9+ Nghị luận phân tích Khóc Dương Khuê (điểm cao)

Viết bài văn nghị luận phân tích Khóc Dương Khuê hay nhất giúp học sinh có thêm tài liệu tham khảo để viết văn hay hơn.

9+ Nghị luận phân tích Khóc Dương Khuê (điểm cao)

Quảng cáo

Nghị luận phân tích Khóc Dương Khuê - mẫu 1

Đã từ lâu, tình bạn đã được đề cập đến trong các tác phẩm văn học. Nguyễn Khuyến là nhà văn sở hữu số lượng lớn các bài thơ mang chủ đề rất quen thuộc trong đời sống hàng ngày như thế. Nếu như trong Bạn đến chơi nhà, ông dùng giọng văn hóm hỉnh, khôi hài để nói về tình bạn không màng vật chất, thì sang bài thơ Khóc Dương Khuê, giọng thơ đã thay đổi hẳn. Cả bài thơ như tiếng khóc nấc lên trong sự buồn bã của Nguyến Khuyến khi đến đám tang của người bạn Dương Khuê. Đặc biệt trong 16 câu thơ cuối:

“Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác,

Tôi lại đau trước bác mấy ngày.

Tuổi già hạt lệ như sương,

Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan!”

Nỗi xót thương cho người bạn quá cố càng được thể hiện đậm nét.

Nguyễn Khuyến xuất thân là nhà nho, có tài văn chương, đỗ đầu cả ba kỳ thi nên còn được gọi là Tam Nguyên Yên Đổ. Ông thường viết về gia đình, bạn bè, quê hương và châm biếm bọn thực dân. Bài thơ Khóc Dương Khuê ban đầu được viết bằng chữ Hán, sau được Nguyễn Khuyến dịch lại bằng chữ Nôm. Dương Khuê là bạn của Nguyễn Khuyến, mặc dù kém tuổi nhưng Dương Khuê cũng đỗ chức tước cao, trở thành tri âm của Nguyễn Khuyến. Mười sáu câu thơ cuối là nỗi đau đáu, thương xót của Nguyễn Khuyến trước sự ra đi đột ngột của bạn.

Quảng cáo

Hai câu thơ mở đầu được nhà thơ viết bằng giọng văn khôi hài, nhưng chua xót, bộc lộ sự đau lòng của ông:

“Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác,

Tôi lại đau trước bác mấy ngày.”

Quả thật, Nguyễn Khuyến hơn Dương Khuê bốn tuổi, nhưng Nguyễn Khuyến vẫn gọi Dương Khuê bằng giọng thân mật “tôi - bác”. Câu thơ “đau trước bác mấy ngày” sử dụng biện pháp ẩn dụ, ý chỉ sự ra đi của Dương Khuê quá đột ngột, khiến tác giả không thôi giật mình và đau đớn.

Trong bốn câu thơ tiếp theo, nhà thơ tiếp tục mạch cảm xúc trầm lắng, đau thắt lòng:

“Làm sao bác vội về ngay,

Chợt nghe, tôi bỗng chân tay rụng rời.

Ai chẳng biết chán đời là phải,

Sao vội vàng mà mải lên tiên.”

Quảng cáo

Tác giả sử dụng biện pháp nói giảm, nói tránh và biện pháp nói quá rất khéo léo,, ý nhị. Để chỉ sự ra đi của người bạn thân, ông dùng những từ “vội về ngay”, “chán đời”, “vội vàng”, “lên tiên”, với mục đích để giảm đi sự đau thương, nhưng sao câu thơ vẫn đau bội phần như vậy. Nói tránh đi sự ra đi của bạn, Nguyễn Khuyến phóng đại nỗi đau của mình “chân tay rụng rời”. Chắc hẳn, vì quá bất ngờ, ông đã không kìm được cảm xúc mà suy sụp, đau như “chân tay rụng rời”.

Trước kia, tất cả những thú vui trên cõi đời đều có ông và Dương Khuê hưởng thụ. Nhưng nay, những niềm vui đó bỗng trở nên chán chường, vô nghĩa bởi đã mất bạn rồi:

“Rượu ngon không có bạn hiền,

Không mua không phải không tiền không mua.

Câu thơ nghĩ đắn đo không viết,

Viết đưa ai, ai biết mà đưa;

Giường kia treo cũng hững hờ,

Đàn kia gãy củng ngẩn ngơ tiếng đàn.”

Quảng cáo

Rượu luôn là thức uống yêu thích của thi nhân, thế nên mới có thi tửu. Nhưng rượu chỉ ngon khi được uống cùng bạn hiền. Biện pháp điệp từ “không” ba lần liên tiếp trong một câu thơ như nhân lên ba lần sự vô vị, không ham muốn thi tửu của Nguyễn Khuyến khi không có bạn. Hôm nay không mua rượu, không phải do không có tiền, mà là do không còn tri âm.

Bài thơ vẫn còn dang dở, chưa viết xong, bởi với ông, mất bạn rồi thì còn ai để đọc. Một lần nữa, biện pháp điệp ngữ lại xuất hiện, điệp từ “ai” và”đưa” hai lần, kết hợp với biện pháp chơi chữ “viết đưa ai” - “ai biết mà đưa”. Đây như một vòng luẩn quẩn, viết xong cũng không biết đưa cho ai, mà cũng không có ai để đưa. Mất đi Dương Khuê, Nguyễn Khuyến gần như mất đi cả một người đọc tri kỉ của mình.

Các sự vật tạo niềm vui khác như giường, đàn cũng mất đi sự sống, trở nên “hững hờ” và “ngẩn ngơ”. Đây là hai từ láy rất đặc sắc trong đoạn thơ, đồng thời là hai từ ngữ nhân hóa, khiến các sự vật tưởng như vô cảm ấy cũng đang hòa dần với nỗi đau mất mát bạn của nhà thơ. Sau cùng, thú vui để thưởng ngoạn với bạn, mất bạn rồi, thú vui cùng dần trở thành nỗi buồn sâu lắng.

Đau đớn là vậy, xót thương là vậy, nhưng Nguyễn Khuyến cũng đành chấp nhận sự thật rằng bạn đã đi xa:

“Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở,

Tôi tuy thương, lấy nhớ làm thương.

Tuổi già hạt lệ như sương,

Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan!”

Nguyễn Khuyến trách móc, hờn dỗi bạn khi “Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở”. Đây là một điều vô lý nhưng hết sức hợp lý. Vô lý bởi Dương Khuê mất do tuổi già, nên cho dù nhà thơ có trách móc, van nài thì Dương Khuê cũng đâu thể nghe thấy được. Nhưng hợp lý là bởi, Nguyễn Khuyến quá nhớ thương Dương Khuê, mong muốn bạn ở lại với mình, nên mới buông lời mà trách nhẹ nhàng thế.

Mãi đến tận cuối bài thơ, ta mới thấy xuất hiện giọt nước mắt của nhà thơ. Nhưng sao giọt nước mắt ấy lại “như sương”, mà còn phải ‘ép” mới ra? Đọc đến đây, ta chợt nhớ lại giọt nước mắt cũng phải “ép” mới ra của Lão Hạc trong tác phẩm của Nam Cao. Một phần cũng là do tuổi cao nên khó chảy nước mắt. Nhưng phần nhiều, do lão quá đau khổ vì mất cậu Vàng, nên không thể khóc thành dòng được nữa. Cũng như vậy, Nguyễn Khuyến cũng nói một phần do “tuổi già”, nhưng thật ra, sâu trong thâm tâm, ông đau lòng đến độ thật khó để có “hai hàng chứa chan”. Nước mắt chảy ngược vào trong, như thể ông đang “nuốt” cái thương bạn vào trong bụng.

Bằng những câu thơ sử dụng ngôn ngữ bình dân mộc mạc, gần gũi, từng câu thơ chất chứa cảm xúc mãnh liệt, sử dụng tài tình biện pháp nhân hóa, phép điệp ngữ, biện pháp so sánh, Nguyễn Khuyến đã bộc lộ lòng thương bạn, đau đớn muôn phần khi mất bạn, nhưng đồng thời cũng thể hiện thái độ chấp nhận sự thật. Đọc bài thơ, ta càng thêm trân trọng hơn những tình bạn đẹp đẽ, trong sáng giữa đời thường.

Dàn ý Nghị luận phân tích Khóc Dương Khuê

a. Mở bài:

Giới thiệu tác giả Nguyễn Khuyến và bài thơ “Khóc Dương Khuê” : Những bài thơ của ông mang những tình cảm chân thực đẹp đẽ của người Việt Nam

b. Thân bài:

- Giới thiệu về tình bạn của Nguyễn Khuyến và Dương Khuê: Nguyễn Khuyến và Dương Khuê cùng đỗ tiến sĩ và làm quan dưới triều Nguyễn

- Nỗi đau buồn của Nguyễn Khuyến trước sự ra đi đột ngột của Dương Khuê: Cái chết đột ngột của Dương Khuê là một đau của Nguyễn Khuyến

- Nhắc lại những kỉ niệm của đôi bạn tri kỉ: Đôi bạn tâm đầu ý hợp đã từng trải qua những ngày tháng vui vẻ, thú vị

- Nỗi buồn mất bạn hòa chung với nỗi buồn mất nước: Cùng phụng sự dưới một triều đại, đôi bạn thân đã cùng chi sẻ nỗi đau mất nước.

c. Kết bài:

- Ý nghĩa bài thơ “Khóc Dương Khuê”: Bài thơ Khóc Dương Khuê mang một nỗi niềm tiếc nuối sâu sắc về một tình bạn tri kỉ.

9+ Nghị luận phân tích Khóc Dương Khuê (điểm cao)

Nghị luận phân tích Khóc Dương Khuê - mẫu 2

Nguyễn Khuyến (1835 - 1909) để lại khoảng 800 bài thơ chữ Nôm và chữ Hán trong đó có ngót một trăm bài thơ viết về tình bạn. Có bài như "Bạn đến chơi nhà" thì hầu như ai cũng biết. Viết về Dương Khuê (1839 - 1902) bạn chí thân của mình, Nguyễn Khuyến đã có bốn bài thơ chữ Hán. Riêng bài thơ thứ tư "Vãn đồng niên Vân Đình tiến sĩ Dương Thượng thư" (Viếng bạn đồng khoa là Vân Đình tiến sĩ Dương Thượng thư) được tác giả dịch ra chữ Nôm thành bài "Khóc Dương Khuê".

Đây là bài thơ khóc bạn rất tha thiết cảm động của Nguyễn Khuyến cũng là bài thơ khóc bạn rất nổi tiếng trong nền thơ ca dân tộc. Dương Khuê là bạn đồng khoa với Nguyễn Khuyến tại khoa thi Hương năm 1864. Dương Khuê đỗ tiến sĩ, làm quan to, để lại nhiều bài thơ hát nói tuyệt bút. Từ bạn đồng khoa đã phát triển thành bạn tri âm tri kỉ nên Nguyễn Khuyến mới có thơ khóc bạn cảm động và tha thiết như vậy. Có thể xem đây cũng là một bài văn tế được viết bằng thể thơ song thất lục bát, giọng thơ réo rắt thấm đầy lệ, gồm có 38 câu thơ. Hai câu thơ mở đầu:

"Bác Dương thôi đã thôi rồi.

Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta"

Phong cách và bút pháp Nguyễn Khuyến vốn thâm thuý, cảm xúc lắng đọng. Tất cả nỗi đau mất bạn dường như dồn nén vào câu thơ lực bát mở đầu này. Dòng lục (Bác Dương thôi đã thôi rồi) ngắn gọn cất lên tiếng kêu thương đột ngột. Tin dữ về người bạn tri âm tri kỉ đến bất ngờ quá khiến cho Nguyễn Khuyến bàng hoàng, đau đớn và thất vọng. Biện pháp nghệ thuật nói giảm “thôi đã thôi rồi”, với từ “thôi” được lặp lại hai lần có tác dụng gợi nỗi đau đột ngột, sự thảng thốt, sự trống vắng không gì bù đắp nổi.

Dòng bát (Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta) dàn trải, diễn tả về sự mất mát đau thương ấy của Nguyễn Khuyến. Từ láy “man mác” đã diễn tả được cả không gian cũng nhuộm màu tang tóc. Có lẽ, lòng người đau đến quặn thắt như đứt ra từng khúc ruột “ngậm ngùi” nên nỗi đau ấy lan toả cùng mây trời non nước. Người bạn tri âm tri kỉ vừa ra đi làm cho nhà thơ thấy hẫng hụt, trống vắng đến khôn cùng.

Tác giả nhắc lại, nhớ lại những kỉ niệm sâu sắc với người đã quá cố. Với nhà nho thì bạn đồng khoa là bạn đẹp nhất, tự hào nhất. Nguyễn Khuyến và Dương Khuê cùng đỗ đạt, cùng làm quan, tình bạn ấy là "duyên trời" tác hợp nên:

"Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước,

Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau.

Kính yêu từ trước đến sau,

Trong khi gặp gỡ khác đâu duyên trời"

Các từ ngữ "sớm hôm", "cùng nhau", "từ trước đến sau" thể hiện một tình bạn vô cùng thân thiết, chung thuỷ. Mỗi một kỉ niệm là một mảnh tâm hồn của nhà thơ được nhắc lại với bao nhiêu giọt lệ. Nguyễn Khuyến như vẫn thấy Dương Khuê đang cùng mình hiển hiện. Phải là bạn tâm đầu ý hợp, phải là những tao nhân mặc khách mới có những kỉ niệm cầm ca, thi tửu đẹp và đáng nhớ như vậy.

Nhớ những cuộc du ngoạn, thăm thú nơi "dặm khách" chan hoà với thiên nhiên, thảnh thơi giữa chốn lâm tuyền: "Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo". Nhớ những lần cùng nhau đi hát ả đào nơi lầu cao, thưởng thức cung đàn, giọng hát:

"Có khi từng gác cheo leo,

Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang"

Nguyễn Khuyến và Dương Khuê không chỉ chuyên cần học tập mà hai người cùng có những thú vui thật tao nhã: cầm, kì, thi, hoạ... Tình bạn ấy thật trong sáng và cao đẹp. Đó là tình bạn của những nhà nho chân chính. Cả hai ông đều là những người chăm chỉ dùi mài kinh sử mong được ghi tên vào bảng vàng bia đá, lưu danh muôn thuở. Cả hai ông đều đậu đại khoa dưới triều Nguyễn. Với biết bao kỉ niệm êm đẹp như vậy nên khi nhận tin Dương Khuê mất tâm trạng nhà thơ thảng thốt và đau đớn đến bàng hoàng.

Có kỉ niệm vui, có kỉ niệm buồn. Nguyễn Khuyến và Dương Khuê cùng làm quan to dưới thời nhà Nguyễn. Nhưng rồi đất nước ta bị xâm lăng, dân tộc ta bị giặc Pháp thống trị, là kẻ sĩ, là nhà nho "cùng nhau hoạn nạn". Cách ứng xử của mỗi người đểu có chỗ khác nhau. Nguyễn Khuyến đã cáo bệnh, từ quan về sống cuộc đời bình dị giữa xóm làng quê hương. Không tham miếng "đẩu thăng", lương bổng của triều đình. Còn Dương Khuê vẫn làm quan. Trong bài thơ chữ Hán "Gửi thăm quan Thượng thư họ Dương", Nguyễn Khuyến tỏ ra rất thông cảm với bạn: "Tôi biết bác vì cha mẹ phải làm quan để lấy tấm lụa - Bác biết tôi nghèo phải làm quan để kiếm đấu gạo lương". Cảnh ngộ và cách ứng xử tuy có khác nhau, kẻ làm quan, người từ quan, nhưng Tam nguyên Yên Đổ vẫn tỏ ra bao dung bạn, vẫn "kính yêu từ trước đến sau", không bao giờ thay lòng đổi dạ:

"Bác già tôi cũng già rồi,

Biết thôi, thôi thế, thì thôi, mới là"

Chữ "rồi" vần với ba chữ "thôi" liên tiếp như một tiếng thở dài, tự an ủi mình, như muốn quên đi thật nhanh những điều bất đắc chí. Không nỡ, không muốn nhắc đến nữa mới là bạn bè tâm giao! Lời than khóc trở nên xót xa khi nhà thơ nhắc lại điển tích Tử Kỳ - Bá Nha và Trần Phồn - Từ Trĩ. Chiếc giường dành riêng tiếp bạn nay đã trở nên "hững hờ". Tiếng đàn cũng "ngẩn ngơ" mất hồn vì lẻ bạn. Một cách nói thậm xưng để cực tả nỗi đau tê tái khi bạn thân qua đời. Khi còn sống thì đôi bạn cùng đi chơi "dặm khách", cùng "lựa chiều cầm xoang", "rượu ngon cùng nhắp", cùng "bàn soạn câu văn"... Lúc bạn qua đời chẳng còn người tri âm tri kỉ để cùng nhau uống rượu, làm thơ, nghe đàn, năng lui tới thăm nom, chia ngọt sẻ bùi cùng nhau. Nguyễn Khuyến đã có nhiều cách nói rất sâu sắc, cảm động diễn tả sự thương xót bạn và nỗi buồn cô đơn của mình.

Trải qua bao mưa nắng, bao thăng trầm hoạn nạn, Tam nguyên Yên Đổ còn đâu nhiêu nước mắt để khóc bạn, chí còn biết "lấy nhớ làm thương". Tuy nhiên cả bài thơ, nhất là bốn câu kết đã "chứa chan" nước mắt đau xót. Hai câu thơ: "Bác chẳng ở dẫu vẫn chẳng ở - Tôi tuy thương lấy nhớ làm thương" với cách diễn đạt trùng điệp và tăng cấp đã tạo nên giọng thơ buồn thê thiết, Nguyễn Khuyến để lại nhiều tiếng khóc: khóc cho đất nước và dân tộc, khóc vợ, khóc con, khóc bạn,… Tiếng khóc nào cũng xúc động, tê tái, nặng tình, nặng nghĩa. Riêng bài "Khóc Dương Khuê" lại được viết bằng thể thơ song thất lục bát, lời khóc bạn càng trở nên thiết tha, não nùng, lúc thì nức nở, thảng thốt, lúc thì kể lể thở than, lúc thì phân trần, lúc thì trách móc, lời thơ thủ thỉ như nói với người còn sống, rất cảm động. Giọng thơ liền mạch, lời thơ tinh tế, biểu cảm đã thể hiện nghệ thuật vừa bình dị, vừa điêu luyện.

Qua bài thơ, ta thấy Nguyễn Khuyến không chỉ là người tài cao học rộng mà còn là người rất nghĩa tình. Ông thuỷ chung trong tình bạn. Tình cảm đối với bạn của tác giả thật đáng trân trọng, đáng cho chúng ta học tập.

Nghị luận phân tích Khóc Dương Khuê - mẫu 3

Trong nền thơ văn Việt Nam đã in dấu hơn một nghìn năm lịch sử của dân tộc, nhà thơ Nguyễn Khuyến cũng đóng góp một phần vẻ vang trong đó. Những bài thơ của ông mang những tình cảm chân thực đẹp đẽ của người Việt Nam, được diễn đạt bằng ngôn ngữ Việt Nam gần gũi và giản dị. Trong số các bài thơ ấy tiêu biểu là bài “Khóc Dương Khuê”

Nguyễn Khuyến và Dương Khuê cùng đỗ tiến sĩ và làm quan dưới triều Nguyễn, tuy nhiên sau năm 1884, đất nước rơi vào tay thực dân Pháp, Nguyễn Khuyến cáo quan về làng nhưng Dương Khuê thì không có cái chí hướng đó, ông tiếp tục làm quan cho triều đình bấy giờ là tay sai cho thực dân, cho tới lúc ông qua đời ở tuổi 64. Cái chết đột ngột của Dương Khuê là một đau của Nguyễn Khuyến. Chẳng màng đến những chuyện khác, lúc đó Nguyễn Khuyến chỉ nghĩ rằng mình đã mất đi một người bạn thân, một tình cảm quý già không có gì có thể thay thế được. Tự ông hiểu được tình bạn ấy đến chính ông cũng không đo lường hết được chiều sâu, và rồi ông kêu lên những tiếng thảng thốt:

“Bác Dương thôi đã thôi rồi

Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.”

Chẳng còn sự trau chuốt văn chương chữ nghĩa, câu thơ chỉ còn là nỗi đau, một nỗi đau chân thành và trọn vẹn. Tiếng “thôi” nghe dân giã mà tự nhiên làm sao, bộc phát từ chính sự đau đớn trong cõi lòng tác giả, trong hoàn cảnh xã hội mà người ta luôn đề cao sự “cao nhã” trong văn chương thì ta thấy Nguyễn Khuyến đã coi trọng sự chân thực đời thường đến mức nào. Tuy là nói đến cái chết nhưng ông lại không dám nói hẳn từ “chết”, thay vào đó là “thôi đã…thôi rồi”, vậy là coi như hết, hết thật rồi, ông đã mất đi người bạn thân mãi mãi. Kẻ quyền quý có đánh rơi viên ngọc quý độc nhất vô nhị cũng chỉ kêu đến vậy mà thôi, nếu như không đau nỗi đau thật làm sao có thể khóc tiếng khóc thật đến thế. Chỉ có điều nỗi đau ấy của Nguyễn Khuyến không thể thét lên, ông khóc với chính mình, tự mình khóc mình nghe, tiếng khóc đi vào lòng chứ chẳng thấu đến ai. Lúc này ông muốn ngồi một mình, ngồi với người bạn đã mất để cùng nhớ lại những kỉ niệm đã có từ những ngày đã rất xa xôi:

“Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước…

Trong khi gặp gỡ biết đâu duyên trời.”

Tình bạn ấy được gắn bó từ khi hai người cùng đi thi Hương và đỗ cùng nhau, hai người vốn khác quê, xa lạ, chẳng quen biết gì nhưng cứ như duyên trời định sẵn, họ cứ thế gắn bó cùng nhau. Đọc câu từ của Nguyễn Khuyến ta cảm thấy thật bình dị mà gần gũi, thân mật “sớm hôm”, “tôi bác”, “cùng nhau”, chan chứa tình cảm gắn bó, sự “kính yêu từ trước đến sau”.

“Cũng có lúc chơi nơi dặm khách…

Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang.”

Đôi bạn tâm đầu ý hợp đã từng trải qua những ngày tháng vui vẻ, thú vị, có tâm hồn biết thưởng thức và chia sẻ những niềm vui của kẻ cao nhân mặc khách. Tâm hồn nhà thơ như đang rung động trước những kỉ niệm, đang sống lại vói những cảm giác “từng gác cheo leo”, lắng nghe tiếng đàn tiếng hát “ả đào”. Là những người bạn đến với nhau như duyên số, thân vì lòng mến mộ nhau, nên tình bạn của Nguyễn Khuyến và Dương Khuê như là chỗ tri âm tri kỉ, “Cũng có lúc rượu ngon cùng nhấp…Biết bao đông bích, điển phần trước sau.” Chỉ nhấp chén rượu để thưởng thức vị đậm và mùi thơm, vừa ngẫm nghĩ để cho bầu thơ thêm lai láng. Cùng phụng sự dưới một triều đại, đôi bạn thân đã cùng chi sẻ nỗi đau mất nước, ông cũng cảm thấy mình bất lực, cam chịu nặng nề. Không chỉ thương cho người bạn đã ra đi mà đây còn là sự thương mình, thương mình đã mất đi một người tri kỉ. Nguyễn Khuyến đã mang trong mình cả nỗi đau mất tri kỉ, cả nỗi đau thời thế:

“Ai chẳng biết chán đời là phải

Vội vàng chi đã mải lên tiên.”

Sự ra đi mãi mãi của người bạn tri kỉ là sự mất mát quá lớn đố với ông, sự thiếu vắng lẻ loi trong cuộc đời.

Bài thơ Khóc Dương Khuê mang một nỗi niềm tiếc nuối sâu sắc về một tình bạn tri kỉ, góp phần khẳng định về tình cảm giữa những con người với nhau. Bài thơ đã để lại cái nhìn cao đẹp về tình bạn cũng như nhân cách cao đẹp của Nguyễn Khuyến.

Nghị luận phân tích Khóc Dương Khuê - mẫu 4

Trong nền thơ hơn một nghìn năm của dân tộc Việt Nam, nhà thơ Nguyễn Khuyến có một vị trí thật vẻ vang. Ông là nhà thơ của những bài thơ Việt Nam đích thực, những bài thơ mà ở đó, những tình cảm đẹp đẽ của con người Việt Nam được diễn tả bằng một thứ ngôn ngữ Việt Nam thuần khiết, giản dị và đẹp đẽ. Trong những bài thơ ấy, cần phải nói tên một bài thơ không mấy ai không biết: bài Khóc Dương Khuê.

Xét cho cùng, tình bạn giữa hai người Nguyễn Khuyến và Dương Khuê vốn không phải là một tình bạn thật hoàn toàn như ý. Tuy đỗ cử nhân cùng khoa thi với Nguyễn Khuyến, rồi đỗ tiến sĩ, cùng làm quan cho triều Nguyễn, nhưng sau năm 1884, năm đất nước thật sự mất vào tay thực dân Pháp, Dương Khuê lại không có được cái chí như Nguyễn Khuyến. Không cáo quan về làng, Dương Khuê tiếp tục làm quan cho triều đình tay sai thực dân cho đến tận lúc qua đời ở tuổi 64 (1902).

Tuy vậy, nói thế là để nhìn rõ hết mọi chuyện. Người Việt Nam ta vẫn có câu: nghĩa tử là nghĩa tận. Cái chết đột ngột của Dương Khuê đã thật sự li: một nỗi đau cho Nguyễn Khuyến. Lúc ấy, quên hết mọi điều, ông chỉ còn biết một điều duy nhất: ông đã mất một người bạn thân, mất một nguồn tình cảm quí giá không thế lấy gì thay thế được. Lúc ấy, tự đáy lòng, từ nột tình bạn mà hình như chính ông cũng không thể đo lường hết chiều sâu, Nguyễn Khuyến đã chợt kêu lên những tiếng kêu thảng thốt:

Bác Dương thôi đã, thôi rồi,

Nước mây man mác, ngậm ngùi lòng ta.

Hầu như không có một chút vãn chương chữ nghĩa nào trong hai dòng thơ trên, đặc biệt là dòng thơ thứ nhất. Chỉ có nỗi đau, nỗi đau chân thành, trọn vẹn, tự mình thể hiện ra thành lời. Hai tiếng “thôi” dân dã và tự nhiên, cứ như bật lên từ lời nói của một người dân quê bình dị nào đó. Đặt câu thơ này vào trong hoàn cảnh xã hội mà sự “cao nhã“ luôn luôn được coi là một yêu cầu hàng đầu của văn chương, ta càng thấy ở đây sự chân được nhà thơ coi trọng đến chừng nào. Nói đến cái chết, ông không dám động đến từ “chết”. Trời đất cao dày ơi lẽ nào chuyện ấy đã đến thật rồi sao? “Thôi đã... thôi rồi”! Thế là hết! Thật thế rồi! Một kẻ quyền quí ngày xưa khi lỡ tay làm rơi mất viên ngọc lưu li độc nhất vô nhị trong thiên hạ, có lẽ cũng chỉ kêu lên đau đớn đến như thế là cùng. Không đau nỗi đau thật, làm sao có thể khóc một tiếng khóc thật như thế được.

Có điều là, với nỗi đau, Nguyễn Khuyến không thét lên, tiếng khóc của ng là khóc với mình, khóc cho tự mình nghe, tiếng khóc lắng vào lòng. Tâm hồn vốn giản dị, ông chúa ghét sự ồn ào. Lúc này ông muốn ngồi một mình, đối diện với bạn, cùng nhắc lại tình bạn, cùng bạn ôn lại những gì đã từng có giữa hai người. Đã có bao nhiêu là kỉ niệm. Từ những ngày tường đã rất xa xôi:

Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước,

Những sớm hôm tôi bác cùng nhau,

Kính yêu từ trước đến sau,

Trong khi gặp gỡ biết đâu duyên trời

Đó là kỉ niệm khi hai người vừa mới lần đầu gặp nhau trong khoa thi Hương và cùng thi đỗ. Nguyễn Khuyến quê ở Bình Lục, Hà Nam, Dương Khuê quê ở Vân Đình, Hà Đông, hai người vốn chẳng quen biết gì nhau. Thế mà, cứ như duyên trời định sẵn, tình bạn đã bắt đầu gắn bó từ đây. Chữ nghĩa của Nguyễn Khuyến sao mà bình dị đến thế, nôm na, thân mật đến thế! Nào là “lúc sớm hôm”, rồi là "tôi bác", với những “cùng nhau”... Nhà thơ cũng xác định cái nhìn đầu tiên của mình về người bạn: đó là lòng kính yêu trọn vẹn, “kính yêu từ trước đến sau".

Cùng với giọng kể lể chân thành như thế, nhà thơ nhắc lại với bạn về những kỉ niệm khác:

Cũng có lúc chơi nơi dặm khách,

Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo,

Có khi từng gác cheo leo,

Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang.

Kỉ niệm giừa đôi bạn như thế quả là rất nhiều, rất đậm. Họ đã từng cùng trải qua những giờ phút thú vị, chứng tỏ họ là những người bạn ý hợp tâm đầu, có tâm hồn biết thưởng thức và chia sẻ những niềm vui thanh cao của kẻ tao nhân mặc khách. Nhắc lại những kỉ niệm đó, tâm hồn nhà thư như còn rung cảm vì tiếng suối “róc rách lưng đèo” nơi “dặm khách” xa xôi. Nhà thơ như cùng đang sống lại với những cảm giác thích thú “nơi từng gác cheo leo”, lắng nghe tiếng đàn, tiếng hát của các đào nương. Có người sẽ hỏi: nhà thơ Nguyễn Khuyến mà cũng đi hát ả đào sao? Thi có gì đâu mà nhà thơ không đi hát ả đào! Hát ả đào là một thú vui trong xá hội phong kiến. Có lúc thú vui này bị người ta lợi dụng (thì trên đời thiếu gì điều tốt đẹp bị người ta lợi dụng). Tuy vậy, đối với đa số nhà Nho, đó lại là nơi để thưởng thức cái đẹp của lời ca, tiếng hát, tiếng đàn, cũng là nơi di dưỡng tâm hồn sau những tháng ngày gò mình trong khuôn khổ của chốn công danh, vốn được sáng tác để cho các đào nương hát lên đó sao? Nguyễn Khuyến không có những bài thơ như vậy, nhưng rõ ràng là ông đã không thể quên “thứ vui con hát”, bởi đó là thú vui được “lựa chiều cầm xoang”, trải lòng mình theo tiếng đàn, tiếng hát.

Là đôi bạn đến với nhau, thân nhau vì lòng mến mộ lẫn nhau, tình bạn giữa Nguyễn Khuyến và Dương Khuê thật là chỗ tri âm tri kỉ, “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”:

Cũng có lúc rượu ngon cùng nhấp,

Chén quỳnh tương ăm áp bầu xuân,

Có khi bàn soạn câu văn,

Biết bao đông bích, điển phần trước sau.

Nói về việc cùng bạn uống rượu mà nhà thơ dùng từ "nháp”, lại “cùng nháp” thì thật chính xác và tinh tế, bởi đây là việc uống rượu của người “uống cho vui”, chứ không phải kiểu uống của các bợm rượu. Nhà thơ có lần đã tự nói về khả năng uống rượu của mình:

Rượu tiếng rằng hay, hay chả mấy

Độ năm ba chén đã say nhè.

(Thu ẩm)

Chén các cụ dùng uống rượu ngày xưa là loại chén rất nhỏ, thường được gọi là “chén hạt mít”. Nói “nhấp” tức là uống từng hớp nhỏ, như chỉ vừa chạm môi vào, vừa uống vừa ngẫm nghĩ, vừa uống vừa thưởng thức cái vị đậm, cái mùi thơm của rượu. Rượu uống chỉ như thế nhưng lại “ăm áp bầu xuân”. Bầu xuân này là bầu rượu và cũng là “bầu thơ“, bầu rượu đầy cho bầu thơ càng thêm lai láng. Hai tiếng “ăm ắp” mà nhà thơ dành cho bầu xuân” thật gợi cảm và sảng khoái. ‘‘Người thanh cái tiếng cũng thanh”, đến cách chơi cũng cho ta biết được bản chất con người, không phải bất kì ai cũng có được cái “rượu ngon cùng nhấp” ấy, nhất là cái căm nhận “ăm áp bầu xuân” ấy.

Thật là những ngày vui. Nhưng cũng có những ngày buồn, rất buồn. Đó là những ngày nước mất. Là nhà Nho, cùng phụng sự cho một triều đại, đôi bạn cùng chung chia sẻ nỗi đau của thời đại mình:

Buổi dương cửu cùng nhau hoạn nạn

Phận đấu thăng chẳng dám than trời

Bác già, tôi cũng già rồi

Biết thôi thôi thế thì thôi mới là!

Những câu thơ của Nguyễn Khuyến đọc lên nghe thật buồn bã, ngao ngán. Nói “buổi dương cửu” để chỉ thời kì loạn lạc khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhà thơ coi đó như là một vận hạn mà đất nước và con người phải trải qua. Không làm gì được trước vận hạn ấy, nhà thơ chỉ còn một cách lựa chọn là rời bỏ công danh, chẳng còn dám tham cái lộc trời “thăng đấu” của kẻ làm quan. Nhà thơ nói như một kẻ an phận mà nghe ra thật đau đớn. Ông cảm thấy mình bất lực, cảm thấy mình đã già. Đặc biệt câu thơ cuối đoạn, có đến ba từ "thôi” trùng diệp, khác nghĩa nhau mà như cùng một nghĩa, bổ sung cho nhau, tạo ra ấn tượng về một tâm trạng cam chịu thật nặng nề: Biết thôi- thôi - thế thì thôi. Đúng là tâm trạng của nhà thơ khi cáo quan về làng và cho đến cả những năm sau này: đau buồn trước cảnh nước mất nhưng không có thể làm gì cho đất nước ngoài việc từ quan để khỏi làm việc cho kẻ thù.

Qua 16 dòng thơ, Nguyễn Khuyến đã nhắc lại một cách cô đọng và đầy đủ về mối quan hệ bạn bè giữa đôi bạn Nguyễn Khuyến - Dương Khuê, đặc hiệt là độ sâu, độ bền của tình bạn đó. Những kỉ niệm đã được nhà thơ nói tới mọt cách giản dị nhưng đầy trân trọng. Nhắc lại những kỉ niệm ấy, ôn lại và ngẫm nghĩ về tình bạn ấy, nhà thơ cảm thấy nỗi đau mà mình phải chịu hôm nay thật là một điều vô lí. Ông chưa bao giờ hình dung ra sự mất mát có thể xảy đến vào lúc này. Nhà thơ nhớ lại:

Muốn đi lại tuổi già thêm nhác

Trước ba năm gặp bác một lần

Cầm tay hỏi hết xa gần

Mừng rằng bác hãy tinh thần chưa can.

Xét về rnặt văn chương, bốn dòng thơ trên không phải là những câu thơ thật mới lạ sắc sảo, bởi những câu thơ ấy sao mà nôm na bình thường, nào la “tuổi già thèm nhác”, rồi lại “hỏi hết xa gần”, với lại “tinh thần chưa can”, cứ như lời lẽ cua một ông lão quê mùa nào đó ở vùng đất Hà Nam. Thì đúng vậv, Nguyễn Khuyến có làm văn chương đâu, ông chỉ bộc lộ nỗi niềm của mình! Nhà thơ còn tự mình lí sự với mình:

Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác

Tôi lại đau trước bác mấy ngày

Làm sao bác vội về ngay

Chợt nghe, tôi bỗng chân tay rụng rời!

Chỉ khi người ta đau đớn thật lòng, người ta mới có kiểu lí sự như vậy. Như thế có khác gì nói rằng: tại sao bác lại chết trước tôi nhỉ? Người chêt trước lẽ ra phải là tôi chứ? Chính từ những lí sự này, mấy tiếng cuối cùng của đoạn thơ nổi lên thật chân thành và ai oán:

Chợt nghe, tôi bỗng chân tay rụng rời!

Trước nỗi đau dã là sự thật, nhà thơ đành chấp nhận nồi đau và càng thấy điều này là thật vô lí:

Ai chẳng biết chán đời là phải

Vội vàng chi đã mải lên tiên

Rượu ngon không có bạn hiền

Không mua không phải không tiền không mua.

Cái chết là một quy luật không ai có thể phủ nhận được. Tuy vậy, trong trường hợp này, Nguyễn Khuyến vẫn tìm thấy sự vô lí: cái chết của người bạn đã đến một cách vội vã quá, nó cướp mất của ông một người bạn hiền và như thế, cũng cướp mất của ông tất cả mọi niềm vui. Câu thơ của ông nói về trường hợp riêng của mình, nghe thật giản dị mà vang lên nhơ một chân lí về tình bạn đích thực ở đời:

Rượu ngon không có bạn hiền

Không mua không phải không tiền không mua

Trong hai dòng thơ, từ “không” xuất hiện đến năm lần như những cái lắc đầu buồn bã.

Không còn bạn, không còn thiết uống rượu, bởi không còn người để chia sẻ vị ngon của rượu. Không còn bạn, khóng còn hứng thú làm thơ, bởi vì sao?

Câu thơ nghĩ đắn đo muốn viết

Viết đưa ai, ai biết mà đưa?

Lắc đầu bằng những tiếng “không”, đến đây nhà thơ tiếp tục lắc đầu bằng những câu hỏi. Hỏi cũng là để nói “không”. Thơ viết ra mà không có người thưởng thúức được, cảm thông được, thì còn viết làm gì? Âm “iết” láy đi láy lại trong hai dòng thơ,rồi hai tiếng “ai”, hai tiếng “đưa” trung điệp (đưa ai - ai biết - mà đưa” cứ mở ra, khép lại, rồi lại mở ra, như một nỗi day dứt khôn nguôi.

Nhà thơ nghĩ đến những mối tình bạn mà sách vở xưa kia đã từng ca ngợi, coi nhơ tuyệt đỉnh của tình bạn: Trần Phồn đời Hậu Hán sau khi bạn ra về thì treo giường lên, không để cho ai ngồi vào cái giường chỉ dành riêng để tiếp bạn; Bá Nha sau khi Chung Tử Kì chết thì quyết bỏ không chơi đàn bởi thấy không còn ai hiểu được tiếng đàn. Ông thay mối tình giữa ông với Dương Khuê chính là một tình bạn như thế; sự mất mát của ông sau cái chết của Dương Khuê đúng là sự mất mát như thế:

Giường kia treo cũng hững hờ

Đàn kia gẩy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn

Có thể lấy gì để bù đắp vào sự mất mát này không? Nhà thơ đã khẳng định rằng không. Chỉ còn một cách, như người ta vẫn thưừng làm, là tìm cho mình một cách an ủi. Rằng người chết không còn có thể sống lại được, rằng nước mắt xót thương cũng sẽ chàng giúp được gì... Nguyễn Khuyến muốn dùng cái lẽ thường ấy của đời sống để tự an ủi mình:

Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở

Tôi tuy thương lấy nhớ làm thương

Nhà thơ còn tự khuyên bảo mình:

Tuổi già hạt lệ như sương

Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan!

Nhà thơ khuyên mình không nên khóc, bởi tuổi già còn ít nước mắt lắm, chỉ như những hạt sương mong manh thôi, làm sao có thể ép cho nước mắt tuôn chảy thành hai hàng chứa chan được. Nhưng nói như thế là nói lí. Tự nhà thơ vẫn hiểu rằng không thể “lấy nhớ làm thương” được, và càng hiểu ràng hai hàng nước mắt chứa chan của ông lúc này đâu phải do ông “ép lấy”. Mỗi chữ trong thơ ông đều đẫm đầy nước mắt, những hạt lệ từ một nỗi đau lớn, từ một tình bạn lớn.

Có thể khẳng định rằng trong thơ Việt Nam đã có rất nhiều bài thơ hay thể hiện tình cảm đẹp đẽ chân thành, nhưng cả cho đến nay, chưa có bài thơ nào nói về tình bạn có thể sánh bằng bài thơ Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến. Cái hay ấy trước hết xuất phát từ một tình bạn đẹp và chân thành của một tâm hồn cao thượng. Cái hay ấy còn là cái hay của một nghệ thuật diễn đạt, một ngôn ngữ diễn đạt gian dị, tự nhiên,đầy tính dân tộc, hoàn toàn phù hợp với nội dung tình cảm mà bài thơ cần diễn đạt.

Nghị luận phân tích Khóc Dương Khuê - mẫu 5

Nguyễn Khuyến (1835-1909) – “tam nguyên Yên Đổ”, nhà lớn thơ của nền văn học Việt Nam cận đại – với bút pháp tinh tế, đậm chất dân tộc, thường gửi niềm đam mê u sầu trước thời cuộc thực dân nửa phong kiến qua những câu thơ lục bát gần mà sâu lắng. Bài thơ Khóc Dương Khuê, sáng tác năm 1885, là khúc ai tình bi thiết kế dành cho người bạn tri kỷ Dương Khuê – vị án sát Bắc Ninh tài đức hoàn toàn, chiến mã qua đời vì sốt rét chỉ sau vài ngày tinh thần. Không chỉ là tiếng viết cá nhân, tác phẩm còn khắc họa bức tranh tình bạn tri âm tri kỷ, nỗi đau tuổi già cô đơn và bi kịch của bậc chí sĩ trong xã hội mục ruỗng, khẳng định giá trị nhân văn sâu sắc của thơ ca Nguyễn Khuyến.

Bài thơ mở đầu bằng tiếng thở dài giảm đau xa, ngâm nén:

“Bác Dương đã thôi rồi,

Nước mây man đứng yên lòng ta.”

Điệp cấu trúc "thôi đã thôi rồi" – nhịp điệu lục bát đặc biệt với thanh bằng trầm bổng – tạo cảm giác chấp nhận bất động trước quyết định tỉnh ngã, hòa hòa với không gian "nước mây man nhu" bướm mang, đệm đau vũ trụ bao la. Từ đây, dòng hồi tưởng tuôn chảy như dòng sông cảm xúc, xem lại hành trình tình bạn từ thuở "đăng khoa ngày trước":

“Nhớ từ mở thư hôm nay ngày trước,

Vẫn sớm tôi bác cùng nhau;

... Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp,

Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân.”

Những hình ảnh đời thường mà thơ mộng – “tiếng róc eo eo đeo”, “con hát chiều cầm xoang”, “bàn chỉnh câu văn” với “đông hoàng, điển phần” – không chỉ tái hiện kỷ niệm chân thực mà còn khắc họa tình bạn tri âm: kính yêu "duyên trời", cùng chia sẻ thú vui tao nhã giữa "dặm khách cheo leo". Nghệ thuật liệt kê liên hoàn, nhịp thơ dũng cảm tạo chiều sâu cảm xúc xúc động, nỗi đau hiện tại thành dòng bất tận của ký ức, nhấn mạnh gắn bó keo sơn giữa hai tâm hồn tâm hồn đồng điệu.

Ở phần giữa, Nguyễn Khuyến Khuyến đau khổ lên cao bằng lời yêu thương pha trộn bi quan:

“Ngày dương cửu cùng nhau hoạn nạn,

Phận đẩu thăng bối tham trời;

...Làm sao bạc về ngay,

Chợt nghe, tôi chim chân tay rừng lá.”

"Dương cửu cùng hoạn nạn" tip tình anh em chí cốt, cùng chịu "phận đẩu thăng nghèo khó giữa trường gió tanh mưa máu, "phượt tham trời" khẳng định sản phẩm chất liêm khiết, bất khuất. Lời vô địch "sao vàng đã say lên tiên" không phải oán trách bạn mà là tiếng kêu xin lỗi xa trước sự vô thường của kiếp người, đặc biệt trong "đời loạn" thực dân chiến lược.

Triết lý nhân sinh được gửi cuối cùng:

“Ai tàn biết chán đời là phải,

Rượu ngon không có bạn hiền,

Không mua không phải tiền không mua.”

Câu thơ đối "không mua không phải không tiền không mua" – chơi chữ tài tình – nhấn mạnh giá trị tình bạn vượt qua vật chất, đồng thời phản ánh nỗi buồn chán chường trước xã hội bạc bẽo, nơi cấp tài đức như Dương Khuê bị kiệt sức.

Cuối cùng là đỉnh điểm u hoài, với hình ảnh biểu tượng giàu sức lực:

“Câu thơ thầm nghĩ đo không viết,

... tiền kia treo cũng sẵn sàng,

Đàn kia gảy cũng đi lang thang trong đàn.

Tuổi già hạt như sương,

hơi đâu chuốc lấy hai hàng chứa chan!”

"Đàn treo, thơ không viết, giường ngoan ngoãn" biểu tượng trưng cho thỏ con, tê liệt của tâm hồn sau mất mát; "hạt lệ như sương" – ẩn dụ tinh tế về nước mắt tuổi già mong manh, dễ tan. Lời tự động an ủi "lấy nhớ làm thương" có thể hiện cường cường bi tráng: không khóc òa để tránh "chuốc lấy hàng chứa chan", mà biến nỗi đau thành nỗi nhớ bất an toàn. Qua đó, Nguyễn Khuyến không chỉ bày tỏ nỗi lo cô đơn cá nhân mà còn bí quyết bi kịch của lớp học phu yêu nước: tài hoa bạc mệnh, tuổi già lủi thủi giữa thời thế rối ren.

Khóc Dương Khuê – kiệt tác lục bát của Nguyễn Khuyến – là bản giao hưởng bi ai về tình bạn tri âm, sạch lý nhân sinh và nỗi u hoài thời đại. Với nghệ thuật ngôn từ đời thường mà bạch mã, hình ảnh giàu sức lực, nhịp điệu da diết xen đối ngẫu tài tình, bài thơ vượt lên giá trị thương thân để thành tiếng kêu nhân thế, khẳng định vẻ đẹp tâm hồn Việt Nam bất khuất. Tác phẩm không chỉ làm phong phú kho tàng thơ ca dân tộc mà còn khơi dậy ở thế hệ trẻ niềm trân trọng tình người, khát sống chân thực giữa cuộc đời đầy biến cố.

Nghị luận phân tích Khóc Dương Khuê - mẫu 6

Trong dòng chảy của văn học trung đại Việt Nam, nếu Nguyễn Du dùng thơ để khóc cho những thân phận "tài hoa bạc mệnh", thì Nguyễn Khuyến lại dành những vần điệu tha thiết nhất để khóc cho một tình bạn vĩnh cửu. "Khóc Dương Khuê" không chỉ đơn thuần là một bài văn tế bạn, mà nó đã trở thành một kiệt tác về tình tri kỷ, nơi những giọt nước mắt của bậc đại nho không rơi lã chã mà lặn sâu vào lòng, tạo nên một nỗi đau "man mác" nhưng nhức nhối khôn nguôi.

Mở đầu bài thơ, Nguyễn Khuyến không dùng những từ ngữ đao to búa lớn. Ông chọn thể thơ Song thất lục bát – điệu thơ của những khúc ngâm, của nỗi sầu bi vương vấn – để cất lời:

"Bác Dương thôi đã thôi rồi,

Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta."

Cụm từ "thôi đã thôi rồi" vang lên như một tiếng thở dài bất lực. Cách nói giảm nói tránh về cái chết không làm nỗi đau nhẹ đi mà trái lại, nó nhấn mạnh sự bàng hoàng. Một sự thật phũ phàng đã xảy ra, và cái chết ấy khiến cả không gian "nước mây" cũng trở nên nhuốm màu tang tóc. Chữ "man mác" gợi lên một nỗi buồn không biên giới, lan tỏa từ tâm hồn con người ra đến tận cùng trời cuối đất.

Để đối diện với nỗi mất mát quá lớn, nhà thơ tìm về miền ký ức. Những kỷ niệm hiện lên không theo một trật tự thời gian khắt khe mà theo mạch cảm xúc tuôn trào. Đó là một tình bạn toàn vẹn, đi qua mọi cung bậc của cuộc đời:

Từ thuở thanh xuân cùng nhau đèn sách, thi cử:

"Nhớ từ thưở đăng khoa ngày trước,

Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau;"

Đến những thú vui tao nhã, phong lưu của những bậc trí giả:

"Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp,

Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân.

Có khi bàn soạn câu văn,

Biết bao đông bích, điển phần trước sau."

Tình bạn ấy không chỉ dừng lại ở chén rượu, câu thơ mà còn được thử thách qua dâu bể cuộc đời. Hình ảnh "buổi dương cửu" (thời kỳ loạn lạc) và "phận đẩu thăng" (chức quan nhỏ mọn) cho thấy hai tâm hồn ấy đã cùng chung vai sát cánh trong những giai đoạn khó khăn nhất của đất nước. Họ không chỉ là bạn chơi, mà là bạn đạo, bạn đời, những người cùng giữ lấy cốt cách thanh cao giữa buổi giao thời hỗn loạn.

Cái hay và cái đau nhất của bài thơ nằm ở phần cuối, khi Nguyễn Khuyến nhận ra sự trống trải tuyệt đối sau sự ra đi của bạn. Ông nhắc đến những thói quen cũ, nhưng giờ đây mỗi thói quen đều trở thành một nhát dao cứa vào lòng:

"Rượu ngon không có bạn hiền,

Không mua không phải không tiền không mua."

Điệp từ "không" xuất hiện liên tiếp như một sự phủ nhận mọi giá trị vật chất khi thiếu vắng giá trị tinh thần. Rượu vẫn đó, tiền vẫn đó, nhưng "người" đã không còn. Tác giả vận dụng các điển tích về Trần Phồn (treo giường chờ bạn) và Bá Nha - Tử Kỳ (đập đàn vì mất tri âm) một cách tự nhiên đến mức người đọc không còn thấy đó là điển tích sách vở, mà là nỗi lòng thực tại:

"Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn."

Chữ "ngẩn ngơ" mới đắt giá làm sao! Tiếng đàn không mất đi, nhưng nó mất đi cái "thần", mất đi người thấu cảm, nên nó trở nên lạc lõng giữa cõi đời.

Kết thúc bài thơ là một sự dồn nén cảm xúc đến cực điểm. Nguyễn Khuyến viết:

"Tuổi già hạt lệ như sương,

Hơi đâu chuốc lấy hai hàng chứa chan!"

Đây là một hình ảnh so sánh đậm chất triết lý. Ở tuổi xế chiều, con người ta đã trải qua quá nhiều mất mát đến mức nước mắt như cạn kiệt, chỉ còn nhạt nhòa như màn sương. Nhưng thực chất, đó là cái đau lặn vào trong xương tủy. Không "chứa chan" hàng lệ không phải vì không thương, mà vì nỗi đau đã vượt quá giới hạn của sự biểu đạt bằng nước mắt.

"Khóc Dương Khuê" là một bản cáo lỗi chân thành, một nén tâm hương mà Nguyễn Khuyến thắp cho bạn và cũng là cho chính mình. Bằng ngôn ngữ tinh tế, điêu luyện và một trái tim nhân hậu, nhà thơ đã tạc nên một tượng đài tình bạn bất tử. Bài thơ nhắc nhở chúng ta rằng: giữa dòng đời vạn biến, tìm được một người tri kỷ là một duyên may lớn nhất, và mất đi một người tri kỷ chính là mất đi một phần linh hồn của chính mình.

Nghị luận phân tích Khóc Dương Khuê - mẫu 7

Trong văn chương trung đại, tình bạn thường được khuôn đúc qua những điển tích ước lệ. Thế nhưng, đến với "Khóc Dương Khuê" của Yên Đổ Nguyễn Khuyến, ta không chỉ thấy những cái bắt tay của hai bậc đại khoa, mà còn thấy những nhịp đập thổn thức của một trái tim tri kỷ. Bài thơ là sự giao thoa tuyệt vời giữa cái cao cả của lý tưởng và cái gần gũi của đời thường, giữa nỗi đau cá nhân và bi kịch của một thế hệ nhà nho mất nước.

Ngay từ những dòng thơ đầu tiên, Nguyễn Khuyến đã sử dụng thể thơ Song thất lục bát với nhịp điệu trắc - bằng đan xen như bước chân ngập ngừng, đau đớn:

"Bác Dương thôi đã thôi rồi,

Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta."

Chữ "thôi" lặp lại hai lần như một sự xác nhận nghiệt ngã của số phận. Nó không chỉ là cái chết của một con người, mà là sự khép lại của một kỷ nguyên, một tình bạn. Hình ảnh "nước mây man mác" không còn là thiên nhiên thuần túy mà đã trở thành "ngoại giới hóa" tâm trạng. Nỗi đau không bó hẹp trong gian nhà, góc vườn mà lan ra tận chân trời góc bể, làm tê liệt cả không gian.

Nhà thơ dẫn dắt người đọc đi vào mê lộ của ký ức. Điểm đặc biệt của bài thơ là cách Nguyễn Khuyến liệt kê những kỷ niệm không theo lối kể lể tầm thường mà theo lối điểm xuyết linh hồn:

"Nhớ từ thưở đăng khoa ngày trước,

Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau;"

Tình bạn ấy bắt đầu từ ánh sáng của bảng vàng đại khoa, nhưng lại bền chặt qua những thú vui trần thế nhất:

"Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp,

Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân.

Có khi bàn soạn câu văn,

Biết bao đông bích, điển phần trước sau."

Những hình ảnh như "chén quỳnh tương", "bầu xuân" gợi lên một sự đủ đầy, viên mãn. Nhưng đằng sau sự phong lưu ấy là một nỗi niềm thời thế. Họ đã cùng nhau trải qua buổi "dương cửu" (loạn lạc) – cái thời mà những giá trị cũ bị đảo lộn. Tình bạn của họ chính là điểm tựa tinh thần duy nhất để giữ vững cái "phận đẩu thăng" (chức quan nhỏ) giữa một xã hội đầy rẫy sự băng hoại.

Phần xúc động nhất của bài thơ chính là đoạn tác giả diễn tả cảm giác của người "bị để lại" ở cõi trần. Khi tin dữ đến, nó không phải là tiếng khóc gào mà là một sự chấn động về vật chất:

"Chợt nghe, tôi bỗng chân tay rụng rời."

Chữ "rụng rời" cho thấy cái chết của bạn đã tước đi sinh lực của người sống. Và rồi, nhà thơ rơi vào một sự trống rỗng đến tận cùng. Những câu thơ về rượu và bạn đã trở thành kinh điển trong văn học Việt Nam:

"Rượu ngon không có bạn hiền,

Không mua không phải không tiền không mua.

Câu thơ nghĩ đắn đo không viết,

Viết đưa ai, ai biết mà đưa."

Ở đây, "biết" không chỉ là biết đọc, mà là biết lòng. Sự ra đi của Dương Khuê đã mang theo cái chìa khóa mở tâm hồn của Nguyễn Khuyến. Từ đây, thơ không cần viết, rượu không cần mua, đàn không cần gảy. Mọi phương thức giao tiếp với thế giới đều bị triệt tiêu vì thiếu vắng người thấu cảm.

Kết thúc bài thơ, Nguyễn Khuyến không chọn một kết thúc bi lụy, mà chọn một kết thúc tĩnh lặng đến đáng sợ:

"Tuổi già hạt lệ như sương,

Hơi đâu chuốc lấy hai hàng chứa chan!"

Hình ảnh "hạt lệ như sương" là một ẩn dụ tuyệt đẹp. Sương thì mỏng manh, sương dễ tan, nhưng sương lại lạnh buốt và thấm sâu. Nỗi đau của người già không cuộn dâng thành sóng, nó chỉ lặng lẽ thấm vào lòng như sương đêm thấm vào đất đá. Cách nói "hơi đâu chuốc lấy" dường như là sự dửng dưng, nhưng thực chất là sự kìm nén cực độ của một bậc trượng phu không muốn để nỗi đau làm yếu mềm ý chí.

Bài thơ là sự kết hợp hoàn hảo giữa điển tích (Trần Phồn, Bá Nha) và ngôn ngữ thuần Việt. Nguyễn Khuyến đã nâng tầm một bài điếu văn cá nhân thành một bản anh hùng ca về tình bạn. Qua đó, ta thấy được chân dung một cụ Tam Nguyên Yên Đổ không chỉ tài hoa mà còn nặng tình, nặng nghĩa, một nhân cách lớn soi bóng xuống mặt hồ tĩnh lặng của lịch sử.

Nghị luận phân tích Khóc Dương Khuê - mẫu 8

Bài thơ “Khóc Dương Khuê” của Nguyễn Khuyến là một trong những đỉnh cao của thơ văn trung đại Việt Nam khi viết về tình bạn tri kỷ. Không chỉ dừng lại ở nỗi đau mất bạn, tác phẩm còn là sự kết tinh của nhân cách, thời thế và chiều sâu tâm hồn của một nhà nho cuối thế kỷ XIX.

Mở đầu bài thơ là tiếng kêu đầy bàng hoàng, đau đớn:

“Bác Dương thôi đã thôi rồi,

Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.”

Cách nói “thôi đã thôi rồi” tưởng chừng giản dị nhưng lại mang sức nặng của một lời khẳng định dứt khoát: cái chết là không thể đảo ngược. Điệp từ “thôi” vang lên như một tiếng nấc nghẹn, vừa bất lực vừa xót xa. Không gian “nước mây man mác” không chỉ là cảnh vật mà còn là sự ngoại hiện của tâm trạng — một nỗi buồn lan tỏa, mênh mang, không bờ bến. Ngay từ những câu đầu, Nguyễn Khuyến đã đặt người đọc vào trạng thái cảm xúc trĩu nặng: nỗi đau không ồn ào mà thấm sâu, lan rộng.

Từ hiện tại đau thương, nhà thơ quay về quá khứ để hồi tưởng một đời gắn bó. Những kỷ niệm hiện lên qua phép liệt kê dày đặc: từ “thưở đăng khoa ngày trước” đến những chuyến du ngoạn “tiếng suối nghe róc rách lưng đèo”, rồi những thú vui tao nhã như “rượu ngon cùng nhắp”, “bàn soạn câu văn”. Điệp ngữ “cũng có lúc” lặp lại nhiều lần không chỉ tạo nhịp điệu mà còn gợi ra dòng hồi ức miên man, nối dài bất tận. Điều đáng chú ý là những kỷ niệm ấy không mang tính phi thường, mà rất đời thường, giản dị. Chính sự giản dị ấy lại làm nổi bật chiều sâu của tình bạn: đó là tình tri âm tri kỷ, gắn bó cả trong đời sống vật chất lẫn tinh thần, từ thú vui nghệ thuật đến lý tưởng sống.

Đặc biệt, tình bạn giữa Nguyễn Khuyến và Dương Khuê không chỉ được thử thách trong những ngày thanh nhàn mà còn được hun đúc trong hoạn nạn:

“Buổi dương cửu cùng nhau hoạn nạn,

Phận đẩu thăng chẳng dám tham trời.”

Hai câu thơ cho thấy phẩm chất của những nhà nho chân chính: không màng danh lợi, giữ trọn khí tiết trước thời cuộc rối ren. Chính sự đồng điệu về nhân cách và lý tưởng đã nâng tình bạn của họ lên tầm tri kỷ, điều hiếm hoi và đáng quý trong xã hội đương thời.

Nếu phần đầu là sự hồi tưởng đầy ắp kỷ niệm, thì từ giữa bài trở đi, giọng thơ chuyển dần sang nỗi đau hiện tại, một nỗi đau càng trở nên sâu sắc khi đặt trong bối cảnh tuổi già.

“Bác già, tôi cũng già rồi…”

Tuổi già vốn đã cô đơn, nay lại mất đi người bạn thân thiết, nỗi trống vắng càng nhân lên gấp bội. Nguyễn Khuyến không chỉ khóc bạn mà còn như đang đối diện với chính sự hữu hạn của đời mình. Cái chết của bạn trở thành lời nhắc nhở nghiệt ngã về quy luật sinh tử, khiến nỗi đau mang màu sắc triết lý.

Đỉnh cao của cảm xúc là những câu thơ đầy ám ảnh:

“Rượu ngon không có bạn hiền,

Không mua không phải không tiền không mua.”

Ở đây, nhà thơ sử dụng lối nói phủ định để khẳng định: không phải vì thiếu điều kiện vật chất, mà vì thiếu người tri kỷ nên mọi thú vui đều trở nên vô nghĩa. Câu thơ tưởng như nói chuyện uống rượu, nhưng thực chất là lời than về sự mất mát tinh thần không gì bù đắp được. Đây chính là biểu hiện sâu sắc của bi kịch “tri âm nan ngộ” — một người hiểu mình đã mất đi vĩnh viễn.

Nỗi cô đơn ấy còn được đẩy lên cao hơn khi nhà thơ ý thức về sự bất lực của chính mình trong sáng tạo nghệ thuật:

“Câu thơ nghĩ đắn đo không viết,

Viết đưa ai, ai biết mà đưa.”

Thơ vốn là nơi gửi gắm tâm sự, nhưng giờ đây lại trở nên vô nghĩa vì không còn người thấu hiểu. Cây đàn cũng “ngẩn ngơ tiếng đàn”, giường treo cũng “hững hờ” — tất cả đều mất đi linh hồn. Nghệ thuật, vốn là niềm vui, nay trở thành biểu tượng của sự trống trải. Đây là một tầng ý nghĩa sâu sắc: mất bạn tri kỷ đồng nghĩa với việc mất đi một phần ý nghĩa của cuộc sống.

Kết thúc bài thơ, Nguyễn Khuyến không để nỗi đau bùng nổ mà lắng lại trong một âm hưởng trầm buồn:

“Tuổi già hạt lệ như sương,

Hơi đâu chuốc lấy hai hàng chứa chan!”

Giọt lệ “như sương” gợi sự nhẹ nhàng, kín đáo nhưng lại thấm lâu. Nhà thơ không khóc dữ dội, bởi nỗi đau đã ngấm sâu vào tâm can. Đây chính là nét đặc sắc trong phong cách Nguyễn Khuyến: cảm xúc chân thành nhưng được biểu hiện một cách tiết chế, tinh tế.

Xét về nghệ thuật, bài thơ thành công ở giọng điệu tự nhiên như lời tâm sự, kết hợp với các biện pháp như điệp ngữ, liệt kê và ngôn ngữ đời thường. Chính sự giản dị ấy lại tạo nên sức lay động mạnh mẽ, bởi nó xuất phát từ tình cảm chân thực. Đồng thời, bài thơ còn mang đậm dấu ấn của văn hóa Nho sĩ: coi trọng tình nghĩa, đề cao khí tiết và sự tri âm.

Tóm lại, “Khóc Dương Khuê” không chỉ là một bài thơ viếng bạn mà còn là bản ghi chép xúc động về một tình bạn tri kỷ hiếm có trong văn học Việt Nam. Qua đó, Nguyễn Khuyến đã thể hiện một cách sâu sắc nỗi cô đơn của con người trước cái chết, đồng thời khẳng định giá trị vĩnh cửu của tình nghĩa và sự đồng điệu tâm hồn. Bài thơ vì thế không chỉ lay động người đọc ở thời điểm ra đời mà còn vang vọng mãi về sau như một khúc bi ca đẹp đẽ và thấm thía.

Nghị luận phân tích Khóc Dương Khuê - mẫu 9

Con người có thể sống thiếu nhiều thứ, nhưng khó có thể sống trọn vẹn nếu thiếu đi một tri kỷ — người hiểu mình và đồng hành cùng mình trong những thăng trầm của cuộc đời. Khi tri kỷ ra đi, cái mất không chỉ là một con người mà còn là một phần tâm hồn. Điều đó được thể hiện sâu sắc trong “Khóc Dương Khuê” của Nguyễn Khuyến — bài thơ không chỉ là lời ai điếu mà còn là sự chiêm nghiệm về tình bạn và nỗi cô đơn của con người trước quy luật vô thường.

Ngay từ những câu mở đầu, cảm xúc đã bùng lên một cách trực tiếp và đầy ám ảnh:

“Bác Dương thôi đã thôi rồi…”

Câu thơ ngắn, nhịp gấp, điệp từ “thôi” lặp lại như một nhát cắt vào tâm can, vừa là lời báo tin, vừa là tiếng kêu nghẹn ngào. Nguyễn Khuyến không dùng những mỹ từ cầu kỳ mà chọn cách nói giản dị đến tận cùng, bởi chính sự giản dị ấy mới đủ sức chuyên chở một nỗi đau lớn. Câu thơ thứ hai mở ra một không gian “nước mây man mác” một không gian mờ nhòe, bảng lảng, như chính tâm trạng của nhà thơ lúc này: buồn nhưng không thể gọi tên, đau mà không thể giãi bày trọn vẹn.

Từ hiện thực mất mát, dòng hồi tưởng đưa nhà thơ trở về quá khứ nơi tình bạn hiện lên trọn vẹn và sống động. Những kỷ niệm không được kể theo trật tự thời gian mà tuôn chảy theo cảm xúc, khi thì là “thưở đăng khoa ngày trước”, khi lại là những buổi du ngoạn, lúc thưởng rượu, lúc làm thơ. Điệp ngữ “cũng có lúc” lặp đi lặp lại tạo nên một nhịp điệu vừa đều đặn vừa da diết, như từng lớp sóng ký ức dội về. Điều đặc biệt là tất cả những kỷ niệm ấy đều rất đời thường: nghe tiếng suối, lên đèo, uống rượu, làm thơ… nhưng chính sự bình dị ấy lại làm nổi bật một mối quan hệ sâu sắc — đó là tình bạn tri âm, nơi hai con người không chỉ gặp nhau trong hoàn cảnh mà còn gặp nhau trong tâm hồn.

Tình bạn giữa Nguyễn Khuyến và Dương Khuê càng trở nên đáng quý khi được thử thách qua những biến động của thời cuộc:

“Buổi dương cửu cùng nhau hoạn nạn…”

Trong bối cảnh xã hội rối ren, nhiều giá trị bị đảo lộn, họ vẫn giữ được sự thanh cao, không chạy theo danh lợi. Chính sự đồng điệu về nhân cách và lý tưởng đã khiến tình bạn của họ vượt lên trên mức thông thường, trở thành một mối tri kỷ hiếm có. Vì thế, sự ra đi của Dương Khuê không chỉ là mất một người bạn, mà là mất đi một người hiểu mình — một phần không thể thay thế của đời sống tinh thần.

Nếu như phần hồi tưởng càng đẹp bao nhiêu thì hiện thực mất mát lại càng đau bấy nhiêu. Nguyễn Khuyến ý thức sâu sắc về tuổi già của mình:

“Bác già, tôi cũng già rồi…”

Đây không còn là nỗi đau nhất thời mà là nỗi buồn mang tính hiện sinh. Ở tuổi xế chiều, con người ta vốn đã dễ cảm thấy cô đơn, nay lại mất đi tri kỷ, sự trống trải càng trở nên sâu sắc. Cái chết của bạn không chỉ khép lại một cuộc đời mà còn mở ra một khoảng trống không gì bù đắp được trong lòng người ở lại.

Nỗi đau ấy được diễn tả một cách thấm thía qua những hình ảnh tưởng như rất đời thường:

“Rượu ngon không có bạn hiền…”

Rượu vẫn đó, tiền vẫn có, nhưng người uống cùng đã không còn. Câu thơ không chỉ nói về sự thiếu vắng mà còn hàm chứa một triết lý sâu xa: giá trị của cuộc sống không nằm ở vật chất mà ở sự đồng cảm, sẻ chia. Khi mất đi người tri kỷ, mọi thú vui đều trở nên vô nghĩa. Đây chính là bi kịch tinh thần lớn nhất mà Nguyễn Khuyến phải đối diện.

Không dừng lại ở đó, nhà thơ còn cảm nhận sự vô nghĩa của chính thơ ca — điều vốn là niềm an ủi lớn nhất của mình:

“Câu thơ nghĩ đắn đo không viết…”

Thơ viết ra mà không có người hiểu thì cũng trở nên vô ích. Cây đàn gảy lên mà không có người nghe thì cũng chỉ là âm thanh vô hồn. Những hình ảnh “giường kia”, “đàn kia” đều mang trạng thái “hững hờ”, “ngẩn ngơ”, như chính tâm trạng của nhà thơ. Đây là một bước chuyển rất sâu: từ nỗi đau cá nhân sang cảm giác mất mát ý nghĩa sống.

Đến cuối bài, cảm xúc lắng xuống thành một nỗi buồn thấm thía:

“Tuổi già hạt lệ như sương…”

Không còn những tiếng kêu đau đớn, không còn sự bàng hoàng ban đầu, chỉ còn lại những giọt lệ nhẹ như sương nhưng lại đọng lâu, thấm sâu. Nguyễn Khuyến không khóc lớn, bởi nỗi đau đã vượt qua giới hạn của nước mắt. Đó là nỗi buồn của sự từng trải, của một tâm hồn đã thấu hiểu quy luật vô thường của cuộc đời.

Về nghệ thuật, bài thơ đạt đến sự hoàn mỹ trong chính cái giản dị của nó. Ngôn ngữ gần gũi, tự nhiên như lời nói thường ngày nhưng lại chứa đựng chiều sâu cảm xúc lớn lao. Các biện pháp như điệp ngữ, liệt kê, đối lập được sử dụng linh hoạt, góp phần khắc họa rõ nét dòng cảm xúc từ bàng hoàng, hồi tưởng đến đau đớn và lắng đọng. Đặc biệt, giọng điệu tâm tình, chân thành đã tạo nên sức lay động mạnh mẽ, khiến người đọc như được chứng kiến trực tiếp nỗi đau của nhà thơ.

Có thể nói, “Khóc Dương Khuê” là một bản bi ca đẹp đẽ về tình bạn. Qua đó, Nguyễn Khuyến không chỉ khóc cho người bạn đã mất mà còn bộc lộ nỗi cô đơn sâu thẳm của chính mình. Bài thơ vượt lên trên hoàn cảnh cá nhân để chạm đến những giá trị phổ quát của con người: tình bạn, sự mất mát và ý nghĩa của sự đồng điệu tâm hồn. Chính vì thế, tác phẩm vẫn giữ nguyên sức sống và khả năng lay động qua nhiều thế hệ người đọc.

Xem thêm các bài Soạn văn 9 Kết nối tri thức hay nhất, ngắn gọn khác:

Xem thêm các tài liệu học tốt lớp 9 hay khác:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Loạt bài Soạn văn 9 Kết nối tri thức của chúng tôi được biên soạn bám sát nội dung sgk Ngữ văn 9 Tập 1 và Tập 2 (NXB Giáo dục).

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.


Giải bài tập lớp 9 Kết nối tri thức khác