Tổng hợp ca dao, tục ngữ theo vần C (đầy đủ nhất)
Tổng hợp ca dao, tục ngữ theo vần C đầy đủ, chi tiết nhất giúp bạn có thêm nguồn tài liệu tham khảo để phong phú thêm khả năng ngôn ngữ từ đó học tốt môn Tiếng Việt. Mời các bạn đón đọc:
- Ca dao tục ngữ về công bằng
- Ca dao tục ngữ về Cà Mau
- Ca dao tục ngữ về chiến tranh
- Ca dao tục ngữ về chiến tranh
- Ca dao tục ngữ về chiến tranh
- Ca dao tục ngữ về chiến tranh
- Ca dao tục ngữ về cuộc sống
- Ca dao tục ngữ về cội nguồn
- Ca dao tục ngữ về cá
- Ca dao tục ngữ về câu cá
- Ca dao tục ngữ về cà phê
- Ca dao tục ngữ về cây dừa
- Ca dao tục ngữ về cây lúa hạt gạo
- Ca dao tục ngữ về cây đa
- Ca dao tục ngữ về cây bàng
- Ca dao tục ngữ về cây thuốc nam
- Ca dao tục ngữ về con tằm
- Ca dao tục ngữ về con ngựa
- Ca dao tục ngữ về con người và thiên nhiên
- Ca dao tục ngữ về con trai và con gái
- Ca dao tục ngữ về con vật
- Ca dao tục ngữ về con rồng cháu tiên
- Ca dao tục ngữ về con ong
- Ca dao tục ngữ về công lao của thầy cô
- Ca dao tục ngữ về công cha nghĩa mẹ
- Ca dao tục ngữ về cơ hội
- Ca dao tục ngữ về cơm áo
- Ca dao tục ngữ về cơm
- Ca dao tục ngữ về cơn mưa
- Ca dao tục ngữ về cuộc sống khó khăn
- Ca dao tục ngữ về cuộc sống tích cực
- Ca dao tục ngữ về Củ Chi
- Ca dao tục ngữ về củ ấu
- Ca dao tục ngữ về cưới hỏi
- Ca dao tục ngữ về cười
Tổng hợp ca dao, tục ngữ theo vần C (đầy đủ nhất)
1. Ca dao tục ngữ về công bằng
1. Thương em anh để trong lòng,
Việc quan anh cứ phép công anh làm.
2. Bề trên ở chẳng kỷ cương,
Cho nên kẻ dưới lập đường mây mưa.
3. Khôn ngoan tính trọn mọi bề,
Chẳng cho ai lận, chẳng hề lận ai.
4. Công ai nấy nhớ, tội ai nấy chịu.
5. Quân pháp bất vị thân
6. Cây ngay bóng thẳng, cây cong bóng vẹo.
7. Ăn cho đều, tiêu cho sòng.
8. Tài thượng phân minh thị trượng phu.
9. Vay thì trả, chạm thì đền.
10. Tha kẻ gian, oan người ngay.
11. Bênh lí, không bênh thân.
12. Đã mưa thì mưa cho khắp.
13. Vợ chồng như đũa có đôi.
14. Ruộng sâu trâu nái
Trai gái đều hay
15. Tôi tớ xét công, vợ chồng xét nhân nghĩa.
2. Ca dao tục ngữ về Cà Mau
1. Cà Mau khỉ khọt trên bưng
Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp um.
2. Chèo ghe sợ sấu cắn chưng
Xuống sông sợ đĩa, lên rừng sợ ma.
3. Đến đây lạ xứ, lạ làng
Con chim kêu cũng sợ, con cá vẫy vùng cũng kinh”
4. Xứ đâu hơn xứ Cạnh Đền
Muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lội lềnh như bánh canh.
5. Má ơi đừng gả con xa
Chim kêu, vượn hú biết nhà má đâu.
6. Mẹ mong gả thiếp về vườn
Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh.
7. Rau đắng nấu với cá trê
Ai về đất Mũi thì "mê" không về!
8. Cà Mau hãy đến mà coi
Muỗi kêu như sáo thổi
Đĩa lội lềnh như bánh canh.
9. Cà Mau là xứ quê mùa
Muỗi bằng gà mái, cọp tùa bằng trâu.
10. Xứ đâu bằng xứ Lung Tràm
Chim kêu như hát bội cá lội vàng tợ mắm nêm.
11. Theo chồng về chốn bưng biền
Thấy bông điên điển nghiêng mình nhớ quê
Lấy chồng xa rất khó về
Hết mùa điên điển, đường quê còn dài.
12. Bao giờ hết đước Năm Căn
Ông Trang hết cá, Viên An hết rừng
Khai Long hết xác cá đường
Mũi Cà Mau đó ta nhường cho bây.
13. Rừng U Minh có tiếng muỗi nhiều
Sông Bến Hải tiêu điều nước non.
14. U Minh, Rạch Giá thị quá sơn trường
Dưới sông sấu lội trên rừng cọp đua.
15. Tháng bảy nước chảy Cà Mau
Tháng mười ba khía hội kéo nhau đi làm
U Minh, Rạch Gốc, rừng tràm
Muỗi kêu kệ muỗi tao ham ba khía rồi.
16. Rừng thiêng nước độc thú bầy
Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội đầy như bánh canh.
17. Bảy với ba tính ra một chục,
Tam tứ lục tính lại cửu chương
Liệu bề đáp đặng thì thương,
Đừng gầy rồi bỏ thế thường cười chê...
Lựu, lê, bình bát, mãng cầu,
Bốn cây tứ quý anh sầu một cây.
18. Rừng U Minh có nhiều củi lụt
Gái U Minh vừa hiền thục, vừa xinh
Đó với đây như bóng với hình
Nếu đó mà ưng thuận, đây xin trình song thân.
19. Tôi ở Cao Lãnh, tôi nghèo quá xá
Tôi chèo vô Cà Mau, Rạch Giá
Tôi mua ít giạ khoai lang
Tôi bán một giạ lời được một cắc
Tôi trở về thấy anh ngồi sòng tứ sắc
Thời tôi kể chắc ảnh thua rồi
Trời ơi, nhà nghèo con dăm bảy đứa
Gạo tôi kiếm từng nồi anh có biết không?
3. Ca dao tục ngữ về chiến tranh
1. Đời mạt kiếp sao anh không thấy
Phỉnh phờ anh nó nói giàu sang
Xui anh vào lính Tây bang
Để cho chúng nó ngủ an trên lầu
Anh ơi phú quý về đâu
Thân mình khổ cực bù đầu tóc xơ
Anh mau về lúc bây giờ
Ở nhà cha đợi mẹ chờ em trông.
2. Em ơi yêu tí đỡ buồn
Sau này thống nhất anh chuồn về quê.
3. Thằng Tây ăn ở nhiều lòng
Sớm hòa, tối đánh là phường xỏ xiên.
4. Phá cho bứt lộ thành mương
Phá cho cầu sập hết đường Tây đi.
5. Ví dầu ngày tháng thoi đưa
Bao năm chinh chiến anh chưa thấy về
Điểm tô son phấn em thề đợi anh.
6. Xa cha, gần giặc mặc dầu
Lòng son dạ sắt con nào dám quên.
7. Tiếng đồn du kích Tịnh Khê
Lính đi mất xác, quan về mất lon.
8. Năm tiền một quả đậu xanh
Một cân đường cát đưa anh xuống tàu
– Tàu về có thuở tàu qua
Xin em ở lại nguyệt hoa thì đừng.
9. Con nhà ai nho nhỏ mà to gan
Thấy người ta đi lính mộ cũng xuống Hàn kí tên
Về nhà con khóc vợ rên
Hương trên xã dưới bốn bên xì xèo
Vịn vai chàng nước mắt chảy xuôi
Ai làm nên nỗi đôi đứa tui thế này
Bước chân xuống bến tàu Tây
Chân tròi góc bể biết rày còn gặp không
Dậm chân đấm ngực kêu trời
Vợ chồng gần gũi chưa mấy năm trời lại xa
Xứ người đất lạ xông pha
Cái đời lính mộ khổ là biết bao.
10. Nghĩ tình tình những thêm thương
Đồng xanh ai khiến phải vương máu hồng
Bởi bầy xâm lược tàn hung
Bởi quân bán nước khom lưng cúi đầu.
11. Mỹ hơn Mỹ ở tới già
Mỹ thua Mỹ tặng mỗi nhà quả bom.
12. Cóc kêu ba tiếng thấu trời
Dân kêu kêu mãi mấy đời thấu ai
Của dân đem nộp quan xài
Hở môi quan đá, quan bạt tai, bỏ tù
Nhục hèn đã mấy mươi thu
Lẽ mô chịu câm chịu điếc chịu đui mù răng bà con
Còn trời còn nước còn non
Còn Tây ở lại dân ta còn đấu tranh.
13. Chim phượng hoàng bay ngang qua chợ
Kêu bớ bạn hàng trả nợ non sông.
14. Chim bay về xứ An Tân
Cho ta nhắn gửi người thân đôi lời
Buồn cho máu chảy thây rơi
Mà ai đó vẫn chơi bời gió trăng
Tiền ngàn vạn bỏ quán hàng
Ai đi đánh giặc cho chàng vui chơi
Đôi lời tạc dạ chim ơi
Nhắn giùm cho khách ăn chơi chốn này.
15. Chim bay về tổ từng bầy
Sao anh không liệu mà quay về cùng
Quay về phụng sự non sông
Bấy lâu lầm lẫn lấy công đền bù.
16. Chẳng thà con giết mẹ đi
Chẳng thà con chết từ khi lọt lòng
Ba năm bú mớm ẵm bồng
Mong con khôn lớn đền công sinh thành
Tưởng con tuổi trẻ đầu xanh
Nên cơ nên nghiệp rạng danh cửa nhà
Nghe lời lừa phỉnh dèm pha
Bỏ bê nhà cửa con ra ở đồn
Ở đời cay đắng gì hơn
Theo Tây cướp nước phụ ơn sinh thành
Súng Tây con bắn người mình
Nhẫn tâm đến thế sao đành hỡi con.
17. Bao giờ trả hết nợ Cao Hoàng
Đào sông Câu Nhí, bòn vàng Bồng Miêu.
18. Bình dân học vụ mở rồi
Sao không đi học để ngồi chịu ngu
Anh về học lại chữ u
Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ.
4. Ca dao tục ngữ về cây xanh
1. Cúc đang xanh, sao cúc vội tàn
Kiểng đang xanh, sao kiểng héo, tôi hỏi nàng tại ai?
Mặt nhìn, lụy nhỏ hàng hai,
Cúc tàn, kiểng héo tại hai đứa mình
2. Cây kiểng trồng rào rấp xung quanh
Vì anh vô ý, cây kiểng đương xanh vội tàn
Anh gặp em đứng lại giữa đàng
Muốn phân nhơn nghĩa, ngỡ ngàng khó phân.
3. Tre già măng mọc luân hồi
Tre xanh xanh khắp đất trời Việt Nam.
4. Trời nắng như lửa đốt
Mà cây xanh vẫn cứ phơi
Làm bóng râm che đất
Làm bóng râm che người.
5. Làng tôi có luỹ tre xanh,
Có sông Tô Lịch uốn quanh xóm làng.
Bên bờ vải, nhãn hai hàng,
Dưới sông cá lội từng đàn tung tăng.
6. Đầm sen, bãi sậy, rừng tràm,
Kinh dài xé đất, cây xanh rợp trời.
7. Bước xuống Bắc Mỹ Tho thấy sóng xô nước đẩy,
Bước lên bờ Rạch Miễu thấy nước chảy cây xanh.
Anh biết chắc nơi đây là đất Châu Thành,
Sao tìm hoài không thấy trong đám bộ hành bóng em.
8. Chùa Tiên chín chín cây thông,
Ai không trồng đủ, làng không cho về.
9. Ai đâu mà chẳng biết ta
Ta ở Xóm Láng, vốn nhà trồng rau
Rau thơm, rau húng, rau mùi
Thì là, cải cúc, đủ loài hành hoa
Mồng tơi, mướp đắng, ớt cà
Bí đao đậu ván vốn nhà trồng nên.
10. Em như hoa gạo trên cành
Anh như là đám cỏ may ven đường
Lạy trời cho gió cả sương
Em như hoa gạo rụng xuống chịu lòn cỏ may.
11. Hoa lài hoa lý hoa Ngâu
Chẳng bằng hoa bưởi thơm lâu diệu dàng.
12. Lúa chiêm lấp ló đầu bờ
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên.
13. Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại lên hòn núi cao.
14. Trông trời chẳng thấy trời mưa
Lan khô huệ héo, khổ chưa hỡi trời.
15. Thân em như lúa nếp tơ,
Xanh cây tốt rễ, phởn phơ phơi màu.
16. Mạ non bắt nhẻ cấy biền
Thương em đứt ruột, chạy tiền không ra.
17. Than vì cây lúa lá vàng
Nước đâu mà tưới nó hoàn như xưa.
18. Chim xanh ăn trái xoài xanh
Ăn no tắm mát đậu cành cây đa
Cực lòng em phải nói ra
Chờ trăng, trăng xế, chờ hoa, hoa tàn.
19. Cây xanh thì lá cũng xanh,
Cha mẹ hiền lành để đức cho con.
Mừng cây rồi lại mừng cành,
Cây tốt lắm chồi, người đức lắm con.
Ba vuông sánh với bảy tròn,
Ðời cha vinh hiển, đời con sang giàu.
20. Đẹp thay ý nghĩa trồng cây
Mùa thơm trái ngọt nắng vầy bóng râm
Lại khi gió rét mưa dầm
Chim về ẩn náu âm thầm qua cơn.
21. Trồng tre đất sỏi, trồng tỏi đất bồi
5. Ca dao tục ngữ về con trâu
1. Vác cày ra ruộng hừng đông
Tay cầm mồi lửa, tay dòng thừng trâu
Ruộng dầm, nước cả, bùn sâu
Suốt ngày cùng với con trâu cày bừa
Việc làm chẳng quản nắng mưa
Cơm ăn đắp đổi muối dưa qua ngày
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Biết công kẻ cấy người cày mới nao.
2. Trâu ta ăn cỏ đồng ta
Đừng ham cỏ tốt ăn qua đồng người
Hàng ta, ta bận cũng tươi
Ham chi hàng ngoại, kẻ cười người chê.
3. Mất trâu thì lại tậu trâu
Những quân cướp nợ có giàu hơn ai.
4. Chưa được thì khấn một trâu
Được rồi thì có trâu đâu cho bà.
5. Trăm năm còn có gì đâu
Miếng trầu liền với con trâu một vần.
6. Trộm trâu, tôi không biết
Tôi không biết trộm trâu
Vốn nhà tôi trồng một đám bầu
Nhân đói khát, không còn tiền mua đặng bánh dầu
Coi nhà nào lớn ruộng, nhiều trâu
Tôi mở cổng, dắt nó về nó ỉa
Bẩm thực tình, tôi kiếm cứt trâu.
7. Trâu sút vó, chó sút lông
Con gái chưa chồng lội qua cũng chửa.
8. Tiếng đồn anh học chữ nghĩa Kinh Thi
Rứa con trâu đực đi theo con trâu cái hắn cười chi rứa hè?
– Con trâu cái cầu lực, con trâu đực cầu tài
Hắn cũng muốn đường tử tôn mưu duệ sinh nhai
Bởi vì hắn trèo lên trật cẳng trước
Nên hắn hổ ngai đứng cười.
9. Đôi ta thương chắc, chú bác trục trặc, cha mẹ không ì
Giống như trâu không chạc mũi, biết tắc rì đường mô.
10. Quê nhà có ruộng có trâu
Nhưng sông vắng cá nhưng trầu vắng vôi
Đi tìm cho đũa thành đôi
Cho than bén lửa cho người bén duyên.
11. Bao giờ cho mạ lên non
Một trăm mẫu đất có con trâu cày.
12. Cà Mau là xứ quê mùa
Muỗi bằng gà mái, cọp tùa bằng trâu.
13. Chê thao, mặc lụa, cũng tằm
Chê dép mang giày cũng gặp da trâu.
14. Khi nào trâu đực sinh con
Gà trống đẻ trứng, trăng tròn ba mươi
Khi nào tháng chạp ăn rươi
Tháng giêng gặt lúa em thời lấy anh.
15. Trâu kia chết để bộ da
Người chết để tiếng xấu xa muôn đời.
16. Con trâu có một hàm răng
Ăn cỏ đồng bằng uống nước bờ ao
Ngày thường mày ở với tao
Đến khi mày yếu thì tao tuyệt tình
Thịt mày nấu cháo nuôi binh
Da mày bịt trống tụng kinh trong chùa
Sừng mày tao tiện con cờ
Cán dao, cán mác, lược thưa, lược dày…
17. Trâu anh con cỡi con dòng
Lại thêm con nghé, cực lòng thằng chăn.
18. Nước nguồn chảy xuống ruộng dâu
Thấy anh đánh bạc lùa trâu đi cầm
Cầm trâu, cầm áo cầm khăn
Cầm dây lưng lụa, xin đừng cầm em.
19. Thôi thôi đừng nói nữa nà
Trâu băng ruộng sạ dấu mà còn đây.
20. Đời vua Thái Tổ, Thái Tông
Thóc lúa đầy đồng, trâu chẳng buồn ăn.
21. Cưới em mười chín con trâu
Mười hai con lợn thì dâu mới về
Dâu về dâu chẳng về không
Dâu thì đi trước ngựa hồng theo sau.
22. Mất trâu mất ruộng không màng
Mất cây cuốc mục ra làng kiện thưa.
23. Trâu buộc thì ghét trâu ăn
Quan võ thì ghét quan văn dài quần.
24. Ai về Phong Lệ thì về
Phong Lệ có nghề bán hến, chọi trâu.
25. Con trâu là đầu cơ nghiệp.
26. Trâu buộc ghét trâu ăn.
6. Ca dao tục ngữ về cây tre
1. Tre thì làm bạn với bương
Cùng vào một lạch, một luồng dễ đi.
2. Tre thì làm bạn với pheo
Bác mẹ ta nghèo, nên dễ thương nhau.
3. Tối trời tôi không sợ chi ma
Vườn hoang cũng lội, tre là ngà cũng chui.
4. Muốn ăn măng trúc măng giang
Măng tre măng nứa cơm lam thì chèo
Người xuôi lên thác xuống đèo
Chim kêu núi nọ, vượn trèo non kia.
5. Ra về nhớ nón anh treo
Nhớ nhà anh ở, nhớ pheo anh trồng.
6. Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng
Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?
7. Ba đời bảy họ nhà tre
Hễ cất lấy gánh nó đè lên vai
Ba đời bảy họ nhà khoai
Dù ngọt dù bùi cũng phải lăn tăn.
8. Ba năm quân tử trồng tre
Mười năm uốn gậy, đánh què tiểu nhân.
9. Bên này sông có trồng bụi sả
Bên kia sông ông xã trồng một bụi tre
Trách ai làm bụi tre nó ngã, bụi sả nó sầu
Phải chi ngoài biển có cầu
Cho anh ra đó giải đoạn sầu cho em.
10. Một nhành tre, năm ba nhành trảy, sáu bảy nhành gai
Nhà ai cửa đóng then cài,
Anh vô không đặng, đứng ngoài anh trông.
11. Ngày nào anh nói em đành
Bụi tre trước ngõ để dành đan nôi
Bây giờ, anh nói em thôi
Bụi tre trước ngõ đan nôi ai nằm?
12. Những là lên miếu xuống nghè
Để tôi đánh trúc đánh tre về trồng
Tưởng rằng nên đạo vợ chồng
Nào ngờ nói thế mà không có gì.
13. Nứa xanh lột rối bòng bong
Gàu giai múc nước, ngọt lòng gàu giai
Sau gò có cái vườn tre
Cách một đám đỗ, vườn mè băng ngang.
14. Thiếu tre, thiếu ná đan giang
Tre non đuôi én đan răng được tràng.
15. Tre lên ba lóng còn non
Có chồng như bậu gái son không bằng.
16. Em về cắt rạ đánh tranh
Chặt tre chẻ lạt cho anh lợp nhà
Sớm khuya hòa thuận đôi ta
Hơn ai gác tía lầu hoa một mình.
17. Làng tôi có lũy tre xanh
Có sông Tô Lịch uốn quanh xóm làng.
Bên bờ vải, nhãn, hai hàng
Dưới sông cá lội từng đàn tung tăng.
18. Lọng vàng che nải chuối xanh
Tiếc con chim phượng đậu cành tre khô.
19. Một cành tre, năm bảy cành tre
Đẹp duyên thì lấy chớ nghe họ hàng.
20. Cây tre lóng cụt lóng dài
Anh lấy em vì bởi ông mai lắm lời.
21. Chẻ tre bện sáo ngăn sông
Đến khi đó vợ đây chồng mới hay
Chẻ tre bện sáo cho dày
Ngăn sông Trà Khúc đợi ngày gặp em.
22. Tre non uốn chẳng được cần
Nơi xa xấu tuổi, nơi gần bà con.
23. Trồng tre chẳng dám ăn măng
Để cho tre lớn, kết bè đưa dâu
Đưa dâu thì đưa bằng ghe
Đừng đưa bằng bè, ướt áo cô dâu.
24. Tre đài ngã ngọn qua mương
Nằm đêm nghĩ lại, ngẫm thương tre đài.
25. Tre già khó uốn.
26. Tre già là bà lim.
27. Có tre mới cho vay hom tranh.
28. Tre già măng mọc.
29. Tre non dễ uốn.
30. Tre già nhiều người chuộng, người già ai chuộng làm chi.
31. Tre lướt cò đỗ.
7. Ca dao tục ngữ về cuộc sống
1. Lúc nghèo thì chẳng ai nhìn
Đến khi đỗ trạng chín nghìn anh em.
2. Chết thời cơm nếp thịt gà,
Sống thời xin bát nước cà không cho.
3. Trâu bò ở với nhau chia nhau phần cỏ,
Người ở với nhau như chó với mèo.
4. Có đỏ mà chẳng có thơm
Như hoa dâm bụt, nên cơm cháo gì.
5. Ai ơi chớ nghĩ mình hèn,
Nước kia dù đục lóng phèn cũng trong.
6. Chim khôn kêu tiếng rảnh rang,
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.
7. Chê tôm ăn cá lù đù
Chê thằng bụng bự, thằng gù lại ưng
8. Ba năm quân tử trồng tre,
Mười năm uốn gậy, đánh què tiểu nhân.
9. Chớ thấy sóng cả mà lo,
Sóng cả mặc sóng, chèo cho có chừng.
10. Muốn sang thì bắc cầu Kiều,
Muốn con hay chữ thì yêu kính thầy.
11. Lấy hận thù diệt hận thù
Hận thù không mất nghìn thu vẫn còn
12. Yêu ai đừng nói quá ưa
Ghét ai đừng nói thiếu thừa như không
Khác nào quạ mượn lông công
Ngoài hình xinh đẹp trong lòng xấu xa.
13. Lúc nghèo thì chẳng ai nhìn
Đến khi đỗ trạng chín nghìn anh em.
14. Thà rằng ăn bát cơm rau,
Còn hơn cá thịt nói nhau nặng lời.
Trách người một, trách ta mười,
Bởi ta bạc trước, cho người tệ sau.
15. Ở hiền gặp lành
Ác giả ác báo
16. Ai ở cứ ở cho lành,
Tu nhân tích đức để dành về sau.
17. Cả đời cha mẹ để cho,
Làm không ăn có, của kho cũng rồi.
Muốn no thì phải chăm làm,
Một hạt thóc vàng, chín hạt mồ hôi.
18. Hoa sen mọc bãi cát lầm,
Tuy rằng lấm láp vẫn còn mầm sen.
19. Nghèo mà có nghĩa có nhân
Còn hơn sang cả mà lòng bội phu.
20. Sướng gì hơn sướng làm lành,
Như bao nhiêu của để dành bấy nhiêu.
21. Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng
22. Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn
23. Đừng ham sao tỏ bỏ trăng,
Một năm sao tỏ không bằng trăng lên.
24. Khi giàu thì chẳng đỡ ai
Đến khi hoạn nạn chẳng ai đỡ mình.
25. Dẫu xây chín bậc phù đồ,
Không bằng làm phúc, cứu cho một người.
26. Lạy trời chớ điếc chớ đui,
Để đôi con mắt xem người thế gian.
27. Làm ơn ắt sẽ nên ơn,
Trời nào phụ kẻ có nhơn bao giờ.
28. Làm người phải biết tiện tằn,
Đồ ăn thức mặc có ngần thì thôi.
Những người đói rách rạc rời,
Bởi phụ của Trời làm chẳng nên ăn.
29. Ác giả ác báo.
30. Anh em trong nhà, đóng cửa bảo nhau.
31. Ao sâu tốt cá.
32. Bà phải có ông, chồng phải có vợ.
33. Bé thì con mẹ con cha, lớn thì con vua con chúa.
34. Chim có tổ, người có tông.
35. Ăn lúc đói, nói lúc say.
36. Chớ bán gà ngày gió, chớ bán chó ngày mưa.
37. Chẳng ốm chẳng đau, làm giàu mấy chốc.
38. Cây có cội, nước có nguồn.
39. Cây ngay chẳng sợ chết đứng.
40. Có công mài sắt có ngày nên kim.
41. Có cứng mới đứng đầu gió.
42. Có dốt mới có khôn.
43. Có gan ăn cắp, có gan chịu đòn.
44. Dâu dữ mất họ, chó dữ mất láng giềng.
45. Có hay không mùa đông mới biết.
46. Đi việc làng giữ lấy họ, đi việc họ giữ lấy anh em.
47. Đất có thổ công, sông có hà bá.
48. Được mùa lúa, úa mùa cau.
49. Em khôn cũng là em chị, chị dại cũng là chị em.
50. Giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng.
51. Mất lòng trước, được lòng sau.
52. Mật ngọt chết ruồi, những nơi cay đắng là nơi thật thà.
8. Ca dao tục ngữ về cội nguồn
1. Tháng ba nô nức hội đền
Nhớ ngày giỗ Tổ bốn nghìn năm nay
Con người có tổ có tông
Như cây có cội như sông có nguồn
2. Ăn quả, nhớ kẻ trồng cây,
Ăn khoai, nhớ kẻ cho dây mà trồng
3. Uống nước, nhớ nguồn.
Con người có tổ, có tông,
Như cây có cội, như sông có nguồn.
Con chim có tổ, con người có tông.
Con chim tìm tổ, con người tìm tông.
4. Ăn quả, nhớ kẻ trồng cây,
Ăn gạo, nhớ kẻ đâm xay giần sàng.
5. Ăn quả, nhớ kẻ trồng cây,
Ăn khoai, nhớ kẻ cho dây mà trồng.
6. Ăn cây nào, vào cây ấy.
Ăn cây nào, rào cây ấy.
7. Ăn của Bụt, thắp hương thờ Bụt.
Ăn oản, thời phải thờ Phật.
Ăn oản, phải giữ lấy chùa.
Làm quan ăn lộc vua, ở chùa ăn lộc Phật.
8. Ta về, ta tắm ao ta,
Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn.
9. Thứ nhất thì tu tại gia,
Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa.
Tu đâu cho bằng tu nhà,
Thờ cha kính mẹ, mới là chân tu.
10. Nâng niu bú mớm đêm ngày,
Công cha, nghĩa mẹ, coi tày bể non.
Có nuôi con, mới biết lòng cha mẹ.
11. Lên non, mới biết non cao,
Nuôi con, mới biết công lao mẫu từ.
Con mẹ thương mẹ lắm thay,
Chín tháng mười ngày, mang nặng đẻ đau.
Liệu mà thờ mẹ kính cha,
Đừng tiếng nặng nhẹ, người ta chê cười.
12. Có cha, có mẹ, thì hơn,
Không cha, không mẹ, như đờn đứt giây.
Trách ai được cá quên nơm,
Được chim bẻ ná, quên ơn sinh thành.
13. Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa,
Miệng nhai cơm mớm, lưỡi lừa cá xương.
Vẳng nghe tiếng vịt kêu chiều,
Bâng khuâng nhớ mẹ, chín chiều ruột đau.
14. Tôm càng lột vỏ bỏ đuôi,
Giã gạo cho trắng, mà nuôi mẹ già.
Mẹ cha như chuối chín cây,
Sao đấy chẳng liệu, cho đây liệu cùng.
15. Cha mẹ ở tấm lều tranh,
Sớm thăm, tối viếng, mới đành dạ con.
16. Mẹ cha như nước như mây,
Làm con phải ở cho tày lòng son.
17. Con có làm ra của vạn tiền trăm,
Con ơi, hãy nhớ lúc con nằm trong nôi.
18. Trâu dê chết để tế ruồi,
Sao bằng lúc sống, ngọt bùi là hơn.
19. Lúc sống, thời chẳng cho ăn,
Đến khi thác xuống, làm văn tế ruồi.
20. Sống thì chẳng cho ăn nào,
Chết thì cúng giỗ, mâm cao cỗ đầy.
21. Dạy con, con nhớ lấy lời,
Trọng cha, kính mẹ, suốt đời chớ quên.
22. Trai mà chi, gái mà chi,
Cốt sao có nghĩa, có nghì là hơn.
23. Cá không ăn muối, cá ươn,
Con cãi cha mẹ, trăm đường con hư.
24. Cha mẹ là biển là trời,
Nói sao hay vậy, đâu dám cãi lời mẹ cha.
25. Một mẹ nuôi được mười con,
Mười con không nuôi được một mẹ.
26. Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng bể,
Con nuôi cha mẹ con kể từng ngày.
27. Mẹ nuôi con, biển hồ lai láng,
Con nuôi mẹ, kể tháng kể ngày.
28. Mẹ già hết gạo treo niêu,
Mà anh khăn đỏ, khăn điều vắt vai.
29. Mẹ lá rau, lá má,
Con đầy rá, đầy mâm.
30. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây,
Ăn gạo nhớ kẻ đâm xay giần sàng.
31. Cây có gốc mới nở cành xanh lá,
Nước có nguồn mới bể cả sông sâu.
32. Người ta nguồn gốc từ đâu,
Có tổ tiên trước rồi sau có mình.
33. Dù ai đi ngược về xuôi,
Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba.
34. Khôn ngoan nhớ đức cha ông,
Làm nên phải đoái tổ tông phụng thờ.
35. Đạo làm con chớ hững hờ,
Phải đem hiếu kính mà thờ tổ tiên.
36. Ơn cha nghĩa mẹ trìu trìu,
Mưa mai lòng sở, nắng chiều dạ lo.
37. Biển Đông còn lúc đầy vơi,
Chớ lòng cha mẹ suốt đời tràn dâng.
38. Chiều chiều ra đứng ngõ sau,
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.
39. Ta về ta tắm ao ta,
Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.
40. Con giữ cha, gà giữ ổ.
41. Dâu hiền hơn gái, rể hiền hơn trai.
42. Con ở đâu, cha mẹ đấy; cháu con ở đâu, tổ tiên ở đấy.
43. Trẻ đeo hoa, già đeo tật.
44. Già sinh tật, đất sinh cỏ.
45. Bảy mươi chưa đui, chưa què, chớ khoe là giỏi.
46. Kính lão, đắc thọ.
47. Thương già, già để tuổi cho.
48. Sống tết, chết giỗ.
49. Một chữ nên thầy, một ngày nên nghĩa.
50. Uống nước chớ quên người đào mạch.
51 Tiền là gạch, ngãi là vàng.
52. Bền người hơn bền của.
53. Ăn quả phải vun cây.
54. Lá rụng về cội.
55. Con hơn cha là nhà có phúc.
56. Con khôn nở mặt mẹ cha.
57. Con cái khôn ngoan, vẻ vang cha mẹ.
58. Một người làm nên, cả họ được cậy.
59. Một người làm bậy, cả họ mất nhờ.
60. Một người làm quan, sang cả họ.
61 Thờ thì dễ, giữ lễ thì khó.
9. Ca dao tục ngữ về cá
1. Bấy lâu cá cựu ở đìa
Bây giờ cá cựu biết dìa tay ai.
2. Bắt cá mà gả cho cò,
Nửa đêm con vạc đưa đò rước dâu.
Cưới về buổi sáng hôm sau,
Mẹ cá buồn rầu ngồi gục nỉ non
Thấy cò đang rỉa thịt con
“Cò ơi, cò hỡi… bất nhơn thế này!”
3. Cá dưới sông con trừng, con lội
Chim trên trời con hát, con ca
Đêm năm canh thắp ngọn đèn tà
Vấn vương tơ tóc để đôi ta thêm buồn.
4. Bậu buồn qua dễ chẳng buồn
Cá dưới sông biếng lội, chim trên nguồn biếng bay.
5. Bà giàu bà tát cá ao
Tôi con nhà khó tôi chao cá mè.
6. Con cá ra sông, còn mến nước trên đồng
Em về nhớ “kim tiền cổ hậu”, khoan lấy chồng đợi anh.
7. Ai làm lở bể rung ngàn
Cho tổ cá vỡ cho đàn chim bay.
8. Con cá dưới nước hãy còn lai vãng
Con nhạn trên trời sao nỡ bay xa
Chiều chiều tựa cửa ngó ra
Thấy buồm ai bỏ đi xa biển ngoài.
9. – Tiếng anh ăn học nhiều thầy,
Lại đây em hỏi con bò cày mấy lông?
– Em về đếm cá dưới sông,
Em đếm người thiên hạ, anh sẽ đếm lông con bò cày.
10. Cá nào chịu được ao này
Chẳng dập con mắt cũng trầy con ngươi.
11. Ai lên cho tới cung trăng,
Nhắn con vịt nước đừng ăn cá trời
Hỡi con vịt nước kia ơi
Sao mày vùng vẫy ở nơi sông Hà.
12. Ao hồ cá lội trông sao,
Em có chồng rồi, anh biết liệu sao bây giờ.
13. Nước xuôi con cá lội ngược
Nước ngược con cá vượt theo
Anh than với em, thân phận anh nghèo
Gá duyên chồng vợ, chẳng khác bọt bèo trôi sông.
14. Chim khôn kén ổ chọn cành
Cá khôn chọn vực, trai lành chọn đôi.
15. Nước trong thấy đá, cá lội thấy kì
Anh thương em là lỗi đạo vô nghì
Vợ còn, con sẵn, nghĩa lí gì mà thương.
16. Cá ở ao môn sầu tam tứ nhị
Được chữ sang giàu chẳng nghĩ tới nhau.
17. Biết thuở nào con cá ra khỏi vực
Biết thuở nào hết cực thân em?
18. Cầm chài mà vãi xuống sông
Cá đâu không thấy mà trông hết ngày
19. Con cá nó lội so le
Một đàn cá lớn nó đè cá con
20. Con cá mà ở dưới ao
Nhảy lên đồng cạn buồn sao là buồn
21. Con cá kia nấu chẳng nên canh
Đổ đi thì tiếc để dành thì hôi.
22. Bướm bay mỏi cánh bướm rơi
Cá đua hết nước tìm nơi vũng chà
Hồi nào em thề nguyện với qua
Bây giờ em dứt nghĩa, em ra lấy chồng.
23. Ru hời, ru hỡi là ru
Con cá lù đù đánh vảy, chặt vi.
24. Thân em như con cá trong bồn
Không ăn có chịu, tiếng đồn oan chưa!
25. Cá lớn nuốt cá bé.
26. Cá không ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư.
27. Câu cá buổi hôm,
Câu tôm buổi sáng.
28. Chim trời cá nước, ai được thì ăn.
29. Có cá đổ vạ cho cơm.
30. Rau chọn lá, cá chọn vảy.
31. Cá ăn kiến, kiến ăn cá.
32. Chồng con cá, vợ lá rau.
10. Ca dao tục ngữ về câu cá
1. Buông câu lỡ dĩ phải lần
Thấy non, thấy nước muôn phần muốn lui.
2. Chiều chiều ông Lữ đi câu,
Cá cắn đứt nhợ vin râu ngồi chờ.
3. Nồm nam, bấc chướng, sóng lượn ba đào
Anh đi câu, biết chừng nào anh vô.
4. Hai bên hàng cá, chính giữa hàng tôm
Vợ nào chồng nấy ôm nhau mà hò
Ai nhiều nhân nghĩa thì lo
Tôi đây ít nhân ít nghĩa, tôi hò lơi lơi
Ai dài cần dài nhợ thì thả ngoài khơi
Tôi đây ngắn cần ngắn nhợ tôi thả chơi trong gành
Họa may gió mát trăng thanh
Cá kia ẩn vực bỏ gành ăn câu.
5. Đi buôn bữa lỗ bữa lời
Ra câu giữa vời bữa có bữa không
6. Câu cá, cá chẳng ăn mồi
Đừng câu mà mệt, đừng ngồi mà trưa
– Đợi lâu cá chẳng ăn mồi
Anh móc vào con tôm bạc, cá lần hồi cũng mắc câu.
7. Con cá nọ nó đà có cặp
Anh có câu hoài cũng chẳng gặp được đâu
Khuyên anh về sửa lại lưỡi câu
Bắt chước ông Lã Vọng, điếu công hầu hay hơn.
8. Nực cười cho cá cắn câu
Tham mồi phải chịu, oan đâu bạn tề.
9. Ngồi trên bờ dốc buông câu
Trách ai xui giục con cá sầu không ăn
Cá không ăn câu anh vác cần về
Để ống lại đây
Đêm khuya thanh vắng hồ Tây
Anh thả mồi bận nữa, con cá này cũng ăn.
10. Các chị gần xách nước bằng bình
Đây tui ra giếng tui rinh một vò
Ai nhiều nhơn nghĩa thì lo
Tui ít nhơn nghĩa, tui hò lơi lơi
Ai dài cần, dài nhợ ra khơi
Tui ngắn cần, ngắn nhợ, tui nhắp chơi trong gành
Đêm khuya gió mát trăng thanh
Họa may con cá cựu nó dựa gành giỡn trăng.
11. Một bầy cá lội sông sâu
Anh cười híp mắt buông câu ngồi chờ
Anh câu con giếc, anh tiếc con rô
Anh câu con cá gáy anh dò con trê
Quá trưa mặt ủ mày ê
Vì chưng tham quá nên về giỏ không.
12. Nghề câu quăng được ăn cá lớn
Ngồi cả ngày chờ cá dợn mồi câu
Em đừng nản chí ao sâu
Sợi dây anh câu cứng cái cần câu nó cong vòng.
13. Mặt nhìn trăng, trăng lại còn khuya
Muốn quăng câu sợ cá mê đìa không ăn.
14. Anh với em chút nữa thì gần,
Tại ba với má bẻ cần tháo dây.
15. Con cá rô thia nấp bụi rêu rong
Anh quăng cái mồi ngọc, con cá động lòng phải ăn
16. Anh ngồi bực lở anh câu
Khen ai khéo mách, cá sầu chẳng ăn.
17. Ngồi buồn giả chước đi câu
Cá ăn không giựt, mảng sầu căn duyên.
18. Sá gì một lỗ cẳng trâu
Một con cá nhét, anh câu mấy cần?
19. Cá chả ăn câu thiệt là cá dại
Câu anh cầm câu ngãi câu nhơn
20. Nhất thời xóm ruộng khiêng ma
Nhì thì hò hát thứ ba câu cần
21 Tay cầm cần câu trúc, lưỡi câu thau
Muốn câu con cá biển, chứ cá bàu thiếu chi.
22. Nước trong cá chẳng ăn mồi
Đừng câu mà mệt đừng ngồi mà trưa.
23. Cước thoáng con no, cước to con đói.
24. Câu chuôm thả ao,
Câu hào thả rãnh.
25. Câu cá buổi hôm,
Câu tôm buổi sáng.
26. Muốn ăn cá cả, phải thả câu dài.
11. Ca dao tục ngữ về cà phê
1. Hơi cà phê ấm bâng khuâng,
Quyện trong ký ức muôn phần mê say.
Tay pha chuyên nghiệp hằng ngày,
Nâng niu từng hạt đắm say hương nồng.
2. Hạt Lành tinh túy vẹn nguyên,
Tây Nguyên gửi gắm tình duyên đất này.
3. Hạt vàng tuyển chọn kỹ càng,
Rang trong lửa ấm, nồng nàn sắc hương.
Pha ly sóng sánh yêu thương,
Giọt rơi tinh tế vấn vương lòng người.
Thơm từ nắng gió đất trời,
Tinh hoa hội tụ một thời đắm say.
4. Cà phê đắng chát đầu môi,
Lòng người chợt tỉnh, bồi hồi nhớ thương,
Vị ngọt hậu lại vấn vương,
Như tình đời đọng, vấn vương bao ngày.
12. Ca dao tục ngữ về cây dừa
1. Giã ơn ai có cây dừa,
Cho tôi nghỉ mát đợi chờ người thương.
2. Gió đưa gió đẩy lá dừa,
Muốn ai thì muốn nhưng chừa em ra.
3. Thương thay thân phận trái dừa:
Non thời khoét mắt, già cưa lấy đầu.
4. Anh về không biết gì đưa,
Còn một trái dừa đương ở trên cây.
5. Đi lên đi xuống bờ dừa,
Lấy ai có chửa đỗ thừa người ta.
6. Dừa tơ bẹ dún, tốt tàng
Giàu sang có chỗ, điếm đàng có nơi.
7. Muốn về Mỹ Á ăn dừa
Sợ e Mỹ Á đẩy đưa nhiều lời.
8. Sông Thu chẳng thiếu đò đưa
Bùi khoai Chợ Được, mát dừa Kiến Tân
Quế Sơn cau mít mấy tầng
Mê lòn bon Đại Lộc, nhớ rượu cần Trà My
9. Thấy dừa thì nhớ Bến Tre,
Thấy bông sen nhớ đồng quê Tháp Mười.
10. Muốn ra Mỹ Á ăn dừa
Sợ con sóng dữ nó lùa trở vô.
11. Ngọn dừa bóng ngả mái tranh
Trăng tà em mới hỏi anh đôi lời
Ai làm cho bóng trăng rơi
Cho mây lơ lửng, cho trời lọ lem?
12. Dì Hai ơi hỡi dì Hai
Miệng nhai bánh tráng, miệng nhai cùi dừa.
13. Muốn trong bậu uống nước dừa
Muốn nên cơ nghiệp, bậu chừa lang vân.
14. Dừa tơ bẹ dún, tốt tàng
Giàu sang có chỗ, điếm đàng có nơi.
15. Anh về biết lấy chi đưa
Quýt cam còn nhỏ, buồng dừa còn non.
13. Ca dao tục ngữ về cây lúa hạt gạo
1. Lúa khô nước cạn ai ơi
Rủ nhau tát nước, chờ trời còn lâu.
2. Cực lòng thiếp lắm chàng ơi
Kiếm nơi khuất tịch, thiếp ngồi thở than
3. Than vì cây lúa lá vàng
Nước đâu mà tưới nó hoàn như xưa
4. Thân em như lúa nếp tơ,
Xanh cây tốt rễ, phởn phơ phơi màu.
5. Mạ non bắt nhẻ cấy biền
Thương em đứt ruột, chạy tiền không ra.
6. Trời mưa cho lúa thêm bông
Cho đồng thêm cá, cho sông thêm thuyền.
7. Hỡi cô cấy lúa khum lưng,
Mặt trời xế bóng sao chưn chưa về?
8. Đừng ham gạo trắng thơm tho
Lúa Trì cùng với lúa Co chắc lòng.
9. Cấy ba cây lúa dựa bờ
Anh đi anh trợt, anh rờ anh coi.
10. Giời mưa ướt áo nâu sồng
Công em đi cấy quăng đồng đồng xa
Mùa này trời giúp cho ta
Mùa này lúa tốt bằng ba mọi mùa.
11. Trời cao đất rộng thênh thang,
Tiếng hò giọng hát ngân vang trên đồng,
Cá tươi gạo trắng nước trong,
Hai mùa lúa chín thơm nồng tình quê
12. Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.
13. Đời vua Thái Tổ, Thái Tông
Lúa rụng đầy đồng, gà chẳng cần ăn.
14. Việt Nam đất nước ta ơi
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn.
15. Gỗ kiền anh để đóng cày
Gỗ lim gỗ sến anh nay đóng bừa
Răng bừa tám cái còn thưa
Lưỡi cày tám tấc đã vừa luống to
Muốn cho lúa nẩy bông to
Cày sâu bừa kĩ, phân gio cho nhiều.
16. Anh đi lúa chửa chia vè,
Anh về lúa đã đỏ hoe đầy đồng
Anh đi em chửa có chồng
Anh về em đã tay bồng tay mang.
15. Giời mưa ướt áo nâu sồng
Công em đi cấy quăng đồng đồng xa
Mùa này trời giúp cho ta
Mùa này lúa tốt bằng ba mọi mùa.
16. Lúa chiêm lấp ló đầu bờ,
Hễ nghe tiếng sấm, phất cờ mà lên.
17. Tỏ trăng mười bốn được tằm
Tỏ trăng hôm rằm thì được lúa chiêm.
18. Lúa chiêm thì cấy cho sâu
Lúa mùa thì gẩy cành dâu mới vừa.
19. Mạ úa cấy lúa chóng xanh
Nạ dòng chóng đẻ, sao anh hững hờ?
20. Anh đi kiệu lộng ba bong
Bỏ em cấy lúa đồng không một mình.
21. Đố ai biết lúa mấy cây
Biết sông mấy khúc biết mây mấy tầng.
22. Tua rua thì mặc tua rua
Mạ già, ruộng ngấu không thua bạn điền.
23. Trâu ơi ta bảo trâu này,
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.
Cấy cày giữ nghiệp nông gia.
Ta đây trâu đấy, ai mà quản công!
Bao giờ cây lúa còn bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn
24. Công danh theo đuổi mà chi,
Sao bằng chăm chỉ giữ nghề canh nông.
Sớm khuya có vợ có chồng,
Cày sâu bừa kỹ mà mong được mùa.
25. Ai ơi! Nhớ lấy lời này:
Tằm nuôi ba lứa, ruộng cày ba năm.
Nhờ trời hòa cốc phong đăng,
Cấy lúa lúa tốt, nuôi tằm tằm tươi.
Được thua dù có tại trời,
Chớ thấy sóng cả mà rời tay co
26. Cầu cho mưa thuận gió lành,
Lúa vàng nặng hạt, ruộng anh được mùa.
27. Lập thu mới cấy lúa mùa,
Khác nào hương khói lên chùa cầu con.
28. Cấy ba cây lúa cho chuôn,
Anh đi dạo ruộng, dẫu buồn cũng vui.
29. Bao giờ cho đến tháng năm
Thổi nồi cơm nếp vừa nằm vừa ăn
Bao giờ cho đến tháng mười
Thổi nồi cơm nếp vừa cười vừa ăn
30. Tiếc thay hột gạo trắng ngần
Đã vo nước đục, lại vần than rơm
Tiếc thay hạt gạo tám xoan
Thổi nồi đồng điếu lại chan nước cà.
31. Ai làm nên nỗi chồng chê
Làm gạo quên sảy, quên giê, quên sàng
Bởi anh lấp ló ngoài đàng,
Nên em quên sảy, quên sàng, quên giê.
32. Đôi bên bác mẹ cùng già
Lấy anh hay chữ để mà cậy trông
Mùa hè cho chí mùa đông
Mùa nào thức ấy cho chồng ra đi
Hết gạo thiếp lại gánh đi
Hỏi thăm chàng học ở thì nơi nao?
Hỏi thăm đến ngõ thì vào
Tay đặt gánh xuống, miệng chào: Thưa anh!
33. Thấy nếp thì lại thèm xôi
Ngồi bên thúng gạo nhớ nồi cơm thơm
34. Hai tay xới xới đơm đơm
Công ai cày cấy sớm hôm đó mà.
35. Cái ngủ mày ngủ cho say
Mẹ mày vất vả chân tay suốt ngày
Bắt được một giỏ cá đầy
Bán đi mua gạo cho mày nấu ăn.
36. Cần Thơ gạo trắng nước trong,
Ai đi đến đó lòng không muốn về.
37. Tôm rằn bóc vỏ bỏ đuôi
Gạo thơm Nàng Quốc em nuôi mẹ già.
38. Gạo Cần Đước, nước Đồng Nai
Ai về xin nhớ cho ai theo cùng.
39. Cái cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non.
40. Ăn trái nhớ kẻ trồng cây
Ăn gạo nhớ kẻ đâm xay giần sang.
41. Mấy ai biết lúa von, mấy ai biết con hư.
42. Nắng tốt dưa, mưa tốt lúa.
43. Một nuộc lạt, một bát cơm.
43. Năm trước được cau, năm sau được lúa.
44. Được mùa lúa, úa mùa cau. Được mùa cau, đau mùa lúa.
45. Ăn kĩ no lâu. Cày sâu tốt lúa.
46. Ré thừa cấy nỏ. Chiêm thừa bỏ đi
47. Mùa đứt trối. Chiêm bối rễ
48. Mùa nứt nanh. Chiêm xanh đầu
49. Làm ruộng ăn cơm nằm, chăn tằm ăn cơm đứng.
50. Thóc lúa về nhà, lợn gà ra chợ. Thóc cót thóc bồ, bồ còn thóc hết.
51. Gạo đổ bốc chẳng đầy thưng.
52. Gạo chợ, nước sông, củi đồng, nồi đất.
53. Cơm chéo áo, gạo chéo khăn.
54. Người sống về gạo, cá bạo về nước.
55. Mạnh vì gạo, bạo vì tiền.
14. Ca dao tục ngữ về cây đa
1. Con chim đa đa đậu nhánh đa đa
Chồng gần không lấy, để lấy chồng xa
Mai sau cha yếu mẹ già
Nồi cơm bắc xuống, ấm trà bắc lên.
2. Cây tùng cây bá anh chê,
Cây đa, cây dứa sum suê anh dùng.
3. Đầu làng cây duối,
Cuối ngõ cây đa
Đàng cái ngã ba,
Anh đây thợ hàn
Con gái mười bảy hăm ba
Hai mươi, hăm mốt đem ra anh hàn
Nụ này lớn lỗ hao than
Đồng đâu anh đổ cho tràn lỗ ni
Hết đồng, thì anh pha chì
Anh hàn cho một chặp chì ì mặt ra.
4. Đầu làng cây duối,
Cuối làng cây đa
Cây duối anh để làm nhà
Cây đa bóng mát nàng ra anh chào
Đôi tay nâng cái khăn đào
Bằng khi hội hát anh trao cho nàng
Túi anh những bạc cùng vàng
Để anh kéo nhẫn cho nàng đeo tay
Dù ai bấu chí nàng bay
Thì nàng phải giữ nhẫn này cho anh
Dù ai bẻ lá vin cành
Thì nàng phải nhớ lời anh dặn dò.
5. Đầu làng cây duối,
Cuối làng cây đa
Ngõ em cây nhãn,
Ngõ ta cây đào
Có thương mới bước chân vào
Không thương có đón có chào cũng không.
6. Phượng hoàng đậu cành cây đa
Sa cơ thất thế lủi theo bầy gà.
7. Cây đa tróc gốc, cái miễu chổng khu
Gặp em đây anh giỡn lu bù
Chừng nào chồng của em hay được thì ở tù anh cũng ưng.
8. Cây đa là cây đa cũ
Bến đò là bến đò xưa
Nay chừ người khác vô đưa
Oan ơi, oan hỡi, tức chưa bạn tề!
9. Cây đa Bình Đông, cây đa Bình Tây
Cây đa Xóm Củi, cây đa chợ Đuổi
Năm bảy cây đa tàn
Trát quan trên gởi giấy xuống làng
Cấm điếm, cấm đám, cấm tòng tam tụ ngũ
Cấm đủ phu thê
Cấm không cho trai tựa gái kề
Để cho người cũ trở về với duyên xưa.
10. Lạy trời thi đậu Thám hoa
Trở về đền ơn đáp nghĩa cho cây đa bến đò.
11. Con ve kêu trên cành mít mục
Con sùng nó đục trên nhánh cây đa
Bớ người có mẹ không cha
Vô đây kết nghĩa giao hòa cùng anh.
12. Lá đa rụng xuống sân đình
Lơ thơ có kẻ thất tình mà hư.
13. Thương nhau ở dưới gốc đa
Còn hơn ở cả ngôi nhà trăm gian.
14. Cây da Chợ Đũi nay nó trụi lủi, trốc gốc, mất tàn
Tình xưa còn đó, ngỡ ngàng nan phân.
15. Con đò với gốc cây đa
Cây đa muôn thuở chẳng xa con đò.
16. Anh khôn anh hỏi rễ đa
Em đần em hỏi cỏ gà cũng thông.
17. Hỡi chàng da trắng tóc dài
Em đã chờ đợi một hai năm trời
Cho nên mặt ủ chẳng tươi
Sợ chúng bạn cười chẳng dám nói ra
Nhớ chàng lòng những xót xa
Làm thơ mà dán cây đa giữa đồng
Phòng khi qua lại chàng trông
Thời chàng mới thấu nõi lòng nhớ thương
Mối sầu là mối tơ vương
Ai mà gỡ khỏi thiếp thương trọn đời.
18. Trên vườn rau cải, dưới lại rau cần
Cây mơ cây mận ở gần bờ ao
Đầu làng có cây đa cao
Trăng thanh gió mát lọt vào tận nơi
Nhà anh có cái giếng khơi
Nhác trông xuống giếng có đôi cành hồng
Em nay là gái chưa chồng
Anh không có vợ, dốc lòng chờ nhau.
19. Cây đa bậc cũ lở rồi
Đò đưa bến khác, bạn ngồi chờ ai?
20. Cây đa ba nhánh chín chồi
Ai về Thông Lạng cạp cồi lồ ngô.
21. Đầu làng có cây đa cao
Trăng thanh gió mát lọt vào tận nơi
Nhà anh có cái giếng khơi
Nhác trông xuống giếng có đôi cánh hồng
Em nay là gái chưa chồng
Anh không có vợ dốc lòng chờ nhau.
22. Đầu làng có cây chuối
Cuối làng có cây đa
Ngã ba có cây đại hồng
Con gái chưa chồng trong lòng hớn hở
Con trai chưa vợ ruột tợ trái chanh
Ngó lên mây trắng trời xanh
Thương ai cũng vậy thương anh cho rồi.
23. Cây đa cũ, con én rũ, cây đa tàn
Bao nhiêu lá rụng anh thương nàng bấy nhiêu.
24. Cây đa cũ, bến đò xưa
Gặp mặt em đây con bóng đang trưa
Ông trời tối vội, phân chưa hết lời.
25. Đầu làng có một cây đa
Cuối làng cây thị, ngã ba cây dừa
Dầu anh đi sớm về trưa
Anh cũng nghỉ mát cây dừa nhà tôi
Anh vào anh chẳng đứng chẳng ngồi
Hay là anh phải duyên tôi anh buồn
Anh buồn anh chẳng muốn đi buôn
Một vốn bốn lãi anh buồn làm chi
Tôi là con gái nhỡ thì
Chẳng thách tiền cưới làm chi bẽ bàng
Rượu hoa chỉ lấy muôn quan
Trâu bò chín chục họ hàng ăn chơi
Vòng vàng chỉ lấy mười đôi
Nhiễu tàu trăm tấm tiền rời một muôn
Nào là của hỏi của han
Ấy tiền dẫn cưới anh toan thế nào?
26. Chim xanh ăn trái xoài xanh
Ăn no tắm mát đậu cành cây đa
Cực lòng em phải nói ra
Chờ trăng, trăng xế, chờ hoa, hoa tàn.
27. Trăm năm đành lỗi hẹn hò
Cây da bến cộ con đò khác đưa
Cây da bến cộ còn lưa
Con đò đã thác năm xưa tê rồi.
28. Cây da trước miễu ai biểu cây da tàn
Bao nhiêu lá rụng em thương chàng bấy nhiêu.
29. Cây đa bến cũ năm xưa
Chữ tình ta cũng đón đưa trọn đời.
30. Có oản anh tình phụ xôi
Có cam phụ quýt, có người phụ ta
Có quán tình phụ cây đa
Ba năm quán đổ cây đa vẫn còn
Có mực anh phụ tình son
Có kẻ đẹp giòn anh phụ nhân duyên
Có bạc anh tình phụ tiền
Có nhân ngãi mới anh quên em rồi.
31. Cây da mô cao bằng cây da Bàn Lãnh
Đất mô thanh cảnh bằng đất Bảo An
Chỗ mô vui bằng chỗ Phố, chỗ Hàn
Dưới sông tàu chạy, trên đàng ngựa đua.
32. Làm thơ mà dán cây đa
Thiên hạ không biết, nói ta với nàng
Làm thơ mà dán cây bàng
Thiên hạ không biết, nói nàng với ta.
33. Bao giờ cho chuối có cành
Cho sung có nụ, cho hành có hoa
Bao giờ chạch đẻ ngọn đa
Sáo đẻ dưới nước thì ta lấy mình
Bao giờ cây cải làm đình
Gỗ lim thái ghém thì mình lấy ta.
34. Anh về bán đất cây đa
Bán cặp trâu già mới cưới đặng em
– Anh về bán một bầy gà
Anh qua anh cưới hết cả bà lẫn con.
35. Ở cho phải phải phân phân
Cây đa cậy thần, thần cậy cây đa
Thương người người lại thương ta
Ghét người thì lại hóa ra ghét mình.
36. Cây đa trốc gốc, thợ mộc đương cưa
Anh với em bề ngang cũng xứng, bề đứng cũng vừa
Bởi tại cha với mẹ kén lừa sui gia
37. Cây gạo có ma
Cây đa có thần.
38. Vị ông thần, nể cây đa
15. Ca dao tục ngữ về cây bàng
1. Cậu lậu, cậu ở cây bàng
Bao giờ cậu chết, cả làng đi khiêng.
2. Gió đập cành tre, gió đánh cành tre
Chiếc thuyền anh vẫn le te đợi nàng
Gió đập cành bàng, gió đánh cành bàng
Dừng chèo anh hát, cô nàng hãy nghe.
3. Bao giờ rừng báng hết cây
Tào Khê hết nước, Lý nay lại về.
4. Làm thơ mà dán cây đa
Thiên hạ không biết, nói ta với nàng
Làm thơ mà dán cây bàng
Thiên hạ không biết, nói nàng với ta.
16. Ca dao tục ngữ về cây thuốc nam
1. Bạc hà, Kinh giới, Tía tô
Hương nhu, Gừng, sả, Cúc hoa, Địa liền
Dù cho cảm sốt liên miên
Uống vào bệnh khỏi không phiền lụy ai
2. Bệnh thấp khớp cứ dằng dai
Hy thiêm, Lá lốt không sai món nào
Tìm thêm Ngưu tất bỏ vào
Bệnh lành chóng khỏi mau mau đi làm.
3. Nhở khi sương gió ho viêm
Rau tần, Rẻ quạt, Thiên môn, Sâm đại hành
4. Tiêu chảy bệnh cứ hoành hành
Hoắc hương, Riềng, Ổi uống vào liền tay.
5. Rau tần, rẻ quạt, thiên môn, sâm đại hành
Tiêu chảy, bệnh cứ hoành hành
Hoắc hương, riềng, ổi uống vào liền tay.
6. Thuốc nam đánh giặc,
Thuốc bắc lấy tiền.
17. Ca dao tục ngữ về con tằm
1. Bấy lâu vắng tiếng vắng tăm
Như đàn vắng nhị, như tằm vắng dâu.
2. Mẹ ơi đừng có âu sầu
Quay tơ đánh ống làm giàu mấy hơi!
3. Thương nhau chẳng lấy được nhau
Trở về đắp bãi trồng dâu nuôi tằm.
4. Em như hòn núi Ba Vì
Rộng thì bốn biển, hẹp thì trôn kim
– Anh như con chim con con
Ngày dạo chơi bốn biển, tối về non hắn nằm
Anh thương em đứt ruột con tằm
Quyết xe săn mũi chỉ để xỏ nhằm cái trôn kim.
5. Mấy lời hẹn ước từ xưa
Mất tơ nên phải đến vơ lấy tằm.
6. Năm canh trông bạn cả năm
Ruột khô gan héo như tằm rối tơ.
7. Tơ tằm đã vấn thì vương
Đã trót dan díu thì thương nhau cùng.
8. Ra về đường rẽ chia tư
Đạo chồng nghĩa vợ, ai trao thư chớ cầm
Đôi ta thật dạ đồng tâm
Như chim xây tổ, như tằm kéo tơ.
9. Vì tằm, em phải chạy dâu
Vì chồng, em phải qua cầu đắng cay.
10. Một ngàn năm, một vạn năm
Con tằm vẫn kiếp con tằm vương tơ
Biết đâu trong đục mà chờ
Con thuyền còn đứng bến chờ đợi ai.
11. Em tôi buồn ngủ buồn nghê
Con tằm chín đỏ, con dê mọc sừng
Mọc sừng thì mọc giữa lưng
Đừng mọc trên mắt nó sưng tù vù.
12. Mua nồi phải nhớ lấy vung
Kéo tơ nhớ ngãi con tằm thuở xưa.
13. Mong sao anh biến ra tằm
Em biến ra nống ta nằm chung chơi
Khi nào cho hợp hai nơi
Ghé tai nói nhỏ những lời thủy chung.
14. Tằm ơi say đắm nơi đâu
Mà tằm bỏ nghĩa cành dâu không nhìn.
15. Tằm đâu mà leo cành dâu
Lòng ông hoa nguyệt nên râu ông xồm.
16. Thương thay thân phận con tằm,
Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ
Thương thay lũ kiến li ti,
Kiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi
18. Ca dao tục ngữ về con ngựa
1. Ngựa ô chẳng cưỡi, chẳng bò,
Đường ngay không chạy, chạy dò đường quanh.
2. Ngựa hay chẳng quản đường dài,
Nước kiệu mới biết tài trai anh hùng.
3. Hỡi cô thắt dải lưng xanh,
Ngày ngày thấp thoáng bên mành chờ ai?
Trước đường xe ngựa bời bời,
Bụi hồng mờ mịt ai người mắt xanh!
4. Đường dài ngựa chạy biệt tăm,
Người thương có nghĩa trăm năm cũng về.
5. Năm con ngựa bạch sang sông,
Năm gian nhà ngói đèn trong đèn ngoài.
Đèn yêu ai mà đèn chẳng tắt?
Ta yêu mình nước mắt nhỏ ra.
6. Tiếc thay con ngựa cao bành,
Để cho chủ ấy tập tành không nên.
7. Sông sâu ngựa lội ngập kiều,
Dầu anh có phụ, có nhiều nơi thương.
8. Đường dài ngựa chạy cát bay,
Ngãi nhân thăm thẳm một ngày một xa.
9. Em có chồng rồi như ngựa có cương,
Ngõ em em đứng, đường trường anh đi…
10. Xa thì mượn ngựa anh đi,
Quý hồ tốt quảy, quản chi xa gần.
Ước gần mà chẳng được gần,
Ai làm cách Việt xa Tần thế ni?
11. Em đã có chồng như ngựa đủ yên,
Anh chưa có vợ như chiếc thuyền nghiêng giữa vời.
12. Có chồng như ngựa có cương
Đắng cay cũng chịu, vui thương cũng nhờ.
13. Ngựa ô anh thắng kiệu vàng,
Anh tra khớp bạc,
Lục lạc đồng đen,
Búp sen lá rậm,
Dây cương đằm thắm,
Cán roi anh bịt đồng,
Anh đưa nàng về dinh…
14. Thằng Cuội ngồi gốc cây đa,
Để trâu ăn lúa, gọi cha ời ời.
Cha còn cắt cỏ trên trời,
Mẹ còn cưỡi ngựa đi mời quan viên.
Ông thời cầm bút cầm nghiên,
Ông thời cầm tiền đi chuộc lá đa.
15. Gập ghềnh nước chảy qua đèo,
Ngựa xô xuống biển, thuyền chèo lên non.
16. Con dân cầm đòn càn,
Con quan được cưỡi ngựa.
17. Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ.
18. Chiêu binh mãi mã.
19. Mã đáo thành công.
20. Ngựa non háu đá.
21. Cưỡi ngựa xem hoa.
22. Ngựa chứng là ngựa hay.
23. Ngựa quen đường cũ.
24. Ngưu tầm ngưu mã tầm mã.
25. Da ngựa bọc thây.
26. Đầu trâu mặt ngựa.
27. Thẳng như ruột ngựa.
29. Đơn thương, độc mã (một ngựa với một cây thương).
30. Ngựa xe như nước, áo quần như nêm.
31.Ngựa lồng cóc cũng lồng.
32. Ngựa nào gác được hai yên.
33. Thiên binh vạn mã.
34. Một mình một ngựa.
35. Một lời nói ra bốn ngựa khó tìm (Nhất ngôn ký xuất tứ mã nan truy).
36. Tái ông mất ngựa.
37. Bóng ngựa qua cửa sổ.
38. Dài như mặt ngựa.
39. Voi giày ngựa xé.
40. Đường dài mới hay sức ngựa.
41. Thay ngựa đổi chủ.
42. Thay ngựa giữa dòng.
43. Ngựa về ngược.
44. Ngũ mã phanh thây.
41. Làm thân trâu ngựa.
19. Ca dao tục ngữ về con người và thiên nhiên
1. Cày đồng đang buổi ban trưa,
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.
Ai ơi bưng bát cơm đầy,
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần!
2. Ơn trời mưa nắng phải thì
Nơi thì bừa cạn, nơi thì cày sâu.
Công lênh chẳng quản bao lâu
Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng
Ai ơi! chớ bỏ ruộng hoang
Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu.
3. Người ta đi cấy lấy công
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề
Trông trời, trông đất, trông mây
Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm
Trông cho chân cứng đá mềm
Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng.
4. Trên đồng cạn, dưới đồng sâu
Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa
5. Rủ nhau đi cấy đi cày
Bây giờ khó nhọc, có ngày phong lưu
6. Muốn cho lúa nảy bông to
Cày sâu bừa kĩ phân tro cho nhiều
7. Trời mưa trời gió đùng đùng
Bố con ông Nùng đi gánh phân trâu
Đem về trồng bí trồng bầu
Trồng ngô, trồng lúa, trồng rau, trồng cà.
8. Nhờ trời mưa gió thuận hòa
Lúa vàng đầy ruộng, lời ca vang đồng.
9. Lúa khô cạn nước ai ơi,
Rủ nhau tát nước chờ trời còn lâu.
10. Chớp đằng Đông vừa trông vừa chạy
Chớp đằng Nam vừa làm vừa chơi
11. Lúa chiêm lấp ló đầu bờ
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên
12. Kiến đen tha trứng lên cao
Thế nào cũng có mưa rào rất to
13. Lợn ăn xong lợn nằm lợn béo
Lợn ăn xong lợn réo lợn gầy
14. Ao sâu tốt cá
15. Cấy thưa thừa thóc, cấy dày cóc được ăn
16. Chó khôn tứ túc huyền đề, tai thì hơi cúp, đuôi thì cong cong
17. Con trâu là đầu cơ nghiệp
18. Đàn ông học sẩy học sàng, đến khi vợ đẻ thì làm mà ăn
19. Đất thiếu trồng dừa, đất thừa trồng cau
20. Đói thì ăn ráy ăn khoai, đừng thấy lúa giỗ tháng Hai mà mừng
21. Ếch tháng Ba, gà tháng Bảy
22. Khoai đất lạ, mạ đất quen
23. Làm ruộng thì ra, làm nhà thì tốn
24. Tháng bảy kiến bò, chỉ lo lại lụt.
25. Ráng mỡ gà thì gió, ráng mỡ chó thì mưa.
26. Én bay thấp mưa ngập bờ ao, én bay cao mưa rào lại tạnh.
27. Đất có thổ công, sông có hà bá.
28. Có công mài sắt, có ngày nên kim.
29. Trăng quầng thì hạn, trăng tán thì mưa.
20. Ca dao tục ngữ về con trai và con gái
1. Trai nào khôn bằng trai Long Mỹ
Gái nào mũm mĩm bằng gái Hà Tiên.
2. Tiếng đồn con gái Nam Diêu
Làm giỏi hát giỏi, mĩ miều nước da
Tiếng đồn con trai Thanh Hà
Nói năng lịch thiệp như là văn nho.
3. Trai tráng sĩ so vai rụt cổ
Gái thuyền quyên mặt bủng da chì
4. Gái phải hơi trai như thài lài gặp cứt chó
Trai phải hơi gái, thì mặt tái râu phờ.
5. Gươm hay còn bởi đá mài
Đầu lòng sanh đặng con trai phải mừng.
6. Lầu nào cao bằng lầu ông phó
Chuyện nào khó bằng chuyện gái trai
Anh về cậy mối với mai
Chớ đừng liếc mắt xem ai, họ đồn.
7. Em về chẳng có chi đưa
Trông trời hửng nắng đừng mưa trơn đường.
8. Trông anh chẳng thấy anh ra
Em ngồi đãi cát sương sa lạnh lùng
Những mong hai bóng chung cùng
Đâu hay sóng cuốn muôn trùng biển khơi.
9. Ai đồn quanh quẩn loanh quanh
Sao em nói dại làm anh giựt mình rứa em?
Lính mô lính nớ ai thèm
Đi chết uổng mạng, xa em răng đành.
10. Khuyên anh cờ bạc thời chừa
Rượu chè, trai gái say sưa mặc lòng.
11. Trai giỏi giắn không lo ế vợ
Gái lịch xinh chẳng sợ ế chồng.
12. Khuyên đừng trai gái loang toàng
Khuyên đừng chè rượu nữa mang tiếng cười.
13. Bèo than phận bèo khi trôi khi nổi
Bí than phận bí, ngắt đọt nấu canh
Anh than phận anh làm trai chưa vợ
Em than phận em làm gái chưa chồng
Trách ai se sợi chỉ hồng
Không săn lại rối cho lòng anh đau..
14. Đây trai thời đó cũng trai
Mặc tình nhi nữ đành ai thì đành.
15. Chuông vàng đánh nhẹ kêu thanh
Trai khôn ít nói, gái lanh biết nhiều
Rựa hay bén chẳng bằng rìu
Bạn muốn làm nên cơ nghiệp, phải chiều lòng em.
16. Giai ở trại, gái hàng cơm.
17. Gái khôn trai dỗ, lâu buồn cũng xiêu.
18. Trai tơ Tuân Lộ, gái tơ Thanh Bào.
19. Trai bất tài chưa làm đã hỏi
Gái vô duyên chưa nói đã cười.
20. Trai chưa vợ hay đứng đường
Gái chưa chồng giương mắt xem ai.
21. Ca dao tục ngữ về con vật
1. Chuột chù chê khỉ rằng hôi
Khỉ mới trả lời: cả họ mày thơm!
2. Chim chích mà đậu cành sồi
Chuột chù trong cống đòi soi gương Tàu.
3. Cần chi cá lóc, cá trê
Thịt chuột, thịt rắn nhậu mê hơn nhiều!
4. Con chi rọt rẹt sau hè
Hay là rắn mối tới ve chuột chù?
5. Vịt chê lúa lép không ăn
Chuột chê nhà trống ra nằm bụi tre
6. Ruộng đầm nước cả bùn sâu,
Suốt ngày anh với con trâu cày bừa.
7. Mất trâu thì lại tậu trâu
Những quân cướp nợ có giàu hơn ai.
8. Trâu sút vó, chó sút lông
Con gái chưa chồng lội qua cũng chửa.
9. Thôi thôi chịu hắt đi nà
Trâu băng ruộng sạ dấu mà còn đây.
10. Được bạn thì lại bỏ bè
Được con trâu chậm, lại chê me không cày.
11. Ai làm cho ách xa cày,
Trâu xa chạc mũi, đôi ta rày xa nhau.
12. Chẳng qua số phận long đong
Cột trâu trâu đứt, cột tròng tròng trôi.
13. Trâu kia chết để bộ da
Người chết để tiếng xấu xa muôn đời.
14. Mất trâu mất ruộng không màng
Mất cây cuốc mục ra làng kiện thưa.
15. Đời vua Thái Tổ, Thái Tông
Thóc lúa đầy đồng, trâu chẳng buồn ăn.
16. Con mèo, con mẻo, con meo
Ai dạy mày trèo, mà chẳng dạy tao?
17. Thương ai chăm bẵm đám bèo
Cắc ca cắc củm cho mèo nấu ăn.
18. Con mèo, con mẻo, con meo
Muốn ăn thịt chuột, phải leo trần nhà.
19. Con mèo làm vỡ nồi rang
Con chó chạy lại nó mang lấy đòn.
20. Mèo hoang lại gặp chó hoang
Anh đi ăn trộm, gặp nàng bới khoai.
21. Con mèo đánh giặc đông tây
Con voi nằm bếp ỉa đầy nồi rang.
22. Mèo nằm trổ máng vênh râu
Chuột chạy không bắt, lắc đầu nghêu ngao.
23. Mèo thấy mỡ mèo thèm chết giãy
Mỡ thấy mèo mỡ nhảy tê tê.
24. Con mèo xáng vỡ nồi rang
Con chó chạy lại nó mang lấy đòn.
25. Ngựa ô trổ mã thành rồng
Anh đây trổ mã thành chồng của em.
26. Rồng giao đầu, phượng lại giao đuôi
Ngày nay tôi hỏi thiệt, mình thương tôi không mình?
27. Ông rồng nằm miệng chậu, ông rồng leo
Thân người ta có đôi ra rả, thân anh chèo queo một mình.
28. Ai làm cho vượn lìa cây,
Cho chim lìa tổ, cho mây lìa rồng.
29. Ai làm cho vịt bỏ đồng,
Cho công bỏ rú, cho rồng bỏ mưa.
30. Thế gian được vợ hỏng chồng
Có đâu như rồng mà được cả đôi.
31. Khi đi gặp rắn thì may,
Khi về gặp rắn thì hay bị đòn.
Có phúc thì rắn hóa rồng
Vô phúc phượng lại đổi lông hóa cò.
32. Rắn đứt đầu, rắn hãy còn bò
Chim đứt cánh, chim hãy còn bay
Từ ngày xa bạn tới nay
Cơm ăn chẳng đặng, nằm hoài tương tư.
33. Con rắn bò ngang
Con rắn đi mất, dấu đất còn dằm
Thiếp với chàng chịu tiếng mang tăm
Cứ theo nhau cho trọn mối tơ tằm đừng nguôi.
34. Con rắn không chân, con rắn biết
Đá có ngọc ẩn, thì đá hay
Tội thì thiếp chịu, vạ chi lây tới chàng?
35. Khôn ngoan đá đáp người ngoài
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.
36. Đầu già nhưng đít chẳng già
Tay chân già cả, cựa gà còn non!
37. Con công ăn lẫn với gà
Rồng kia rắn nọ, xem đà sao nên.
38. Con gà tốt mã vì lông
Răng đen vì thuốc, rượu nồng vì men.
39. Đầu gà má lợn thì chê
Lấy thằng câu ếch đi rê ao bèo.
40. Dẫu tin thì cũng đề phòng
Gà kia một trứng hai lòng biết đâu.
41. Mẹ ơi mẹ bạc như gà
Con chưa lẻ mẹ, mẹ đà lẻ con.
42. Lợn bột thì thịt ăn ngon
Lợn nái nuôi đẻ lợn con cũng lời.
43. Trách ai dụm miệng nói gièm
Cho heo kia bỏ máng, chê hèm không ăn.
44. Lợn chê mèo có lắm lông
Kì tình lợn cũng bằng ông con mèo.
45. Con lợn mắt trắng thì nuôi
Những người mắt trắng đánh rồi đuổi đi.
46. Đầu gà má lợn thì chê
Lấy thằng câu ếch đi rê ao bèo.
47. Chuột đội vỏ trứng
48. Chuột khôn có mèo hay
49. Trâu cổ vò, bò cổ giải
50. Đầu nheo hơn phèo trâu
51. Trật con toán, bán con trâu
52. Hùng hục như trâu húc gò mả
53. Thịt trâu gầy, cày trâu béo
54. Khỏe như tru, ngu như lợn
55. Trâu đeo mõ, chó leo thang
56. Mua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi
57. Mua trâu xem vó, mua chó xem chân
58. Mồm gàu giai, tai lá mít, đít lồng bàn
59. Trâu quá sá, mạ quá thì
60. Cáo mượn oai hùm
61. Cầm gươm đằng lưỡi, cưỡi hổ đằng đầu
62. Chim cùng thì mổ, hổ cùng thì vồ
64. Chui vào hang hùm
65. Mỡ để miệng mèo, gươm treo chỉ mảnh
66. Tiu nghỉu như mèo cắt tai
67. Chưa biết mèo nào cắn mỉu nào
68. Mèo uống nước bể
69. Coi mèo vẽ hổ
70. Rồng vàng tắm nước ao tù
71. Ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo, làm như mèo mửa
72. May hóa long, không may xong máu
73. Rồng đen lấy nước thì nắng, rồng trắng lấy nước thì mưa
74. Mấy đời gỗ mục đóng nên thuyền rồng
75. Trứng rồng lại nở ra rồng, liu điu lại nở ra dòng liu điu
76. Dẫu ngồi cửa sổ chạm rồng, chiếu hoa nệm gấm không chồng cũng hư
77. Gái có chồng như rồng có vây, gái không chồng như cối xay chết ngõng
22. Ca dao tục ngữ về con rồng cháu tiên
1. Ai là con cháu Rồng Tiên,
Tháng hai mở hội Trường Yên thì về.
Về thăm đô cũ Đinh Lê,
Non xanh nước biếc bốn bề như tranh.
2. Trứng rồng lại nở ra rồng, liu điu lại nở ra dòng liu điu.
3. Mấy khi rồng gặp mây đây
Để rồng than thở với mây vài lời
23. Ca dao tục ngữ về con ong
1. Bướm châm mà bướm lại lầm
Bông kia nở sớm ong châm hết rồi.
2. Em chớ thấy anh bé mà sầu,
Kìa con ong nó bao nhiêu tuổi,
Nó châm bầu, bầu thui!
3. Ngó vô đám lức có con ong vàng
Coi đi coi lại duyên nàng còn nguyên.
4. Ong kiến còn có vua tôi
Huống chi loài người chẳng có nghĩa ru?
6. Bông thơm nở cạnh bìa rừng
Ong, ve chưa dám đậu, lũ bướm đừng lau chau.
7. Em ơi đừng thấy nhỏ mà rầu
Con ong bây lớn đốt trái bầu cù queo!
8. Mồ cha con bướm trắng, đẻ mẹ con ong xanh
Khen ai uốn lưỡi cho ranh nói càn
Mồ cha con bướm trắng, đẻ mẹ con ong vàng
Khen ai uốn lưỡi cho nàng nói chua.
9. Đôi ta như ruộng năm sào
Cách bờ ở giữa làm sao cho liền?
Đôi ta như thể đồng tiền
Đồng sấp đồng ngửa đồng nghiêng đồng nằm
Đôi ta như thể con tằm
Cùng ăn một lá cùng nằm một nong
Đôi ta như thể con ong
Con quấn con quýt con trong con ngoài
Đôi ta như thể con bài
Đã quyết thì đánh đừng nài thấp cao
Đôi ta như đá với dao
Năng liếc năng sắc năng chào năng quen.
10. Bướm già thì bướm có râu
Thấy bông vừa nở cắm đầu bướm châm
Bướm châm mà bướm lại lầm
Bông kia nở sớm ong châm mất rồi.
11. Nuôi ong tay áo
Nuôi cáo chuồng gà.
12 Ong làm mật không được ăn,
Yến làm tổ không được ở.
13. Trêu ong ong đốt
Trêu Bụt Bụt đâm.
24. Ca dao tục ngữ về công lao của thầy cô
1. Con ơi ham học chớ đùa
Bữa mô ngày Tết thỉnh bùa thầy đeo.
2. Cơm cha, áo mẹ, chữ thầy
Nghĩ sao cho bõ những ngày ước mong.
3. Ơn thầy soi lối mở đường
Cho con vững bước dặm trường tương lai
4. Gươm vàng rớt xuống Hồ Tây
Ơn cha nghĩa trọng công thầy cũng sâu.
5. Mấy ai là kẻ không thầy
Thế gian thường nói đố mày làm nên.
6. Vua, thầy, cha, ấy va ngôi
Kính thờ như một, trẻ ơi ghi lòng.
7. Mười năm rèn luyện sách đèn
Công danh gặp bước, chớ quên ơn thầy.
8. Mẹ cha công đức sinh thành
Ra trường thầy dạy học hành cho hay.
9. Ơn Thầy không bằng gốc bễ
Nghĩa Thầy gánh vác cuộc đời học sinh.
10. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
Có danh có vọng nhớ thầy khi xưa.
11. Công cha, áo mẹ, chữ thầy
Gắng công mà học có ngày thành danh.
12. Bẻ lau làm viết chép văn
Âu Dương có mẹ dạy răn như thầy.
13. Ở đây gần bạn gần thầy
Có công mài sắt có ngày nên kim
14. Mười năm rèn luyện sách đèn
Công danh gặp ước, chớ quên ơn thầy.
15. Tạ ơn thầy đã dẫn con vào rừng tri thức
Cảm nghĩa cô đã dắt trò đến biển yêu thương.
16. Con hơn cha là nhà có phúc
Trò hơn thầy là đất nước yên vui.
17. Dốt kia thì phải cậy thầy
Vụng kia cậy thợ thì mày làm nên.
18. Đến đây viếng cảnh viếng thầy
Không say mùi đạo cũng khuây mùi trần.
19. Con ơi ghi nhớ lời này
Công cha, nghĩa mẹ, công thầy chớ quên.
20. Chữ thầy trong cõi người ta
Dặm dài hoa nắng trời xa biển đầy.
21. Dạy con từ thửo tiểu sinh
Gần thầy gần bạn tập tành lễ nghi
Học cho "cách vật trí tri"
Văn chương chữ nghĩa nghề gì cũng thông.
22. Ai người đánh thức đêm trường mộng
Ai soi đường lồng lộng ánh từ quang
AI thắp lửa bồ đề tỏa sáng
Đạo vô vi sưởi ấm cả trần gian.
23. Khó thì hết thảo hết ngay
Công cha cũng bỏ, nghĩa thầy cũng quên.
24. Dòng sông sâu con sào dài đo được
Lòng người đưa đò ai biết được sự bao la.
25. Ơn dạy dỗ cao tường hơn núi
Nghĩa thầy trò như nước biển khơi.
26. Tiên học lễ, hậu học văn
27. Nhất tự vi sư, bán tự vi sư.
28. Muốn sang thì bắc cầu kiều, muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy.
29. Không thầy đố mày làm nên.
30. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.
31. Mồng 1 tết cha, mồng ba tết thầy.
32. Nhất quý nhì sư.
33. Trọng thầy mới được làm thầy.
34. Ăn vóc học hay.
35. Ông bảy mươi học ông bảy mốt.
25. Ca dao tục ngữ về công cha nghĩa mẹ
1. Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
2. Đi khắp thế gian không ai tốt bằng Mẹ,
Gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng Cha.
3. Gió mùa thu mẹ ru con ngủ,
Năm canh chầy, thức đủ năm canh
4. Thờ cha mẹ, ở hết lòng,
Ấy là chữ hiếu, dạy trong luân thường
5. Cha mẹ đòi ăn cá thu,
Gả con xuống biển mù mù tăm tăm
6. Bao giờ cá lý hóa long,
Đền ơn cha mẹ ẵm bồng xưa nay.
7. Đêm đêm con thắp đèn trời
Cầu cho cha mẹ sống đời với con.
8. Của đời cha mẹ để cho,
Làm không ăn có, của kho cũng rồi.
9. Cây xanh thì lá cũng xanh
Cha mẹ hiền lành để đức cho con.
10. Đường đi những lách cùng lau
Cha mẹ tham giàu ép uổng duyên con.
Duyên sao cắc cớ hỡi duyên!
Cầm gương gương tối, cầm vàng vàng phai.
11. Đèn cu li nửa nước nửa dầu,
Nửa thương cha mẹ, nửa sầu nợ duyên.
12. Cha mẹ giàu thì con thong thả,
Cha mẹ nghèo, con cực đã gian nan.
Sáng mai kiếm củi trên ngàn,
Chiều về xuống biển mò hang cua còng.
13. Cá không ăn muối cá ươn,
Con cãi cha mẹ trăm đường con hư.
14. Đố ai đếm được vì sao
Đố ai đếm được công lao mẹ già.
Đói lòng ăn hột chà là
Để cơm cho mẹ, mẹ già yếu răng
15. Mẹ dạy thì con khéo,
Bố dạy thì con khôn.
16. Con ơi con ngủ đi con,
Con khóc làm mẹ héo hon tấc lòng.
17. Cũng thì con mẹ con cha,
Cành cao vun xới, cành la bỏ liều.
18. Mẹ nuôi con biển hồ lênh láng,
Con nuôi mẹ kể tháng kể ngày.
19. Một mẹ nuôi được mười con,
Mười con không nuôi được một mẹ.
20. Công cha như núi ngất trời,
Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông.
Núi cao biển rộng mênh mông,
Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi!
21. Tôm càng lột vỏ, bỏ đuôi
Giã gạo cho trắng mà nuôi mẹ già.
22. Tưởng rằng là đạo mẹ cha,
Con trai con gái cũng là một thương
23. Gió đưa cây cải lý hương,
Xa cha xa mẹ thất thường bữa ăn.
Sầu riêng cơm chẳng muốn ăn,
Đã bưng lấy bát lại dằn xuống mâm
24. Cơm cha áo mẹ ai ơi,
Chẳng ăn thua thiệt, chẳng chơi cũng hoài
25. Cồng cộc bắt cá dưới bàu,
Cho mẹ mày giàu, đám giỗ đầu heo
26. Có cha có mẹ thì hơn,
Không cha không mẹ như đờn đứt dây
27. Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều
28. Chiều chiều ngó ngược, ngó xuôi
Ngó không thấy mẹ, ngùi ngùi nhớ thương
29. Ân cha nặng lắm cha ơi!
Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang.
30. Đói lòng ăn hạt chà là,
Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng.
31. Con có cha mẹ đẻ, không ai ở lỗ nẻ mà lên.
32. Có nuôi con mới biết lòng cha mẹ.
33. Cha mẹ giàu con có, cha mẹ khó con không
34. Con có mẹ như măng ấp bẹ
35. Nhất mẹ, nhì cha, thứ ba bà ngoại
36. Con lên ba, mẹ sa xương sườn
37. Cha sinh mẹ dưỡng
26. Ca dao tục ngữ về cơ hội
1. Cá bống nấu với cỏ hôi
Tiếc công thầy mẹ trau dồi cho em.
2. Khi cấy thì chẳng thấy chim
Đến khi lúa chín chim tìm tới ăn.
3. Trâu lành không ai mặc cả
Trâu ngã lắm kẻ cầm dao.
4. Đắm đò giặt mẹt.
5. Chợ chưa họp kẻ cắp đã tới.
6. Chim trời cá nước, ai được thì ăn.
7. Trai cò đánh nhau, ngư ông đắc lợi.
8. Gần tre che một phía
Gần mía bẻ một cây.
9. Cờ đến tay ai người ấy phất.
27. Ca dao tục ngữ về cơm áo
1. Cơm áo không đùa với khách thơ,
Không khéo thì thơ phải đói nhờ người ta.
2. Cơm ăn chẳng đủ no lòng,
Áo quần chẳng đủ ấm, trông ngày dài.
3. Cơm áo không đùa với khách văn chương.
4. Cơm là gạo áo là tiền.
5. Đói cho sạch, rách cho thơm.
28. Ca dao tục ngữ về cơm
1. Cơm nhà ăn ngon, con nhà dễ khiến
Ba bà bốn truyện kháo chuyện nàng dâu.
2. Cơm hẩm ăn với rau dưa,
Quan họ làm khách em chưa vừa lòng.
3. Cơm này là ngọc là châu
Không bóc mía tím biết đâu cơm vàng.
4. Cơm này là nghĩa đá vàng
Chồng em vẫn đợi mấy chàng bưng mâm.
5. Cơm này nửa sống nửa khê,
Vợ đơm chồng nếm chẳng chê cơm này.
6. Gặp cơm Ba Thắc thơm ngon
Chan nước mắm Hòn ăn chẳng muốn thôi.
7. Cơm ăn mỗi bữa mỗi lưng,
Hơi đâu mà giận người dưng thêm phiền.
8. Thấy nếp thì lại thèm xôi
Ngồi bên thúng gạo nhớ nồi cơm thơm
Hai tay xới xới đơm đơm
Công ai cày cấy sớm hôm đó mà.
9. Cơm ăn một bát sao no
Ruộng cày một lượt sao cho đành lòng
Sâu cấy lúa, cạn gieo bông
Chẳng ương được đỗ thì trồng ngô khoai.
10 Ăn cơm cũng thấy nghẹn
Uống nước cũng thấy nghẹn
Nghe lời em hẹn ra bãi đứng trông
Biển xanh bát ngát nhìn không thấy người
Mênh mông sông nước xa vời
Biết rằng còn nhớ những lời thề xưa
Trông ai như cá trông mưa
Ngày đêm tưởng nhớ, như đò đưa trông nồm
Bậu ơi! bậu có nhớ không?
Anh trông ngóng bậu, như rồng ngóng mưa.
11. Cơm sôi to lửa thì ngon
Cháo sôi to lửa thì còn nồi không.
12. Chồng giận thì vợ bớt lời
Cơm sôi nhỏ lửa chẳng đời nào khê.
13. Mồ côi cha ăn cơm với cá
Mồi côi mẹ lót lá mà nằm.
14. Ai ai cũng tưởng bậu hiền
Cắn cơm không bể, cắn tiền bể hai.
15. Con ơi chớ lấy vợ giàu
Cơm ăn chê hẩm, cá kho bầu nó chê tanh.
16. Ăn cơm sao đặng mà mời
Nước mắt lênh láng rã rời hạt cơm
Mình ơi đừng đặng cá quên nơm
Đôi ta gá nghĩa danh thơm để đời
Cóc nghiến răng còn động đến lòng trời
Sao mình chẳng tưởng mấy lời em than.
17. Tiếc nồi cơm trắng để ôi
Tiếc con người lịch mà soi gương mờ.
18. Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hột đắng cay muôn phần.
19. Ăn cơm một bữa một lưng
Uống nước cầm chừng để dạ thương em.
20. Cơm chín tới
Cải ngồng non
Gái một con
Gà nhảy ổ.
21. Sớm rửa cưa
Trưa mài đục
Tối giục cơm.
22. Sấm trước cơm sấm no
Sấm sau cơm sấm đói.
23. Cơm treo mèo nhịn đói.
24. Giúp lời không ai giúp của
Giúp đũa không ai giúp cơm.
25. Cơm chéo áo, gạo chéo khăn.
26. Cơm không rau như đau không thuốc.
27. Có cá đổ vạ cho cơm.
28. Cơm khô là cơm thảo,
Cơm nhão là cơm hà tiện.
29. Cơm sống vì nồi, không sống vì vung.
30. Cơm sống tại nồi,
Cơm sôi tại lửa.
31. Cơm đắp đầu gối
29. Ca dao tục ngữ về cơn mưa
1. Trời mưa cho ướt lá dừa,
Cho anh gần mẹ, cho vừa gần em.
2. Trời mưa bong bóng phập phồng,
Mẹ đi lấy chồng con ở với ai?
3. Trời mưa thì mặc trời mưa,
Anh đi cấy sớm trưa anh về.
4. Trời mưa nước chảy quanh sân,
Em ngồi em nghĩ thương thân em nhiều.
5. Trời mưa cho ướt áo em,
Ướt rồi em chịu, ướt thêm cũng đành.
6. Trời mưa nước đổ lá khoai,
Anh thương em thật, anh nói chẳng sai.
7. Trời mưa cho ướt lá dầm,
Thương anh cực khổ mấy năm cũng đành.
8. Trời mưa nước chảy đầy đồng,
Ai ơi giữ lấy tấm lòng thủy chung.
9. Trời mưa bong bóng lênh đênh,
Thân em như giếng giữa ghềnh chênh vênh.
10. Trời mưa cho ướt cành dâu,
Em thương anh lắm, biết đâu mà lần.
11. Trời mưa nước đổ mái tranh,
Thương anh áo rách một manh chẳng lành.
12. Trời mưa ướt áo ướt quần,
Ướt thân em chịu, ướt phần duyên em.
13. Trời mưa nước chảy qua cầu,
Thương anh em biết để đâu cho vừa.
14. Trời mưa nước chảy ròng ròng,
Nhớ ai ruột héo gan mòn khôn nguôi.
15. Trời mưa nước đổ ngoài hiên,
Nhớ ai như nhớ người quen thuở nào.
16. Trời mưa nước chảy đầm đìa,
Thương người lỡ bước biết chia cùng ai.
17. Trời mưa cho ướt bờ ao,
Ướt bờ ao chịu, ướt vào dạ em.
18. Trời mưa nước đổ lá sen,
Lòng em trong sạch chẳng hèn chẳng dơ.
19. Trời mưa cho ướt mái nhà,
Ướt rồi em vá, miễn là có anh.
20. Trời mưa nước chảy lưng đồi,
Thương anh vất vả sớm hôm nhọc nhằn.
21. Trời mưa nước đổ bờ tre,
Thương ai em nhớ lời thề năm xưa.
22. Trời mưa bong bóng vỡ tan,
Thân em phận mỏng biết toan nỗi gì.
23. Trời mưa nước chảy mênh mang,
Nhớ anh em khóc hai hàng lệ rơi.
24. Trời mưa cho ướt hàng cau,
Thương người quân tử dãi dầu nắng mưa.
25. Trời mưa nước đổ ruộng sâu,
Thương nhau giữ trọn nghĩa lâu bền lòng.
26. Mưa dầm thấm lâu.
27. Mưa thuận gió hòa.
28. Mưa to gió lớn.
29. Mưa như trút nước.
30. Mưa nắng là chuyện của trời.
31. Mưa đầu mùa, cày bừa cho kịp.
32. Mưa tháng ba, hoa đất.
33. Mưa tháng bảy gãy cành trám.
34. Mưa không qua khỏi ngày rằm.
35. Mưa lâu hóa lụt.
36. Mưa dông bất chợt.
37. Mưa xuống nước lên.
38. Mưa sa ruộng cạn.
39. Mưa đúng lúc, lúa tốt bông.
40. Mưa nhiều sinh lụt.
41. Mưa nắng thất thường.
42. Mưa dãi gió dầu.
43. Mưa lớn gió mạnh.
44. Mưa sa đâu, cỏ mọc đó.
45. Mưa thuận thì mùa tốt.
46. Mưa dầm tháng bảy, lúa gãy cành cong.
47. Mưa to không lâu, nắng lâu không bền.
48. Mưa gió đổi mùa.
49. Mưa gió là thử lòng người.
50 Mưa nhiều thì úng, nắng nhiều thì hạn.
30. Ca dao tục ngữ về cuộc sống khó khăn
1. Thân em như tấm lụa đào,
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.
2. Thân em như trái bần trôi,
Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu.
3. Thân em như hạt mưa sa,
Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày.
4. Thân em như giếng giữa đàng,
Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân.
5. Thân em như con cò lặn lội,
Bờ sông gánh gạo nuôi chồng tiếng tăm.
6. Con cò mà đi ăn đêm,
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.
7. Ai ơi bưng bát cơm đầy,
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần.
8. Cày đồng đang buổi ban trưa,
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.
9. Cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc,
Thương thân cực khổ trăm bề.
10. Ban ngày đi chợ bán rau,
Ban đêm kéo sợi dệt thao nuôi mình.
11. Một nắng hai sương,
Thân cò lặn lội ven sông.
12. Thân em vất vả trăm chiều,
Sớm hôm cày cấy lo điều đói no.
13. Nghèo cho sạch, rách cho thơm,
Dẫu trong cơ cực vẫn còn nghĩa nhân.
14. Áo rách vai, quần vá gối,
Thương thân nghèo khó suốt đời long đong.
15. Cơm rau nuôi lấy thân mình,
Dẫu nghèo vẫn giữ chữ tình vẹn nguyên.
16. Có làm thì mới có ăn.
17. Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ.
18. Một nắng hai sương.
19. Bán mặt cho đất, bán lưng cho trời.
20. Đói cho sạch, rách cho thơm.
21. Có bột mới gột nên hồ.
22. Đói ăn vụng, túng làm liều.
23. Nghèo thì phải chịu khó.
24. Đói kém sinh đạo tặc.
25. Giật gấu vá vai.
26. Chạy ăn từng bữa.
27. Ăn bữa nay, lo bữa mai.
28. Thắt lưng buộc bụng.
29. Liệu cơm gắp mắm.
30. Cơm không lành, canh chẳng ngọt.
31. Ca dao tục ngữ về cuộc sống tích cực
1. Ở đời vui đạo hãy tùy duyên,
Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền.
2. Ai ơi giữ chí cho bền,
Dù ai xoay hướng đổi nền mặc ai.
3. Dẫu ai nói ngả nói nghiêng,
Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân.
4. Ở hiền thì lại gặp hiền,
Người ngay trời Phật chẳng quên bao giờ.
5. Người trồng cây hạnh người chơi,
Ta trồng cây đức để đời mai sau.
6.Thất bại là mẹ thành công.
7. Kiến tha lâu đầy tổ.
8. Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo.
9. Thuận vợ thuận chồng, tát biển Đông cũng cạn.
10. Có công mài sắt, có ngày nên kim.
32. Ca dao tục ngữ về Củ Chi
1. Sông Sài Gòn chạy dài Chợ Củ
Nước mênh mông nước lũ phù sa
2. Củ Chi đất thép anh hùng,
Lũy tre che chở, kiên cường tháng năm.
3. Củ Chi địa đạo quanh co,
Bom rơi đạn nổ vẫn lo sản xuất.
4. Ai về đất thép Củ Chi,
Mới hay lòng đất thầm thì chiến công.
5. Củ Chi địa đạo anh hùng,
Trên là làng xóm, dưới lòng chiến khu.
6. Đất Củ Chi lắm hố nhiều hầm,
Nuôi quân đánh giặc âm thầm mà sâu.
7. Củ Chi gạo trắng nước trong,
Nuôi quân kháng chiến một lòng sắt son.
8. Củ Chi đất lửa anh hùng,
Bao phen bom đạn vẫn không lùi bước.
9. Củ Chi địa đạo dài sâu,
Là nơi đánh Mỹ từ lâu vang dội.
10. Đất thép sinh những con người,
Vai gầy mà gánh cả trời non sông.
11. Củ Chi bám đất giữ làng,
Một tấc không bỏ, vững vàng niềm tin.
12. Củ Chi là đất anh hùng,
Hầm sâu nuôi chí, lửa nung ý người.
13. Địa đạo sâu tận lòng quê,
Nuôi bao cán bộ đi về chiến công.
14. Củ Chi đất thép thành đồng,
Trăm năm còn đó chiến công oai hùng.
15. Củ Chi bom đạn dập vùi,
Lòng dân vẫn giữ niềm tin sắt son.
16. Ai qua đất thép Củ Chi,
Nghe trong lòng đất sử thi vọng về.
33. Ca dao tục ngữ về củ ấu
1. Củ ấu gai, trái bần chua,
Ai ơi đừng có phụ người tao khang.
2. Củ ấu gai mọc giữa đầm,
Thương nhau từ thuở cơ hàn có nhau.
3. Củ ấu gai, trái bần chua,
Ăn quen từ thuở nắng mưa cùng người.
4. Củ ấu gai, vỏ đen xì,
Trong ruột trắng ngần như nghĩa phu thê.
5. Củ ấu tuy nhỏ mà bùi,
Như người chân chất, nghĩa tình trước sau.
6. Củ ấu mọc ở bùn sâu,
Nuôi người qua bữa đói nghèo năm xưa.
7. Củ ấu luộc chín bếp rơm,
Quê nghèo mà ấm tình thơm nghĩa làng.
8. Củ ấu đen vỏ trắng lòng,
Như người Nam Bộ thật thà trước sau.
9. Củ ấu gai chẳng ngại bùn lầy,
Như người lao động tháng ngày nhọc nhằn.
10. Củ ấu bùi ăn với muối mè,
Thương nhau xin giữ lời thề sắt son.
11. Củ ấu mọc giữa ao làng,
Nuôi bao thế hệ cơ hàn lớn lên.
12. Củ ấu tuy xấu bề ngoài,
Mà trong ruột ngọt chẳng ai chê cười.
Có đâu sen, ấu một bồn
Có đâu chanh, khế sánh phần lựu lê.
13. Ấu nào ấu lại tròn, bồ hòn nào bồ hòn lại méo
Anh mở lời nói khéo, em nghe trắc tréo khó trông
Đời thuở nhà ai hai gái lấy một chồng
Tiếc công chờ đợi, lại băng suối vượt đồng đến đây.
14. Làm thơ trái ấu gởi thấu chung tình
Anh đau tương tự bịnh nặng không thấy mình vãng lai.
15. Thân em như củ ấu gai,
Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen.
Ai ơi nếm thử mà xem,
Nếm ra, mới biết rằng em ngọt bùi.
34. Ca dao tục ngữ về cưới hỏi
1. Hỏi vợ thì cưới liền tay
Chớ để lâu ngày thiên hạ gièm pha!
2. Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà
Trong ba việc ấy lọ là khó thay.
3. Chém cha cái đất Kẻ Đê
Chưa đi làm rể đã về làm dâu.
4. Tuy rằng áo rách tày sàng
Đủ đóng đủ góp với làng thì thôi.
5. Có cưới mà không có cheo
Nhân duyên trắc trở như kèo không đanh.
6. Mâm trầu, hũ rượu đàng hoàng
Cậy mai đến nói phụ mẫu nàng thì xong.
7. Chưa bức chưa vội chưa cần
Trước sau cũng chỉ một lần mà thôi.
8. Đưa dâu bằng sõng, bằng ghe
Chớ đưa bằng bè ướt áo bà mai.
9. Anh về dọn dẹp loan phòng
Mười ba nhóm họ, bữa rằm rước dâu.
10. Có thật không em, có chắc không em?
Để anh về rọc lá, gói nem bó giò.
11. Anh lấy em có cheo có cưới
Đủ mặt họ hàng, xóm dưới làng trên.
12. Tân hôn hai gối một mền,
Vái ông Tơ bà Nguyệt xe bền đôi ta.
13. Ào ào gió thổi về đông
Có cheo có cưới, vợ chồng mới nên.
14. Bắc thang lên hái ngọn trầu xanh
Cả cheo lẫn cưới xin anh một ngàn.
15. Tay cầm rựa lụt chém mụt măng vòi
Để anh coi phụ mẫu em đòi bao nhiêu?
16. Tháng mười mắc tuổi đôi ta
Tháng một tháng chạp mắc tuổi mẹ với cha hết rồi.
17. Cưới em tám tỉn mật ong
Chín cót xôi trắng mười nong xôi vò.
18. Tấm giấy vàng đề hàng chữ thọ
Rước em về hai họ chứng minh.
18. Phía bên em trăm việc lo toan,
Phía bên anh có ngó ngàng gì đâu na?
20. Anh có thương em đem bạc với tiền,
Chuộc duyên em lại, kết nguyền với anh.
21. Têm trầu về giắt mái rui
Cúi đầu lạy mẹ làm sui cho gần.
22. Anh về hỏi mẹ cùng thầy
Có cho làm rể bên này hay không?
23. Trồng tre trở gốc lên trời
Con chị qua đời thì cưới con em.
24.Trăng rằm mười sáu trăng treo
Anh đóng giường lèo cưới vợ Nha Trang.
25. Quan cưới em bằng kiệu em cũng không thèm
Anh cưới em bằng xuồng ba lá em cũng nguyền theo không.
26. Trai khôn tìm vợ chợ đông,
Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân.
27. Gái khôn tránh khỏi đò đưa,
Trai khôn tránh khỏi vợ thừa người ta.
28. Cưới nàng đôi nón Gò Găng
Xấp lãnh An Thái, một khăn trầu nguồn.
29. Anh về têm một trăm miếng trầu cho tinh tuyết,
Bỏ vào hộp thiếc, khay cẩn xà cừ
Để em vòng tay vô thưa với thầy, với mẹ: Gả chừ cho anh.
30. Ai chồng, ai vợ mặc ai
Bao giờ ra bản, ra bài hẵng hay
Bao giờ tiền cưới trao tay
Tiền cheo rấp nước mới hay vợ chồng.
31.Trai khôn dựng vợ, gái ngoan gả chồng.
32.Miếng trầu là đầu câu chuyện.
33.Có cưới có xin mới nên vợ nên chồng.
34.Vợ chồng nghĩa nặng tình sâu.
35.Thuận vợ thuận chồng, tát Biển Đông cũng cạn.
36.Giàu vì bạn, sang vì vợ.
37.Chồng giận thì vợ bớt lời.
38.Vợ chồng như đũa có đôi.
39.Chồng chan vợ húp.
40.Vợ hiền là của, chồng ngoan là nhờ.
41.Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm.
42.Lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống.
43.Chồng chung không ai khóc.
44.Vợ chồng đồng lòng, việc khó cũng xong.
45.Lấy nhau vì nghĩa, sống với nhau vì tình.
46.Vợ chồng đầu gối tay ấp.
35. Ca dao tục ngữ về cười
1. Gặp em thấy khéo miệng cười
Thấy xinh con mắt, thấy tươi má hồng.
2. Trăm quan mua lấy miệng cười
Nghìn quan chẳng tiếc, tiếc nụ cười em xinh.
3. Ngó lên lỗ miệng em cười
Như búp sen nở, như mặt trời mới lên.
4. Người bao nhiêu tuổi hỡi người
Người bao nhiêu tuổi miệng cười nở hoa.
5. Nụ cười như thể hoa ngâu
Cái khăn đội đầu như thể hoa sen.
6. Ra đường nghiêng nón cười cười
Như hoa mới nở, như người trong tranh.
7. Nhác trông con mắt đáng trăm
Miệng cười đáng chục, hàm răng đáng nghìn
Nhác trông con mắt ưa nhìn
Đáng trăm cũng chuộng, đáng nghìn cũng mua.
8. Anh chỉ quen một cô nàng da trắng tóc dài
Miệng cười như nhánh hoa nhài nở nang.
9. Em là gái út nhất nhà
Lời ăn tiếng nói thật thà khoan thai
Miệng cười như búp hoa nhài
Như nụ hoa quế như tai hoa hồng
Ước gì anh được làm chồng
Để em làm vợ, tơ hồng trời xe.
10. Lúng liếng là lúng liếng ơi
Miệng cười lúng liếng có đôi đồng tiền
Tôi với người muốn kết nhân duyên.
11. Ai đi trên bộ, giống bộ cô Mười
Hàm răng khít rịt, miệng cười có duyên.
12. Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ.
13. Cười người hôm trước, hôm sau người cười.
14. Cười nhiều chưa chắc đã vui.
15. Cười ra nước mắt.
16. Cười cho qua chuyện.
17. Cười không đúng chỗ.
Xem thêm các bài viết về ca dao, tục ngữ, thành ngữ Tiếng Việt chọn lọc hay khác:
Tổng hợp ca dao, tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất
Tổng hợp ca dao, tục ngữ về quê hương, đất nước, con người Việt Nam
Tủ sách VIETJACK luyện thi vào 10 cho 2k11 (2026):
Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.
Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.
- Đề thi lớp 1 (các môn học)
- Đề thi lớp 2 (các môn học)
- Đề thi lớp 3 (các môn học)
- Đề thi lớp 4 (các môn học)
- Đề thi lớp 5 (các môn học)
- Đề thi lớp 6 (các môn học)
- Đề thi lớp 7 (các môn học)
- Đề thi lớp 8 (các môn học)
- Đề thi lớp 9 (các môn học)
- Đề thi lớp 10 (các môn học)
- Đề thi lớp 11 (các môn học)
- Đề thi lớp 12 (các môn học)
- Giáo án lớp 1 (các môn học)
- Giáo án lớp 2 (các môn học)
- Giáo án lớp 3 (các môn học)
- Giáo án lớp 4 (các môn học)
- Giáo án lớp 5 (các môn học)
- Giáo án lớp 6 (các môn học)
- Giáo án lớp 7 (các môn học)
- Giáo án lớp 8 (các môn học)
- Giáo án lớp 9 (các môn học)
- Giáo án lớp 10 (các môn học)
- Giáo án lớp 11 (các môn học)
- Giáo án lớp 12 (các môn học)


Giải bài tập SGK & SBT
Tài liệu giáo viên
Sách
Khóa học
Thi online
Hỏi đáp

