10+ Nghị luận Số phận của người nông dân trong Tắt đèn (điểm cao)

Viết bài nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học: Số phận của người nông dân trong tác phẩm Tắt đèn điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.

10+ Nghị luận Số phận của người nông dân trong Tắt đèn (điểm cao)

Quảng cáo

Dàn ý Viết bài nghị luận về một vấn đề xã hội: Số phận của người nông dân trong tác phẩm Tắt đèn

a. Mở bài: 

- Giới thiệu đôi nét về Ngô Tất Tố và truyện ngắn "Tắt đèn”.

- Sơ lược về tình cảnh của người nông dân qua truyện ngắn "Lão Hạc".

b. Thân bài:

- Số phận điêu đứng: Nghèo khổ, bị bóc lột sưu thuế, chồng ốm và có thể bị đánh, bị bắt lại.

- Do hoàn cảnh gia đình túng quẫn, lại gặp lúc sưu cao thuế nặng, chị một mình chạy vạy bán con bán chó ...để nộp sưu cho chồng. 

- Sự tàn bạo của xã hội bóc lột nặng nề và tình thế bức bách chị đã vùng lên đánh lại cai lệ để bảo vệ chồng để cuối cùng bị tù tội và chị bị đẩy vào đêm sấm chớp và tối đen như mực.... 

c. Kết bài:

- Khái quát lại cảm nghĩ của bản thân về số phận của người nông dân trong truyện ngắn Tắt đèn.

Quảng cáo

Viết bài nghị luận về một vấn đề xã hội: Số phận của người nông dân trong tác phẩm Tắt đèn - mẫu 1

Hình ảnh người nông dân là một trong những nguồn đề tài đầy màu sắc được khai thác rất nhiều trong văn thơ, đặc biệt trong giai đoạn văn học hiện đại trước cách mạng Tháng Tám 1945, hình tượng người nông dân đa số đều xuất hiện trong hình ảnh nghèo khổ, chắt chiu từng đồng vẫn không đủ ăn, cái xã hội đè ép con người đến hơi thở cuối cùng bởi sưu cao thuế nặng, bởi cường quyền ác bá sẽ khiến một số người bị bần cùng hóa, tha hóa, đánh mất đi lòng tự trọng như Chí Phèo, hay người bà trong "Một bữa no". Nhưng đâu đó, vẫn có những con người dù hoàn cảnh bất hạnh, cơ cực vẫn cố gắng giữ lấy phẩm giá của mình, như chị Dậu trong tác phẩm “Tắt đèn”.

Chị là người phụ nữ điển hình của xã hội xưa, chị tần tảo, lam lũ nhưng vẫn không đủ ăn. Gia đình chị đã trở thành hạng cùng đinh, chồng ốm đau, sưu cao thuế nặng đè nặng lên đôi vai người phụ nữ. Để có tiền, chị phải bán mọi thứ trong nhà, bán cả đàn chó mới đẻ, bán cả con đi ở đợ, đứa con gái ngoan ngoãn mà chị mang nặng đẻ đau. Cuộc đời chị bất hạnh nối tiếp khổ đau khi chạy vạy mãi mới nộp đủ sưu cho chồng thì bọn lí trưởng ác bá lại bắt chị nộp thêm cả tiền sưu cho người em chồng đã chết. Trong hoàn cảnh không thể chịu đựng được, cơn giận "tức nước vỡ bờ" đã thôi thúc chị hành động. Chị xông tới đánh trả quyết liệt sau những lời van xin không có kết quả. Hành động bộc phát của chị cho thấy chị Dậu là một người phụ nữ đảm đang, yêu chồng thương con, nhưng chị cũng là người quyết đoán, có tinh thần phản kháng, không chịu cường quyền áp bức. 

Quảng cáo

Tóm lại, qua "Tắt đèn", Ngô Tất Tố đã khắc họa số phận bi đát của người nông dân như một vấn đề xã hội cấp thiết, tố cáo chế độ thực dân phong kiến tàn bạo. Hơn tám thập kỷ trôi qua, dù xã hội đã đổi thay, bài học từ chị Dậu vẫn còn nguyên giá trị: cần xây dựng một xã hội công bằng, nơi người nông dân – nền tảng của đất nước – được che chở, phát triển. Chỉ khi "đèn" công lý được thắp sáng, bi kịch "tắt đèn" mới thực sự chấm dứt, và dân tộc ta mới thực sự no ấm, thịnh vượng.

Viết bài nghị luận về một vấn đề xã hội: Số phận của người nông dân trong tác phẩm Tắt đèn - mẫu 2

Trong nền văn học hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn 1930-1945, "Tắt đèn" của Ngô Tất Tố là một kiệt tác tố cáo sâu sắc bộ máy thống trị thực dân phong kiến, đặc biệt qua số phận thảm thương của người nông dân. Tác phẩm khắc họa chị Dậu – biểu tượng cho hàng triệu nông dân Việt Nam dưới ách đô hộ – phải đối mặt với sưu cao thuế nặng, bị đánh đập, tù đày, đẩy đến bước đường cùng "tắt đèn". Qua đó, Ngô Tất Tố đặt ra vấn đề xã hội cấp bội: số phận bi đát của người nông dân dưới chế độ thực dân phong kiến, đòi hỏi sự thay đổi xã hội để giải phóng giai cấp chân lấm tay bùn.

Quảng cáo

Trước hết, số phận người nông dân trong "Tắt đèn" là nạn nhân trực tiếp của chính sách bóc lột tàn bạo. Chị Dậu đại diện cho người phụ nữ nông dân lam lũ, chăm chỉ: vay sắm hai con trâu để cày ruộng, bán chó, bán con để nộp sưu. Thế nhưng, sưu thuế chồng chất – sưu cha, sưu chồng, sưu con trai đã chết – khiến gia đình chị rơi vào cảnh khốn cùng. Cái thúng bán con, manh áo rách tả tơi chính là minh chứng cho sự nghèo đói cùng cực. Đỉnh điểm là cảnh cai lệ, người nhà lý trưởng xông vào đánh đập anh Dậu, buộc chị phải vùng lên: "Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem!". Hành động ấy không chỉ là phản kháng bản năng mà còn tố cáo bộ máy quan lại địa phương – tay sai của thực dân – đã đẩy người nông dân đến chỗ chết. Qua nhân vật chị Dậu, Ngô Tất Tố phơi bày sự bất công xã hội: người nông dân là lực lượng sản xuất chính, nuôi sống đất nước, nhưng lại bị bóc lột đến tận xương tủy, không lối thoát.

Hơn nữa, số phận bi đát ấy còn phản ánh vấn đề xã hội sâu sắc hơn: sự tha hóa của con người dưới ách thống trị. Không chỉ nạn nhân, người nông dân còn bị đẩy đến hành động tuyệt vọng như bán con, thậm chí tự vẫn. Sau khi anh Dậu bị bắt đi, chị Dậu một mình bươn chải, lang thang bán thúng hàng rong, rồi quyết định "tắt đèn" – hành động biểu tượng cho hy vọng vụt tắt, cuộc đời chìm trong bóng tối tuyệt vọng. Ngô Tất Tố sử dụng nghệ thuật hiện thực sắc bén: miêu tả chân thực, chi tiết điển hình (cảnh đánh anh Dậu, bán con), ngôn ngữ đời thường ("thằng này mày", "chị hàng thịt") để làm nổi bật sự tàn ác của giai cấp thống trị và nỗi đau của người nông dân. Vấn đề xã hội được đặt ra không chỉ dừng ở cá nhân chị Dậu mà mở rộng thành bi kịch của toàn giai cấp nông dân Việt Nam thời kỳ đó – chiếm 90% dân số – đang quằn quại dưới gông xiềng thực dân phong kiến, với nạn đói kém triền miên và bóc lột không ngừng.

Từ số phận chị Dậu, "Tắt đèn" không chỉ dừng ở tố cáo mà còn khơi dậy ý thức đấu tranh xã hội, đòi hỏi một cuộc cách mạng triệt để. Hành động vùng lên của chị Dậu – dù chỉ là bản năng – chính là ngọn lửa tiềm tàng, tiền đề cho các phong trào cách mạng sau này như Xô Viết Nghệ Tĩnh. Tác phẩm đã đánh thức lương tri người đọc, thúc đẩy nhận thức về bất công giai cấp, góp phần vào dòng chảy đấu tranh giải phóng dân tộc.

Tóm lại, qua "Tắt đèn", Ngô Tất Tố đã khắc họa số phận bi đát của người nông dân như một vấn đề xã hội cấp thiết, tố cáo chế độ thực dân phong kiến tàn bạo. Hơn tám thập kỷ trôi qua, dù xã hội đã đổi thay với những chính sách hỗ trợ nông nghiệp và xóa đói giảm nghèo, bài học từ chị Dậu vẫn còn nguyên giá trị: cần tiếp tục xây dựng một xã hội công bằng, nơi người nông dân – nền tảng của đất nước – được che chở, tiếp cận công nghệ hiện đại và thị trường rộng mở. Chỉ khi "đèn" công lý và phát triển được thắp sáng bền vững, bi kịch "tắt đèn" mới thực sự chấm dứt, và dân tộc ta mới thực sự no ấm, thịnh vượng, hướng tới tương lai tươi sáng.

Viết bài nghị luận về một vấn đề xã hội: Số phận của người nông dân trong tác phẩm Tắt đèn - mẫu 3

Đoạn văn "Tức nước vỡ bờ" (trích tiểu thuyết "Tắt đèn" của Ngô Tất Tố) là những áng văn xuôi thể hiện rõ nhất hiện thực sinh động của xã hội phong kiến đương thời và số phận của những người nông dân cùng cực. Chị Dậu là một người cũng là đại diện cho nhiều người nông dân Việt Nam trong hoàn cảnh đó, xã hội thối nát, tàn ác và bất nhân đã đẩy người nông dân vào bước đường cùng, khiến họ phải liều mạng chống lại để giành giật lại sự sống, miếng cơm, manh áo.

Gia đình chị Dậu, một gia đình "nhất nhì trong hạng cùng đinh", dù cho đã bán hết những thứ có thể bán, bán từ những củ khoai - đồ ăn thay cơm của gia đình, bán cả đàn chó mẹ chó con vừa mới đẻ, đến nỗi phải bán cả đứa con gái đầu lòng cho nhà Nghị Quế nhưng chị Dậu vẫn phải chạy vạy ngược xuôi để có đủ tiền đóng sưu thuế cho chồng và cả người chú đã chết lâu năm, sưu cho người sống đã nặng gánh nay còn phải sưu cho người đã chết. Không khí ngột ngạt của một làng quê nghèo trong những ngày sưu thuế thực khiến người ta không thở nổi, hoàn cảnh như anh chị Dậu đã đi đến bước đường cùng, không còn xoay sở được nữa, anh Dậu thì đang ốm cũng bị lôi đi đánh trói, còn chị Dậu chỉ biết kêu gào trong uất ức. Dù trong hoàn cảnh cùng quẫn ấy tình cảm vợ chồng vẫn luôn sát cánh bên nhau, chị Dậu rất mực thương yêu chồng, khi anh Dậu được trả từ đình về nhìn anh mà chị xót hết ruột gan, xin ít gạo nấu cháo rồi ngồi quạt cho cháo chóng nguội, rồi lại giục chồng ăn kẻo người ta lại đến thúc sưu chẳng có sức mà chịu. Chị Dậu chỉ lo cho chồng con còn bản thân chị chẳng màng đến, trong hoàn cảnh ấy chị hiểu rằng mình phải thay chồng gánh vác lo toan mọi việc, phải cáng náng đứng lên làm trụ cột trong gia đình, phải là chỗ dựa cho chồng cho con. Chẳng thế mà chị Dậu đã phải liên tục thay đổi tâm thế của mình khi nói chuyện với cai lệ và người nhà lí trưởng, chị phải làm mọi thứ để bảo vệ chồng và con chị. 

Ngòi bút hiện thực sinh động của Ngô Tất Tố trong đoạn văn "Tức nước vỡ bờ" không chỉ vạch trần bộ mặt xấu xa, thối nát của xã hội thực dân phong kiến đương thời mà còn làm nổi bật lên hình ảnh những người nông dân như chị Dậu, một người phụ nữ vừa có vẻ đẹp phẩm chất, tâm hồn lại vừa có sức sống tiềm tàng mạnh mẽ.

Viết bài nghị luận về một vấn đề xã hội: Số phận của người nông dân trong tác phẩm Tắt đèn - mẫu 4

Văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945 mang một sứ mệnh lớn lao: lên tiếng cho những kiếp người bị chà đạp, vạch trần bộ mặt tàn bạo của xã hội thực dân nửa phong kiến. Trong dòng chảy ấy, “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố như một tiếng kêu đau thương, một bản cáo trạng đanh thép về số phận bi thảm của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Qua hình tượng chị Dậu và những người nông dân cùng cảnh ngộ, nhà văn đã khắc họa một hiện thực xót xa: cuộc sống bị đẩy đến bước đường cùng, sự bị kìm kẹp, bóc lột tàn nhẫn đến mất cả nhân hình, nhân tính.

Trước hết, số phận của người nông dân hiện lên trong “Tắt đèn” là thân phận bị áp bức, bóc lột đến tận cùng. Câu chuyện bắt đầu bằng cảnh chị Dậu phải xoay sở từng đồng để lo sưu cho chồng. Sưu thuế – gánh nặng ghê gớm của chế độ thực dân phong kiến – đã trở thành cơn ác mộng ám ảnh người nông dân. Chồng chị bị đánh trói vì không có tiền nộp sưu, bản thân chị phải bán con, bán chó, bán cả những vật dụng cuối cùng trong nhà để chạy sưu. Từng trang viết của Ngô Tất Tố là những cảnh nghèo khổ chồng chất: bát gạo cạn dần, từng đồng xu được tính toán chi li, bữa ăn chỉ có khoai, sắn thay cơm. Nhà văn đã đặt người đọc đối diện với hiện thực trần trụi: đói nghèo không chỉ là thiếu thốn về vật chất mà còn là sự bần cùng hóa đến tuyệt vọng.

Không chỉ dừng lại ở nỗi khổ vật chất, “Tắt đèn” còn cho thấy người nông dân bị đẩy đến bờ vực của sự tha hóa nhân hình, nhân tính. Chị Dậu phải đứng trước những lựa chốn không lối thoát: bán đứa con gái mới lớn lấy năm đồng bạc để nộp sưu cứu chồng. Hành động ấy vừa là bi kịch của tình mẫu tử bị xé lòng, vừa là lời tố cáo đanh thép chế độ đã đẩy con người vào cảnh bất nhẫn. Người đọc không thể quên hình ảnh chị Dậu vừa bán con xong, ngồi khóc với những giòng nước mắt thấm đẫm nỗi đau người mẹ. Bà lão láng giềng phải bán cả đứa con trai duy nhất, rồi ngồi ăn vụng bát cháo hành – những chi tiết tưởng chừng nhỏ nhưng chất chứa biết bao sự xót xa. Nghèo đói cùng cực đã khiến con người phải từ bỏ những giá trị thiêng liêng nhất, phải làm những điều trái với lương tâm, đạo đức. Đây không phải sự tha hóa tự nguyện mà là hậu quả tất yếu của một xã hội vô nhân đạo.

Đặc biệt, thành công của Ngô Tất Tố còn ở chỗ ông đã khắc họa được sức sống tiềm tàng, tinh thần phản kháng mạnh mẽ từ trong thân phận bị áp bức của người nông dân. Chị Dậu không chỉ là hình ảnh của sự cam chịu, nhẫn nhục mà còn là biểu tượng của sức mạnh vùng lên khi bị dồn đến đường cùng. Cuộc đối đầu với tên cai lệ và người nhà lý trưởng trong đêm chị chăm sóc chồng ốm là đỉnh điểm của tinh thần ấy. Từ một người đàn bà nhẫn nhục, cam chịu, chị đã vùng lên mạnh mẽ, dũng cảm: “Thà ngồi tù. Để cho chúng nó làm khổ mãi thì tôi không chịu được”. Hành động chống trả của chị Dậu không chỉ là sự tự vệ chính đáng mà còn là tiếng nói phản kháng của người nông dân trước cường quyền, bất công. Chị trở thành hình tượng tiêu biểu cho sức sống bất khuất của người nông dân Việt Nam – những con người tuy bị áp bức đến tận cùng nhưng vẫn giữ được phẩm chất tốt đẹp, sẵn sàng đứng lên đấu tranh để bảo vệ nhân phẩm và sự sống.

Qua số phận người nông dân trong “Tắt đèn”, Ngô Tất Tố đã đặt ra những vấn đề xã hội mang tính thời đại nhưng vẫn còn nguyên giá trị đến hôm nay. Đó là mối quan hệ giữa con người với chính quyền, giữa người dân với bộ máy cai trị; là vấn đề về sự công bằng xã hội, về quyền được sống tối thiểu của con người. Tác phẩm cũng đặt ra câu hỏi về trách nhiệm của những người cầm bút: phải nhìn thẳng vào hiện thực, dám lên tiếng cho những số phận bất hạnh, góp phần thức tỉnh ý thức quần chúng. “Tắt đèn” xứng đáng là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của dòng văn học hiện thực phê phán, không chỉ vì giá trị nghệ thuật mà còn vì tinh thần nhân đạo sâu sắc, vì tiếng nói đòi quyền sống cho con người.

Hơn tám thập kỷ đã trôi qua kể từ khi “Tắt đèn” ra đời, xã hội Việt Nam đã có những thay đổi căn bản, người nông dân hôm nay đã có cuộc sống ấm no hơn, được hưởng những quyền lợi chính đáng. Tuy nhiên, những vấn đề mà tác phẩm đặt ra vẫn còn nguyên ý nghĩa thời sự. Đó là bài học về sự trân trọng những giá trị lao động, về trách nhiệm của xã hội đối với những người ở tầng lớp dưới cùng, về lòng dũng cảm đấu tranh cho công lý và nhân phẩm. “Tắt đèn” không chỉ là bức tranh hiện thực về một thời đã qua, mà còn là tấm gương soi cho hôm nay và mai sau, nhắc nhở mỗi chúng ta về giá trị của tự do, công bằng và phẩm giá con người.

Viết bài nghị luận về một vấn đề xã hội: Số phận của người nông dân trong tác phẩm Tắt đèn - mẫu 5

Ngô Tất Tố không chỉ viết "Tắt đèn" như một bức tranh hiện thực về người nông dân trước Cách mạng, mà ông còn đặt ra vấn đề cốt lõi về mối quan hệ giữa con người và quyền lực. Trong tác phẩm, quyền lực được thể hiện qua bộ máy cai trị thực dân phong kiến, qua những kẻ như nô lệ, lý trưởng – những tay sai đắc lực. Họ đại diện cho một thứ quyền lực vô nhân tính, có thể chà đạp bất cứ ai không có tiền, không có thế lực. Số phận của chị Dậu và những người nông dân khác cho thấy: trong một xã hội mà quyền lực được đo bằng tiền bạc và địa vị, người nghèo chỉ còn biết chịu đựng, cam phận hoặc vùng lên trong tuyệt vọng.

Đối lập với bộ máy quyền lực tàn bạo ấy là thế giới của những người nông dân – những con người chân chất, hiền lành, chỉ biết lo làm ăn để sống qua ngày. Chị Dậu không hề có ý định chống đối, chị chỉ muốn xin khất sưu để cứu chồng, muốn được sống một cuộc đời bình yên. Nhưng cái xã hội ấy không cho phép chị làm điều đó. Khi bị dồn đến đường cùng, chị đã phải dùng đến bạo lực để tự vệ – một hành động mang tính tất yếu. Ngô Tất Tố đã đặt ra một vấn đề có ý nghĩa thời sự sâu sắc: khi quyền lực bị lạm dụng, khi công lý không còn được bảo vệ, người dân không còn cách nào khác ngoài việc tự bảo vệ mình. Hành động chống trả của chị Dậu không chỉ là sự phản kháng cá nhân mà còn là tiếng nói của một tầng lớp bị áp bức.

Vấn đề mà "Tắt đèn" đặt ra vẫn còn nguyên giá trị đến hôm nay. Dù xã hội đã thay đổi, nhưng mối quan hệ giữa người dân và chính quyền, giữa quyền lực và trách nhiệm phục vụ nhân dân vẫn luôn là vấn đề cốt lõi. Tác phẩm nhắc nhở chúng ta rằng: quyền lực sinh ra là để phục vụ con người, chứ không phải để đàn áp, bóc lột. Một xã hội văn minh chỉ thực sự được xây dựng khi quyền lực được kiểm soát, khi người dân được bảo vệ về quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc.

Viết bài nghị luận về một vấn đề xã hội: Số phận của người nông dân trong tác phẩm Tắt đèn - mẫu 6

Nhắc đến "Tắt đèn", người đọc không thể quên hình ảnh chị Dậu – một người đàn bà nông dân vừa tảo tần, chịu thương chịu khó, vừa có sức sống mãnh liệt và tinh thần phản kháng mạnh mẽ. Qua số phận của chị, Ngô Tất Tố đã đặt ra vấn đề về vai trò, phẩm chất và sức mạnh của người phụ nữ trong xã hội cũ – một vấn đề mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc.

Trước hết, chị Dậu là hiện thân của những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam: đảm đang, tháo vát, giàu đức hy sinh. Khi chồng ốm đau, chị là chỗ dựa duy nhất; khi gia đình lâm vào cảnh bần cùng, chị phải xoay sở đủ cách: bán con, bán chó, bán cả những vật dụng cuối cùng. Những chi tiết ấy cho thấy một tần suất lao động vất vả nhưng cũng bộc lộ tình yêu thương chồng con sâu sắc. Chị Dậu không chỉ là người vợ, người mẹ mà còn là trụ cột, là điểm tựa cho cả gia đình trong cơn hoạn nạn.

Những điều làm nên giá trị đặc biệt của hình tượng chị Dậu chính là sự chuyển biến từ một người phụ nữ nhẫn nhục, cam chịu sang một người phụ nữ dám đứng lên đấu tranh. Trong đêm đối đầu với bọn tay sai, chị đã vùng lên mạnh mẽ: "Thà ngồi tù. Để cho chúng nó làm khổ mãi thì tôi không chịu được". Câu nói ấy như một lời tuyên ngôn về quyền được sống, được bảo vệ nhân phẩm. Hành động của chị không phải là bạo lực thuần túy mà là sự tự vệ chính đáng trước sự xâm hại đến tính mạng và nhân cách. Ngô Tất Tố đã khẳng định: trong người phụ nữ nông dân tưởng chừng yếu đuối ấy, tiềm tàng một sức mạnh ghê gớm – sức mạnh của tình yêu thương và ý chí bảo vệ sự sống.

Ngô Tất Tố đặt ra qua nhân vật chị Dậu vẫn còn nguyên giá trị trong xã hội hiện đại. Đó là sự trân trọng những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ, là sự khẳng định về vai trò quan trọng của họ trong gia đình và xã hội. Đồng thời, tác phẩm cũng gợi mở về quyền được bảo vệ, quyền được lên tiếng của người phụ nữ khi bị áp bức, bất công. Chị Dậu mãi mãi là biểu tượng đẹp về sức mạnh tiềm tàng của người phụ nữ Việt Nam.

Viết bài nghị luận về một vấn đề xã hội: Số phận của người nông dân trong tác phẩm Tắt đèn - mẫu 7

Không chỉ là câu chuyện về số phận người nông dân, "Tắt đèn" còn phản ánh một vấn đề xã hội rộng lớn hơn: sự phân cực giàu nghèo và khoảng cách giữa thành thị với nông thôn trong xã hội Việt Nam thời thuộc địa. Ngô Tất Tố đã vẽ nên bức tranh tương phản rõ nét giữa hai thế giới: một bên là làng quê nghèo đói, tăm tối; một bên là thành thị với bộ máy cai trị, thuế khóa và những kẻ giàu có.

Thế giới nông thôn trong "Tắt đèn" hiện lên với cảnh đói nghèo triền miên, với những ngôi nhà tranh xiêu vẹo, những bữa cơm chỉ có khoai sắn, với nỗi ám ảnh về sưu thuế và bọn cường hào ác bá. Người nông dân phải bán con, bán đất, bán cả nhân phẩm để tồn tại. Họ sống trong vòng xoáy của nghèo đói và bị kìm kẹp bởi đủ thứ thuế khóa. Đó là một thế giới của bóng tối, của sự bế tắc và cam chịu.

Đối lập với thế giới ấy là bộ máy cai trị và những kẻ giàu có. Tuy không được khắc họa trực tiếp, nhưng qua hình ảnh bọn tay sai như nô lệ, lý trưởng, qua những thứ thuế vô lý, qua việc người nông dân phải chạy ngược chạy xuôi để có tiền nộp sưu, người đọc có thể hình dung ra một thế giới khác – nơi quyền lực và tiền bạc nắm giữ mọi thứ. Khoảng cách giữa hai thế giới ấy không chỉ là khoảng cách về vật chất mà còn là khoảng cách về quyền lực, về cơ hội sống.

Ngô Tất Tố đã đặt ra vấn đề về tính công bằng xã hội một cách sâu sắc. Ông cho thấy rằng, trong một xã hội bất công, người nghèo không chỉ khổ về vật chất mà còn bị tước đoạt mọi quyền cơ bản: quyền được sống, quyền được giữ gìn nhân phẩm, quyền được bảo vệ gia đình. Số phận của chị Dậu là số phận của hàng triệu người nông dân Việt Nam thời ấy – những người bị đẩy vào cảnh khốn cùng chỉ vì họ sinh ra trong nghèo khó.

Vấn đề mà tác phẩm đặt ra không chỉ là chuyện của một thời đã qua. Khoảng cách giàu nghèo, sự bất công xã hội vẫn là những vấn đề nhức nhối trong xã hội hiện đại. "Tắt đèn" nhắc nhở chúng ta về trách nhiệm của xã hội đối với người nghèo, về sự cần thiết phải xây dựng một hệ thống công bằng, nơi mọi người đều có cơ hội được sống xứng đáng với phẩm giá con người.

Viết bài nghị luận về một vấn đề xã hội: Số phận của người nông dân trong tác phẩm Tắt đèn - mẫu 8

Văn học hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 đã để lại những trang viết đẫm nước mắt về số phận con người dưới ách thống trị của thực dân phong kiến. Trong đó, tác phẩm Tắt đèn của nhà văn Ngô Tất Tố nổi lên như một bản cáo trạng đanh thép, phơi bày nỗi khổ cực đến cùng cực của người nông dân. Thông qua hình tượng nhân vật chị Dậu, tác phẩm không chỉ khắc họa số phận bi thảm mà còn ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn và sức sống tiềm tàng của những người cùng khổ.

Trước hết, tác phẩm đặt ra vấn đề về số phận bị dồn đuổi đến đường cùng của người nông dân dưới chế độ thuế khóa hà khắc. Trong bối cảnh làng Đông Xá những ngày sưu thuế, bầu không khí trở nên ngột ngạt bởi tiếng trống thúc, tiếng tù và và tiếng roi vọt. Gia đình chị Dậu – cái tên tiêu biểu cho tầng lớp cố nông – rơi vào bi kịch khủng khiếp khi không có tiền nộp sưu. Để có tiền cứu chồng đang bị đánh đập dã man, chị Dậu đã phải rứt ruột bán đi đứa con gái đầu lòng và đàn chó mới đẻ. Đây là nỗi đau xé lòng, là sự băng hoại giá trị nhân thân khi con người bị đẩy vào tình cảnh phải lựa chọn giữa tình mẫu tử và mạng sống. Đáng ghê tởm hơn, lũ tay sai còn bắt chị nộp cả "suất sưu" cho một người em chồng đã chết từ năm ngoái – một nghịch lý tàn nhẫn đẩy người nông dân vào ngõ cụt.

Không dừng lại ở nỗi khổ vật chất, tác phẩm còn phơi bày sự chà đạp lên nhân phẩm của bộ máy cai trị. Hình ảnh anh Dậu "uống chưa được vài hớp cháo" đã bị bọn cai lệ và người nhà lí trưởng xông vào đánh đập là minh chứng cho sự tàn bạo, mất nhân tính của lũ tay sai. Chúng coi mạng sống và danh dự của người nông dân rẻ mạt hơn cả cỏ rác. Sự tàn nhẫn ấy được đẩy lên cao trào khi tên cai lệ "gõ đầu roi vào ngực chị Dậu" và định xông đến trói anh Dậu một lần nữa.

Tuy nhiên, từ trong bóng tối của khổ đau, Ngô Tất Tố đã phát hiện ra sức mạnh kháng cự mạnh mẽ của người nông dân. Đoạn trích Tức nước vỡ bờ là một điểm sáng chói lọi trong tác phẩm. Ban đầu, chị Dậu nhẫn nhịn, van xin bằng lời lẽ nhún nhường "Cháu van ông...". Nhưng khi sự tàn ác vượt quá giới hạn, chị đã vùng lên đầy quyết liệt. Từ cách xưng hô "tôi - ông" sang "mày - bà", cùng với hành động quật ngã tên cai lệ, chị Dậu đã chứng minh một chân lý: Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh. Sức mạnh của chị không chỉ là sức mạnh cơ bắp mà là sức mạnh của lòng căm thù và tình yêu thương chồng con cháy bỏng.

Cuối cùng, nhan đề Tắt đèn cùng hình ảnh chị Dậu chạy ra ngoài trời tối đen như tiền đồ của chị ở cuối tác phẩm đã đặt ra một vấn đề xã hội nhức nhối: Đó là tương lai mịt mù của người nông dân khi chưa có ánh sáng của cách mạng dẫn đường. Họ dù có sức mạnh kháng cự nhưng vẫn chỉ là sự bộc phát cá nhân, chưa thể tự giải phóng mình khỏi xiềng xích của chế độ cũ.

Tóm lại, qua tác phẩm Tắt đèn, Ngô Tất Tố đã dựng lên một bức tranh hiện thực tàn khốc về số phận người nông dân Việt Nam. Tác phẩm khơi dậy trong lòng người đọc niềm cảm thương sâu sắc với những kiếp người lầm than, đồng thời bày tỏ sự trân trọng trước vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ nông dân. Dù thời đại của chị Dậu đã lùi xa, nhưng bài học về sự công bằng xã hội và sức mạnh của con người khi bị dồn vào đường cùng vẫn luôn mang tính thời sự sâu sắc.

Viết bài nghị luận về một vấn đề xã hội: Số phận của người nông dân trong tác phẩm Tắt đèn - mẫu 9

"Văn học là nhân học", và sứ mệnh cao cả nhất của văn chương chính là tiếng nói bênh vực quyền sống của con người. Trong dòng văn học hiện thực 1930 - 1945, Tắt đèn của Ngô Tất Tố đứng sừng sững như một tượng đài về nỗi đau của người nông dân Việt Nam. Qua tác phẩm, nhà văn không chỉ kể một câu chuyện buồn mà còn đặt ra một vấn đề xã hội nhức nhối: Khi con người bị tước đoạt mọi quyền lợi căn bản, họ sẽ bị đẩy đến ranh giới mỏng manh giữa sự tồn tại và cái chết.

Số phận người nông dân trong Tắt đèn trước hết là bi kịch về sự nghèo đói cùng cực. Ngô Tất Tố đã chọn thời điểm "vụ thuế" – thời điểm tàn khốc nhất trong năm ở nông thôn xưa – để làm bối cảnh. Gia đình chị Dậu thuộc hạng "nhất nhì trong hạng cùng đinh", tài sản duy nhất chỉ là sự nghèo khó. Sưu thuế không chỉ đánh vào người sống mà còn truy thu cả người chết. Hình ảnh chị Dậu phải bán con, bán chó để lấy tiền nộp sưu là một sự mỉa mai cay đắng cho giá trị con người. Đứa con đứt ruột đẻ ra lại có giá rẻ mạt ngang với một đàn chó, đó chính là đỉnh điểm của sự bi thảm khi quyền làm người bị rẻ rúng.

Bên cạnh nỗi khổ vật chất là sự khủng bố về tinh thần và thể xác. Chế độ thực dân phong kiến đã biến những kẻ tay sai như cai lệ, người nhà lí trưởng thành những con thú dữ. Chúng không cần biết đến lý lẽ, chỉ biết đến roi song, tay thước và dây thừng. Anh Dậu – một người đàn ông ốm yếu, vừa mới tỉnh lại sau trận đòn thừa chết thiếu sống – vẫn tiếp tục bị kéo đi như một con vật. Sự tàn bạo này cho thấy một xã hội phi nhân tính, nơi kẻ mạnh dùng cường quyền để bóp nghẹt sự sống của những kẻ thấp cổ bé họng.

Tuy nhiên, điểm sáng của tác phẩm chính là phẩm giá cao đẹp và tinh thần phản kháng. Chị Dậu chính là biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam: tần tảo, yêu chồng thương con hết mực và đầy lòng tự trọng. Chị đã nhẫn nhịn đến cùng cực, nhưng khi bị dồn vào ngõ cụt, chị đã vùng lên. Hành động quật ngã tên cai lệ không chỉ là sự tự vệ mà là tiếng thét phẫn nộ của một giai cấp bị đè nén bấy lâu. Nó khẳng định rằng: Dù bị vùi dập trong bùn đen, phẩm giá và sức mạnh của người nông dân vẫn không hề mất đi.

Kết thúc tác phẩm bằng hình ảnh chị Dậu chạy ra giữa đêm tối mịt mù, Ngô Tất Tố đã để lại một dấu hỏi lớn cho xã hội bấy giờ. Bài văn nghị luận về số phận người nông dân trong Tắt đèn giúp ta trân trọng hơn cuộc sống tự do hôm nay, đồng thời thấu hiểu sâu sắc nỗi đau của cha ông trong một thời đại lầm than nhưng vẫn giữ trọn lòng nhân hậu và ý chí kiên cường.

Viết bài nghị luận về một vấn đề xã hội: Số phận của người nông dân trong tác phẩm Tắt đèn - mẫu 10

Nhà văn Nguyễn Tuân từng nhận xét rằng Ngô Tất Tố đã "xui con người ta nổi loạn". Thật vậy, tác phẩm Tắt đèn không chỉ dừng lại ở việc miêu tả cái đói, cái khổ mà còn xoáy sâu vào vấn đề nhân phẩm con người trong nghịch cảnh. Qua nhân vật chị Dậu, chúng ta thấy được bức tranh toàn cảnh về số phận bi thảm của người nông dân, nhưng đồng thời cũng thấy được vẻ đẹp lấp lánh của đạo đức truyền thống trước sự tàn độc của xã hội thực dân phong kiến.

Vấn đề xã hội đầu tiên mà tác phẩm đặt ra là sự bất công của hệ thống pháp luật cũ. Thuế thân – một loại thuế phi lý đánh vào cái mạng sống của con người – đã trở thành sợi dây thừng thắt chặt cổ người nông dân. Gia đình chị Dậu bị đẩy vào thảm cảnh không phải vì họ lười biếng, mà vì sự bóc lột có hệ thống. Việc chị phải bán cái Tý – đứa con hiếu thảo, ngoan ngoãn – là một vết sẹo lớn về đạo đức mà xã hội cũ đã gây ra. Nó cho thấy một sự thật đau lòng: Trong xã hội ấy, đồng tiền có quyền lực vạn năng, có thể chia cắt tình mẫu tử thiêng liêng.

Thứ hai, tác phẩm phản ánh mâu thuẫn giai cấp gay gắt. Một bên là những người nông dân hiền lành, chất phác và một bên là lũ thống trị tham lam, độc ác. Sự đối lập này được thể hiện rõ nét qua cuộc đối đầu tại nhà chị Dậu. Tên cai lệ đại diện cho cường quyền thối nát, còn chị Dậu đại diện cho lẽ phải và đạo lý. Khi chị Dậu thét lên: "Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem!", đó là lúc nhân phẩm con người lên tiếng đòi quyền được sống, quyền được bảo vệ người thân yêu.

Cuối cùng, tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp của lòng vị tha và đức hy sinh. Dù trong hoàn cảnh "tắt đèn" tối tăm nhất, chị Dậu vẫn hiện lên là một người vợ hiền, người mẹ tận tụy. Chị chăm sóc chồng bằng bát cháo loãng với tất cả tình yêu thương. Sự đối lập giữa bát cháo ấm nóng tình người và sự lạnh lùng của sưu thuế đã tạo nên giá trị nhân văn sâu sắc cho tác phẩm. Chính tình yêu thương đã tạo nên sức mạnh để chị vượt qua nỗi sợ hãi trước cường quyền.

Tắt đèn là bản cáo trạng đanh thép đối với chế độ cũ, đồng thời là bài ca về sức sống của con người. Số phận chị Dậu và những người nông dân bấy giờ tuy bế tắc nhưng linh hồn của họ vẫn trong sạch và mạnh mẽ. Tác phẩm nhắc nhở chúng ta về giá trị của lòng nhân ái và sự công bằng – những điều cốt lõi để xây dựng một xã hội văn minh, nơi không còn những "đêm tối" mịt mù của kiếp người lầm than.

Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:

Mục lục Văn mẫu | Văn hay lớp 8 theo từng phần:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Loạt bài Tuyển tập những bài văn hay | văn mẫu lớp 8 của chúng tôi được biên soạn một phần dựa trên cuốn sách: Văn mẫu lớp 8Những bài văn hay lớp 8 đạt điểm cao.

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.


Giải bài tập lớp 8 sách mới các môn học