ai tư vãn" (Bài văn than khóc chồng), một áng thơ tình bi tráng bậc nhất văn học trung đại. Không chỉ là nỗi đau của người vợ mất chồng, bài thơ còn là tiếng lòng thủy chung, son sắt dành cho vua Quang Trung, đồng thời là minh chứng cho tài năng sử dụng thể thơ song thất lục bát để biểu đạt cảm xúc đến cao độ.

Bài thơ được viết khi vua Quang Trung băng hà (1792), để lại Lê Ngọc Hân với hai con thơ và một gánh tang thương chồng chất. Toàn bài dài, gồm nhiều khổ song thất lục bát, diễn tả hành trình cảm xúc từ nỗi đau mất mát, nhớ lại những ngày hạnh phúc bên chồng, cho đến sự tuyệt vọng tột cùng và cả những ảo giác thương tâm của người vợ trẻ.

Mở đầu bài thơ là một không gian vắng lặng, lạnh lẽo:

"Gió hiu hắt, phòng tiêu lạnh lẽo,

Trước thềm lan hoa héo ron ron!"

Từ láy "hiu hắt", "ron ron" (héo rũ, nhỏ dần) gợi sự tàn tạ, cô quạnh. Căn phòng của bậc đế vương giờ đây chỉ còn "khói tỏa" lờ mờ từ câu Tiên, bóng "xe rông" và "loan" hư ảo. Tất cả báo hiệu một sự ra đi vĩnh viễn.

Tác giả trực tiếp thốt lên nỗi đau của số phận:

"Nỗi lai lịch dễ hầu than thở,

Trách nhân duyên mờ lỡ cớ sao?"

Bà tự hỏi sao duyên phận lại "mờ lỡ" (lỡ làng, trớ trêu) đến thế? Câu thơ như tiếng thở dài trước định mệnh. Và rồi nỗi đau ấy vút lên thành cao trào:

"Sâu sâu, thảm thảm xiết bao,

Sau đây giạt bể, thảm cao ngất trời!"

Hai từ láy "sâu sâu, thảm thảm" cộng với hình ảnh "giạt bể" (trôi dạt như bèo) và "thảm cao ngất trời" (nỗi đau ngang trời) đã đẩy cảm xúc lên tột đỉnh. Thể thơ song thất với nhịp 3/4, 4/3 tạo âm hưởng như những tiếng khóc nghẹn ngào rồi bật lên thảng thốt.

Đặc biệt, nỗi đau còn được thể hiện qua sự phản kháng trước "máy tạo" (tạo hóa):

"Nào hay sống cạn, bể vùi,

Lòng trời tráo trở, vận người biệt ly!"

...

"Ngán thay, máy Tạo bất bằng!

Bóng mây thoát đã ngắt chừng xe loan!"

Bà không cam chịu một cách thụ động. Chữ "tráo trở", "bất bằng" là lời oán trách trời cao sao nỡ đoạn đứt tình vợ chồng son sắt. Hình ảnh "bóng mây thoát" chỉ cái chết của vua Quang Trung, một sự ra đi nhẹ nhàng nhưng để lại hậu họa khôn lường.

Tình cảm sâu nặng của tác giả dành cho vua Quang Trung – vừa là ân nhân, vừa là tri kỷ. Không chỉ khóc, Lê Ngọc Hân còn trải dài hồi ức về những ngày hạnh phúc bên chồng, qua đó bộc lộ tình cảm sâu sắc:

"Trăm ngàn đậm quán chi non nước,

Chữ nghi gia mừng được phải duyên,

Sang yêu muôn đội ơn trên"

Bà nhớ ơn chồng đã đưa mình về "nghi gia" (lễ nghi gia đình), nhớ những ngày vinh hiển bên "thuyền lan, chèo quế". Đặc biệt, bà khẳng định tình cảm vượt lên mọi biến cố:

"Dẫu rằng non nước biến đời,

Nguồn tình ắt chẳng chút vời đầu là"

Dù non nước đổi thay, "nguồn tình" (dòng tình cảm) vẫn không hề vơi cạn. Đây là lời thề thủy chung mãnh liệt.

Tình cảm ấy còn gắn với lòng biết ơn sâu xa: Quang Trung không chỉ là chồng mà còn là người đã "đùm bọc" khắp "tôn thân" họ Lê, là người giữ gìn "miếu đường", vun trồng "tùng thu". Bà khóc chồng trong tư thế của một người vợ, nhưng cũng là của một hậu duệ nhà Lê được ông cưu mang. Tình yêu và sự kính trọng hòa quyện làm một.

Sau khi chồng mất, tác giả rơi vào trạng thái hoảng loạn, cố gắng vớt vát:

"Xiết bao kinh sợ lo phiền,

Miếu thần đã đảo, thuốc tiên lại cầu.

Khắp mọi chốn đầu đầu tìm rước,

Phương pháp nào đối được cùng chăng?"

Loạt động từ "đảo" (cúng lễ), "cầu", "tìm rước" cho thấy bà đã làm tất cả để giữ chồng lại, nhưng tất cả đều vô nghĩa.

Và rồi, nỗi đau ấy sinh ra những ảo giác đau đớn đến nghẹt thở:

"Khi trận gió, hoa bay thắp thoáng,

Ngỡ hương trời bảng láng còn đâu:

Vội vàng sửa áo lên chầu,

Thương ôi, quạnh quê trước lầu nhện chăng!"

Chỉ một cơn gió thoảng, một cánh hoa bay, bà vội vàng tưởng tượng ra "hương trời" – hơi ấm của chồng. Bà vội vã sửa áo để "lên chầu" bên vua, nhưng sự thật phũ phàng: trước lầu chỉ còn mạng nhện giăng mắc. Đây là khoảnh khắc đau đớn nhất. Thể lục bát (câu 6-8) với giọng điệu thủ thỉ, thiết tha đã khắc họa tuyệt vời sự mong manh, hụt hẫng của một tâm hồn đang tan vỡ.

Bài "Ai tư vãn" dài là một bản hòa tấu hoàn hảo của thể thơ song thất lục bát:

Cặp song thất (7-7): Thường mang âm hưởng trầm hùng, bi tráng, thích hợp để diễn tả những đau thương lớn, sự việc trọng đại, không gian rộng lớn hoặc lời than trách phẫn uất. Ví dụ: "Ngán thay, máy Tạo bất bằng! / Bóng mây thoát đã ngắt chừng xe loan!" – hai câu thất ngôn như tiếng gầm lên phản kháng trời cao. Nhịp 3/4 hoặc 4/3 tạo cảm giác nức nở, đứt quãng như hơi thở đau thương.

Cặp lục bát (6-8): Ngược lại, nhịp điệu mềm mại, uyển chuyển, thường dùng để diễn tả tâm tình sâu lắng, hoài niệm, nỗi nhớ riêng tư, hoặc những ảo giác mong manh. Ví dụ: "Vội vàng sửa áo lên chầu, / Thương ôi, quạnh quê trước lầu nhện chăng!" – lục bát ở đây như tiếng lòng thổn thức, như bước chân chậm rãi nhưng đầy hụt hẫng.

Sự kết hợp luân phiên giữa hai thể thơ này tạo nên một hiệu ứng đặc biệt: nỗi đau vừa có tầm vóc vũ trụ (song thất), vừa thấm sâu vào từng xó tối tâm hồn (lục bát). Chính thể thơ này đã nâng "Ai tư vãn" từ một bài khóc tang trở thành một kiệt tác trữ tình.

Vượt lên trên một lời than vãn cá nhân, Ai tư vãn đã trở thành một phần của hồn cốt lịch sử dân tộc. Tiếng lòng của Lê Ngọc Hân giúp chúng ta hiểu thêm về khía cạnh đời thường, tình cảm sau lưng một bậc vĩ nhân. Áng văn Nôm quý giá này mãi mãi là minh chứng cho một tình yêu thủy chung son sắt, đồng thời khẳng định tài năng và tâm hồn cao đẹp của một nữ sĩ, một bậc hoàng hậu tài hoa trong dòng chảy văn học trung đại Việt Nam.

Nghị luận phân tích Ai tư vãn - mẫu 5

Giữa dòng chảy bi tráng của văn học trung đại Việt Nam, có những tác phẩm được viết không phải bằng mực mà bằng nước mắt. “Ai tư vãn” của Công chúa Lê Ngọc Hân là một thi phẩm như thế. Là con gái vua Lê nhưng thành hoàng hậu của vua Quang Trung, cuộc đời bà vốn đã là một bi kịch lịch sử. Nỗi đau càng nhân lên gấp bội khi người chồng – vị anh hùng áo vải đang tuổi xuân thì bất ngờ băng hà. Bản thơ dài hơn nhiều so với đoạn trích phổ biến, chính là bức tâm giao đầy đủ nhất về nỗi đau mất chồng, tình vợ chồng son sắt và những cung bậc cảm xúc được chuyển tải tài tình qua thể thơ song thất lục bát.

Bài thơ mở đầu không phải bằng những lời than khóc ầm ĩ mà bằng một không gian tĩnh lặng đến rợn người:

“Gió hiu hắt, phòng tiêu lạnh lẽo,

Trước thềm lan hoa héo ron ron!”

“Phòng tiêu” (phòng quý tộc) mà lạnh lẽo, “hoa lan” trước thềm mà héo rũ. Hai câu song thất với các từ láy “hiu hắt”, “ron ron” gợi sự tàn úa, đổ nát. Người đọc cảm nhận được hơi thở của cái chết đang bao phủ khắp không gian. Đó là cảnh sắc phản chiếu nội tâm: khi người chồng – trung tâm của mọi sự sống – ra đi, vạn vật cũng mất hồn.

Nỗi đau ấy nhanh chóng chuyển thành những trăn trở về nhân duyên:

“Nỗi lai lịch dễ hầu than thở,

Trách nhân duyên mờ lỡ cớ sao?”

“Lai lịch” ở đây có thể hiểu là duyên phận, là con đường đời. Bà tự hỏi sao duyên mình lại “mờ lỡ” (lỡ làng, trắc trở) đến thế? Câu hỏi không có lời đáp, chỉ càng khoét sâu thêm vết thương. Và rồi, ở cao trào của những câu song thất tiếp theo, nỗi đau vỡ òa thành sự phẫn uất với tạo hóa:

“Ngán thay, máy Tạo bất bằng!

Bóng mây thoát đã ngắt chừng xe loan!”

“Máy Tạo” – tạo hóa – bị bà gọi là “bất bằng” (không công bằng). “Bóng mây thoát” là hình ảnh ẩn dụ đẹp nhưng đầy xót xa về cái chết của vua Quang Trung: người anh hùng như một áng mây lướt qua trần thế quá vội. Động từ “ngắt” (cắt đứt) như một lời tố cáo trời cao đã tàn nhẫn “ngắt” mất “xe loan” (xe vua). Khác với sự cam chịu thường thấy trong thơ khóc của nữ sĩ thời xưa, Lê Ngọc Hân ở đây có một sự phản kháng mãnh liệt – bởi bà không chỉ mất chồng, mà đất nước mất một vị minh quân.

Xen giữa những dòng thơ đau đớn là những hồi ức ngọt ngào nhưng càng làm tăng thêm bi kịch. Bà nhớ về thuở “vu qui” (về nhà chồng):

“Rút dây vàng mệnh phụ hoàng,

Thuyền lan, chèo quế thuận đường vu qui.”

“Dây vàng” chỉ sắc phong của vua cha? Hay chỉ mối lương duyên? Hình ảnh “thuyền lan, chèo quế” gợi lên một đám cưới trang trọng, đẹp đẽ, nên thơ. Đó là những ngày hạnh phúc trọn vẹn nhất đời bà.

Đặc biệt, tình cảm của bà dành cho Quang Trung không chỉ là tình vợ chồng thông thường mà còn pha lẫn lòng biết ơn của một hậu duệ nhà Lê được ông cưu mang. Bà nhắc đến việc ông “đùm bọc” khắp “tôn thân” họ Lê, “miếu đường còn dấu”, “tùng thu còn rậm”. Nghĩa là, dòng họ của bà vẫn được bảo tồn, tôn nghiêm vẫn được giữ gìn dưới triều Tây Sơn. Vì thế, khóc chồng, bà còn khóc một ân nhân. Câu thơ lục bát:

“Dẫu rằng non nước biến đời,

Nguồn tình ắt chẳng chút vời đầu là”

là lời thề thủy chung vượt qua cả sinh tử, cả sự đổi thay của non nước. “Nguồn tình” ấy chính là sợi dây thiêng liêng nối bà với vua Quang Trung, kéo dài đến cõi vĩnh hằng.

Sau khi chồng mất, Lê Ngọc Hân rơi vào trạng thái gần như loạn trí, tìm mọi cách cứu chữa:

“Miếu thần đã đảo, thuốc tiên lại cầu.

Khắp mọi chốn đầu đầu tìm rước.”

Loạt hành động dồn dập: cúng thần, cầu tiên, tìm rước khắp nơi – cho thấy sự hốt hoảng, không chấp nhận sự thật. Đây chính là nỗi đau mất chồng ở dạng nguyên sơ, chưa qua gọt giũa lý trí.

Nhưng đỉnh cao của bài thơ, cũng là đỉnh cao của nỗi đau, chính là khổ thơ cuối cùng:

“Khi trận gió, hoa bay thắp thoáng,

Ngỡ hương trời bảng láng còn đâu:

Vội vàng sửa áo lên chầu,

Thương ôi, quạnh quê trước lầu nhện chăng!”

Chỉ một cơn gió nhẹ, một cánh hoa bay, bà vội vàng tưởng tượng ra “hương trời” – hương vị của đấng quân vương. Bà “vội vàng sửa áo lên chầu” như ngày nào. Cả một niềm hy vọng mong manh được dựng lên chỉ để đập tan trong một nốt trầm “thương ôi”. Trước lầu, không phải bóng dáng uy nghi của chồng, mà chỉ có “nhện chăng” – sự hoang tàn, bỏ quên. Đây là khoảnh khắc ám ảnh nhất: khi người sống đối diện với sự trống vắng tuyệt đối. Thể lục bát ở đây phát huy tối đa thế mạnh: nhịp 2/2/2 (vội vàng – sửa áo – lên chầu) tạo sự hối hả, rồi câu 8 “thương ôi, quạnh quê trước lầu nhện chăng” lại chậm rãi, buông lơi, như một tiếng thở dài tắt nghỉ.

Toàn bộ bài thơ là một bản hòa âm điêu luyện giữa hai cặp câu. Cặp song thất (7 chữ) thường mang âm hưởng trầm hùng, phù hợp để diễn tả sự phẫn uất (“Ngán thay, máy Tạo bất bằng!”) hoặc những cảnh huống mang tính định mệnh. Cặp lục bát (6-8) lại mềm mại, sâu lắng, thích hợp để bộc lộ tâm tình, nỗi nhớ, những ảo giác mong manh của trái tim. Sự luân phiên nhịp nhàng này khiến bài thơ không bao giờ đơn điệu: lúc thì như tiếng khóc òa lên thảm thiết, lúc thì như lời thì thầm tuyệt vọng. Có thể nói, thể thơ song thất lục bát chính là “khuôn vàng thước ngọc” để Lê Ngọc Hân gửi gắm nỗi đau mất chồng và tình yêu bất tử dành cho vua Quang Trung.

“Ai tư vãn” không chỉ là một bài thơ khóc chồng. Đó là một khúc trường ca về tình yêu và cái chết, về sự thủy chung vượt lên trên mọi thù hận dòng tộc và biến cố lịch sử. Qua nỗi đau mất chồng được đẩy đến tận cùng, qua tình cảm sâu nặng với vua Quang Trung vừa là người chồng, vừa là ân nhân, và qua sự vận dụng thành công thể thơ song thất lục bát, Lê Ngọc Hân đã để lại một kiệt tác. Mỗi lần đọc bài thơ, người ta không chỉ thấy một hoàng hậu khóc vua, mà thấy một người vợ khóc chồng – và tiếng khóc ấy, vượt qua mọi thời đại, vẫn còn nguyên sự ám ảnh.

Nghị luận phân tích Ai tư vãn - mẫu 6

Trong văn học trung đại Việt Nam, hiếm có bài thơ nào lại vừa mang đậm tính sử thi vừa thấm đẫm chất trữ tình cá nhân như “Ai tư vãn” của Công chúa Lê Ngọc Hân. Sinh ra trong nhung lụa của triều Lê, bà lại trở thành Hoàng hậu của vua Quang Trung – người đã lật đổ chính cái triều đại ấy. Số phận trớ trêu ấy đã hun đúc nên một áng thơ khóc chồng độc đáo bậc nhất. Bản thơ dài không chỉ là lời than khóc thông thường mà còn là một bản cáo trạng về nỗi đau mất chồng, một lời thề nguyền thủy chung và một bản hòa tấu cảm xúc hoàn hảo nhờ thể thơ song thất lục bát.

Bài thơ được viết trong những ngày tang lễ vua Quang Trung (1792), khi Lê Ngọc Hân ở tuổi còn rất trẻ. Khác với những bài văn tế thông thường, “Ai tư vãn” có một cấu trúc cảm xúc rất rõ: từ nỗi cô đơn trong hiện tại, hồi tưởng về hạnh phúc xưa, phẫn uất với tạo hóa, cho đến những ảo giác đau đớn khi không thể chấp nhận sự thật. Toàn bộ cảm xúc ấy được dẫn dắt bằng một giọng thơ vừa trang trọng, vừa tha thiết, rất phù hợp với thân phận và tấm lòng của người viết.

Mở đầu bài thơ, Lê Ngọc Hân không khóc ngay mà dựng lên một không gian tĩnh lặng, hoang vắng:

“Gió hiu hắt, phòng tiêu lạnh lẽo,

Trước thềm lan hoa héo ron ron!”

“Hiu hắt” là gió, “lạnh lẽo” là phòng, “héo ron ron” là hoa. Tất cả đều ở trạng thái suy tàn. Thủ pháp tả cảnh ngụ tình khiến người đọc hiểu ngay: căn phòng ấy từng đầy ắp tiếng cười, hơi ấm của bậc đế vương, giờ chỉ còn lại sự trống rỗng. Câu song thất với thanh trắc (hiu hắt, lạnh lẽo, héo) tạo cảm giác ngột ngạt, như người đang nín thở.

Khi nỗi đau đã lên đến đỉnh, bà cất tiếng thở than:

“Sâu sâu, thảm thảm xiết bao,

Sau đây giạt bể, thảm cao ngất trời!”

“Sâu sâu, thảm thảm” – hai từ láy đặt cạnh nhau như mũi khoan xoáy vào lòng đất, vào lòng người. “Giạt bể” là hình ảnh người vợ góa như con thuyền không bến, trôi dạt giữa dòng đời. “Thảm cao ngất trời” là cách nói cường điệu nhưng không hề giả tạo bởi nỗi đau ấy là có thật. Bà mất đi chồng, đất nước mất đi vị anh hùng. Nỗi đau cá nhân và nỗi đau lịch sử hòa làm một.

Sự phẫn uất lên cao nhất khi bà đối diện với sự vô lý của cái chết:

“Ngán thay, máy Tạo bất bằng!

Bóng mây thoát đã ngắt chừng xe loan!”

Tiếng “ngán thay” vang lên như một tiếng chửi rủa nhẹ nhàng nhưng đầy uất hận. Bà gọi tạo hóa là “bất bằng” – điều hiếm thấy trong thơ ca trung đại vốn đề cao sự an phận. Động từ “ngắt” (cắt đứt) cho thấy bà nhìn nhận cái chết của chồng không phải là lẽ tự nhiên mà là một sự tàn nhẫn có chủ ý. Câu thơ như một nắm đấm đấm vào không trung, bất lực nhưng không cam chịu.

Xen vào giữa những câu thơ đau đớn là những dòng hồi tưởng đầy yêu thương. Bà nhớ về ngày “vu qui” (về nhà chồng):

“Thuyền lan, chèo quế thuận đường vu qui.”

Hình ảnh thuyền bằng lan, chèo bằng quế gợi lên sự quý phái, trang trọng. Đó là một cuộc hôn nhân được cả triều đình chứng giám, là mối lương duyên của một ông vua anh hùng và một công chúa tài sắc.

Đặc biệt, bà khẳng định tình cảm của mình vượt lên trên mọi thử thách:

“Dẫu rằng non nước biến đời,

Nguồn tình ắt chẳng chút vời đầu là.”

“Non nước biến đời” chỉ sự thay đổi triều đại, cuộc binh đao đã qua. “Nguồn tình” – bà dùng chữ “nguồn” như một dòng suối ngầm không bao giờ cạn. Dù thế gian có thay đổi thế nào, tình cảm ấy vẫn không hề “vời” (xa, phai nhạt). Đây là lời thề nguyền có sức nặng hơn bất cứ lời thề nào, bởi nó được viết ra sau khi chồng đã mất – khi không còn ai để nghe, không còn gì để vụ lợi. Đó là tình yêu thuần túy.

Bà còn nhắc đến việc vua Quang Trung đã “đùm bọc” khắp “tôn thân” – cả dòng họ Lê của mình. Chi tiết này cho thấy bà yêu ông không chỉ vì ông là chồng, mà còn vì ông là người có tấm lòng nhân hậu, độ lượng. Tình yêu ở đây được xây dựng trên sự kính trọng, biết ơn – một thứ tình cảm bền vững hơn tình yêu sét đánh.

Khổ thơ cuối của bài thơ là một trong những đoạn thơ hay nhất viết về sự mất mát trong văn học Việt Nam:

“Khi trận gió, hoa bay thắp thoáng,

Ngỡ hương trời bảng láng còn đâu:

Vội vàng sửa áo lên chầu,

Thương ôi, quạnh quê trước lầu nhện chăng!”

Lê Ngọc Hân đã miêu tả một trạng thái tâm lý rất tinh tế: ảo giác của người vừa trải qua sang chấn. Chỉ một cơn gió nhẹ, một cánh hoa bay, bà đã “ngỡ” là “hương trời” – mùi hương của bậc quân vương. Cái chữ “ngỡ” ấy chứa đựng cả một niềm hy vọng mong manh và sự tự lừa dối. Bà “vội vàng sửa áo” – hành động ấy cho thấy phản xạ có điều kiện của một người vợ luôn sẵn sàng nghênh đón chồng. Nhưng câu thơ cuối cùng vỡ òa trong bi kịch: “Thương ôi, quạnh quê trước lầu nhện chăng!”. Không có chồng, không có vua, chỉ có mạng nhện giăng đầy trước lầu – biểu tượng của sự bỏ hoang, lãng quên, của thời gian trôi qua một cách vô nghĩa.

Thể lục bát ở đây phát huy tác dụng tuyệt vời: sáu chữ đầu “Vội vàng sửa áo lên chầu” với nhịp 2/2/2 tạo cảm giác hối hả, gấp gáp; tám chữ sau “Thương ôi, quạnh quê trước lầu nhện chăng” lại chậm rãi, như một giọt nước mắt rơi. Sự tương phản về nhịp điệu đã khắc họa chính xác cú sốc tâm lý: từ hy vọng đến tuyệt vọng chỉ trong tích tắc.

Có thể nói, thể thơ song thất lục bát chính là “linh hồn” của bài “Ai tư vãn”. Sự luân phiên giữa hai cặp câu không phải là ngẫu nhiên mà là một dụng ý nghệ thuật sâu sắc:

Cặp song thất (7-7) thường xuất hiện ở những đoạn bộc lộ nỗi đau lớn, sự phẫn uất với trời đất, hoặc những cảnh tượng mang tầm vóc vũ trụ. Âm hưởng của nó trầm hùng, dữ dội, như những đợt sóng lớn. Ví dụ: “Ngán thay, máy Tạo bất bằng! / Bóng mây thoát đã ngắt chừng xe loan!”

Cặp lục bát (6-8) lại xuất hiện ở những đoạn tâm tình, hồi tưởng, ảo giác – những cung bậc cảm xúc sâu lắng, riêng tư. Nhịp điệu của nó mềm mại, dễ đi vào lòng người. Ví dụ: “Vội vàng sửa áo lên chầu / Thương ôi, quạnh quê trước lầu nhện chăng!”

Chính sự đan xen này đã tạo nên một bản giao hưởng của nỗi đau: lúc dữ dội, lúc lắng sâu; lúc như tiếng gầm, lúc như tiếng thở dài. Nếu chỉ dùng toàn song thất, bài thơ sẽ quá bi tráng, mất đi sự da diết. Nếu chỉ dùng lục bát, bài thơ sẽ quá mềm mại, không thể tải được tầm vóc lịch sử của sự kiện. Lê Ngọc Hân đã chọn đúng thể thơ để bày tỏ đúng nỗi lòng mình.

Tóm lại, qua thể thơ song thất lục bát uyển chuyển và những hình ảnh ước lệ tượng trưng đặc sắc, Ai tư vãn đã tái hiện chân thực nỗi đau xót xa của Lê Ngọc Hân trước sự ra đi của vua Quang Trung. Tác phẩm không chỉ là một tiếng khóc bi ai cho tình nghĩa vợ chồng, mà còn là một tượng đài bằng ngôn từ tôn vinh vẻ đẹp của vị anh hùng áo vải Tây Sơn, để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng độc giả qua nhiều thế hệ.

Xem thêm các bài Soạn văn 9 Kết nối tri thức hay nhất, ngắn gọn khác:

Xem thêm các tài liệu học tốt lớp 9 hay khác:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Loạt bài Soạn văn 9 Kết nối tri thức của chúng tôi được biên soạn bám sát nội dung sgk Ngữ văn 9 Tập 1 và Tập 2 (NXB Giáo dục).

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.


Giải bài tập lớp 9 Kết nối tri thức khác