500 câu ca dao tục ngữ ôn thi Trạng Nguyên Tiếng Việt

500 câu ca dao tục ngữ ôn thi Trạng Nguyên Tiếng Việt đầy đủ, chi tiết nhất giúp bạn có thêm nguồn tài liệu tham khảo ôn thi Trạng Nguyên Tiếng Việt. Mời các bạn đón đọc:

500 câu ca dao tục ngữ ôn thi Trạng Nguyên Tiếng Việt

Xem thử Câu hỏi ôn thi TNTV lớp 1 Xem thử Câu hỏi ôn thi TNTV lớp 3 Xem thử Câu hỏi ôn thi TNTV lớp 4 Xem thử Câu hỏi ôn thi TNTV lớp 5

Chỉ từ 150k mua trọn bộ Câu hỏi ôn thi Trạng Nguyên Tiếng Việt mỗi lớp bản word có lời giải chi tiết, dễ dàng chỉnh sửa:

Quảng cáo

Trong chương trình Tiếng Việt tiểu học, đặc biệt là các vòng thi Trạng Nguyên Tiếng Việt, ca dao – tục ngữ thường xuyên xuất hiện các câu ca dao tục ngữ. Vì vậy, trong bài viết sau VietJack xin gửi đến các em bộ 500 câu ca dao, tục ngữ thường gặp trong đề thi Trạng Nguyên Tiếng Việt, được chọn lọc, sắp xếp khoa học để thuận tiện cho việc học và ôn luyện.

500 câu ca dao tục ngữ ôn thi Trạng Nguyên Tiếng Việt

500 câu ca dao tục ngữ ( Ảnh: Internet )

1. Ca dao, tục ngữ là gì?

Ca dao là những bài thơ, câu hát dân gian ngắn gọn, giàu hình ảnh và cảm xúc, thường phản ánh tình cảm gia đình, quê hương, con người và cuộc sống lao động.

Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, súc tích, mang tính khái quát cao, đúc kết kinh nghiệm của nhân dân về đạo đức, học tập, lao động và cách ứng xử trong cuộc sống.

2. 500 câu ca dao tục ngữ ôn thi Trạng Nguyên Tiếng Việt

2.1. Ca dao về xã hội hay, ý nghĩa sâu sắc nhất

Ai giàu ba họ, ai khó ba đời.

 

Ăn cơm với bò thì lo ngay ngáy, ăn cơm với cáy thì ngáy o o.

 

Ăn tấm trả giặt.

 

Ăn thì hơn, hờn thì thiệt.

 

Cao cờ không bằng cao cổ.

 

Có tiền mua tiên cũng được.

 

Đã nghèo còn mắc cái eo.

 

Mạt cưa mướp đắng.

 

Nhập gia tùy tục.

 

Sa cơ lỡ vận.

 

Trời sinh voi sinh cỏ.

 

Thượng bất chính, hạ tắc loạn.

 

Phép vua thua lệ làng.

 

Đất có lề, quê có thói.

 

Hỡi cô cắt cỏ đồng mầu!

 

Người trên ở chẳng chính ngôi,

Khiến cho kẻ dưới chúng tôi hỗn hào.

 

Mười năm rèn luyện sách đèn,

Công danh gặp bước, chớ quên ơn thầy.

 

Nhà có láng giềng nhà,

Đồng có láng giềng đồng.

 

Nghèo giữa chợ chẳng ai han hỏi,

Giàu đầu non nhiều kẻ viếng thăm.

 

Muốn sang thì bắc cầu Kiều,

Muốn con hay chữ thì yêu kính thầy.

 

Dại nhà khôn chợ mới ngoan.

Khôn nhà dại chợ, thế gian chê cười.

 

Mẹ cha công đức sinh thành.

Ra trường thầy dạy học hành cho hay.

 

Quốc kêu réo rắt trên ngàn,

Gà rừng táo tác gọi con trên đồi.

Lạnh lùng thay láng giềng ôi,

Láng giềng lạnh ít, sao tôi lạnh nhiều.

 

Phượng hoàng ở chốn cheo leo,

Sa cơ lỡ vận phải theo đàn gà.

Bao giờ gió thuận mưa hòa,

Thay lông đổi cánh lại ra phượng hoàng.

2.2. Các câu ca dao tục ngữ về vẻ đẹp con người

Ba thương má lúm đồng tiền,

Bốn thương răng lánh hạt huyền kém thua

 

Ai xui má đỏ, môi hồng

Để anh nhác thấy đem lòng thương yêu.

 

Lấy cho trả thảo cho cha

Đền ơn cho mẹ con ra lấy chồng.

 

Chồng người xe ngựa người yêu

Chồng em áo rách, em chiều em thương.

 

Trăm năm quyết chí một chồng

Dầu ai thêu phụng vẽ rồng mặc ai.

 

Nước trong ai chẳng rửa chân

Cái má trắng ngần ai chẳng muốn hôn.

 

Trời nào có phụ ai đâu

Hay làm thì giàu, có chí thì nên.

 

Miệng em cười như cánh hoa nhài

Như nụ hoa quế như tai hồng.

 

Mắt xanh tươi thắm môi trầu

Miệng cười lúm má, cho cầu thêm xinh.

 

Những người con mắt lá răm

Đôi mày lá liễu đáng trăm quan tiền.

 

Chân mày vòng nguyệt có duyên

Tóc mây gợn sóng đẹp duyên tơ hồng.

 

Vì cam cho quýt đèo bồng

Vì em nhan sắc cho lòng nhớ thương.

 

Cổ tay em trắng lại tròn,

Ðể cho ai gối đã mòn một bên?

Gối chăn gối chiếu không êm,

Gối lụa không mềm bằng gối tay em.

 

Hỡi người tóc tốt xanh non

Lưng ong thắt đáy như con tò vò.

Tóc xanh tươi tốt rậm rà

Răng đen nhanh nhánh tưởng là hạt na.

 

Non cao cũng có đường trèo

Đường dù hiểm nghèo cũng có lối đi.

Non cao cũng có đường trèo

Những bệnh hiểm nghèo có thuốc thần tiên

 

Ta về ta tắm ao ta,

Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.

 

Anh đi anh nhớ quê nhà,

Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương.

 

Bể xa mây nước mù mù,

Biết mô cửa lạch, biết mô sống cùng.

 

Trời cao, cao bấy không xa,

Đất kia rộng vậy thế mà dày sâu.

 

Mình về mình nhớ ta chăng

Ta về ta nhớ hàm răng mình cười,

Trăm quan mua lấy miệng cười

Nghìn quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen.

 

Nhác trông con mắt đáng trăm

Miệng cười đáng chục, hàm răng đáng nghìn

Nhác trông con mắt ưa nhìn

Đáng trăm cũng chuộng, đáng nghìn cũng mua.

 

Gặp em, thấy khéo miệng cười

Thấy xinh con mắt, thấy tươi má hồng

Gặp nhau giữa cánh đồng này

Con mắt liếc lại lông mày đưa ngang.

Con mắt em liếc cũng ngoan

Cái chân em bước tựa đàn năm cung

 

Một thương tóc bỏ đuôi gà

Hai thương ăn nói mặn mà có duyên

Ba thương má lúm đồng tiền

Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua

Năm thương cổ yếm đeo bùa

Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng

Bảy thương nết ở khôn ngoan

Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh.

2.3. Ca dao, tục ngữ về phẩm chất con người

Ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau.

 

Ăn lấy đời, chơi lấy thời.

 

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.

 

Cái răng, cái tóc là gốc con người.

 

Chết giả mới biết bụng dạ anh em.

 

Con mắt là mặt đồng cân.

 

Của người bồ tát, của mình lạt buộc.

 

Đánh bạc quen tay, ngủ ngày quen mắt, ăn vặt quen mồm.

 

Đói cho sạch, rách cho thơm.

 

Giàu điếc, sang đui.

 

Làm khi lành, để dành khi đau.

 

Lòng người như bể khôn dò.

 

Miếng ăn là miếng nhục.

 

Người giàu tham việc, thất nghiệp tham ăn.

 

Người là vàng của là ngãi.

 

Người năm bảy đấng, của ba bảy loài.

 

Người sống đống vàng.

 

Ruột ngựa, phổi bò.

 

Sáng tai họ, điếc tai cày.

 

Sống mỗi người một nết, chết mỗi người một tật.

 

Thấy sang bắt quàng làm họ.

 

Thương người như thể thương thân.

 

Trông mặt mà bắt hình dong.

 

Học là học biết giữ giàng

Biết điều nhân nghĩa biết đằng hiếu trung

 

Dương trần phải ráng làm hiền

Đừng trọng bạc tiền bỏ nghĩa bỏ nhân

 

Làm trai nết đủ năm đường,

Trước tiên điều hiếu đạo thường xưa nay.

 

Thờ cha mẹ, ở hết lòng,

Ấy là chữ hiếu, dạy trong luân thường.

 

Đời xưa trả oán còn lâu,

Đời nay trả oán bất câu giờ nào.

 

Chàng đi trấn chốn phương xa

Nhớ chăng dải đất Cầu Huê quê mình

Bến trăng sóng nước lung linh

Tấm nâu thiếp nhuộm tình riêng Huê Cầu.

 

Đường giao tiếp cốt vẹn toàn,

Việc mình không muốn chớ làm cho ai.

 

Trâu ta ăn cỏ đồng ta

Đừng ham cỏ tốt ăn qua đồng người

Hàng ta, ta bận cũng tươi

Ham chi hàng ngoại, kẻ cười người chê

 

Gái thì giữ lấy chữ trinh

Siêng năng chín chắn, trời dành phúc cho

 

Ruộng hoang người ta khẩn còn thành,

Huống chi ruộng thuộc sao đành bỏ hoang.

 

Thương anh dầu dãi nắng mưa,

Hết khơi ruộng thấp lại bừa ruộng cao

 

Rượu ngon bất luận be sành.

Áo rách khéo vá, hơn lành vụng may.

 

Ao sâu ruộng đất bề bề

Không bằng tinh xảo một nghề trong tay

 

Công cha đức mẹ cao dày,

Cưu mang trứng nước những ngày ngây thơ.

Nuôi con khó nhọc đến giờ,

Trưởng thành con phải biết thờ hai thân.

Thức khuya dậy sớm chuyên cần,

Quạt nồng ấp lạnh giữ phần đạo con.

 

Choàng qua cổ bạn khóc rằng

Căn duyên không tính để lầm vòng thương

Vợ chồng là đạo tào khương

Trách bà Nguyệt Lão vấn vương không thành

2.4. Ca dao tục ngữ Việt Nam về vẻ đẹp tâm hồn

Cá không ăn muối cá ươn,

Con cãi cha mẹ trăm đường con hư.

 

Ơn thầy soi lối mở đường

Cho con vững bước dặm trường tương lai.

 

Ơn đây gần bạn, gần thầy

Có công mài sắt có ngày nên kim.

 

Chữ thầy trong cõi người ta

Dặm dài hoa nắng trời xa biển đầy.

 

Dù đi khắp bốn phương trời

Công cha nghĩa mẹ không ai sánh bằng.

 

Mấy ai là kẻ không thầy

Thế gian thường nói đố mày làm nên.

 

Đêm nay con ngủ giấc tròn,

Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.

 

Mười năm rèn luyện sách đèn

Công danh gặp bước chớ quên ơn thầy.

 

Anh chỉ quen một cô nàng da trắng tóc dài

Miệng cười như nhánh hoa nhài nở nang.

 

Răng đen ai nhuộm cho mình

Cho duyên mình đậm cho tình anh say.

 

Trăng rằm mười sáu trăng nghiêng,

Thương em chúm chím cười duyên một mình.

 

Ngọc kia chuốt mãi cũng tròn,

Sắt kia mài mãi cũng còn nên kim.

 

Ai ơi giữ chí cho bền

Dù ai xoay hướng đổi nền mặc ai.

 

Thương ai hồi nhỏ tới chừ

Dẫu nghèo, dẫu đói không từ ngãi nhân.

 

Học là học để làm người

Biết điều hơn thiệt biết lời thị phi

 

Học trò học hiếu học trung

Học cho đến mực anh hùng mới thôi.

 

Bữa nay nhìn mặt cho tường

Đến mai dời gót nẻo đường xa xôi.

 

Cơm này nửa sống nửa khê,

Vợ đơm chồng nếm chẳng chê cơm này.

 

Mẹ ơi thương lấy rể nghèo

Khoa tay vớt bọt, lấy bèo nuôi nhau.

 

Sông sâu sào ngắn khôn dò

Người khôn ít nói, khôn đo tấc lòng.

 

Dạo chơi quán cũng như nhà.

Nhà tranh có ngãi hơn tòa nhà cao.

 

Cái bống là cái bống bình,

Thổi cơm nấu nước một mình mồ côi.

Rạng ngày có khách đến chơi

Cơm ăn rượu uống cho vui lòng chồng.

 

Có con phải khổ vì con

Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng.

Có chồng phải lụy cùng chồng

Đắng cay phải chịu mặn nồng phải theo.

 

Duyên là tóc, tóc là tơ

Xe tơ kết tóc bậu chờ trông ai

Tóc bậu mới chấm ngang vai

Cha mẹ thương ít, nhưng trai thương nhiều

Cho dầu bậu trong trắng mỹ miều

Nhiều nơi lắm chốn, anh cũng chẳng chiều được đâu.

 

Ngó lên trời thấy cặp cu đang đá,

Ngó ra ngoài biển, thấy cặp cá đang đua.

Đi về lập miếu thờ vua,

Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

 

Ở cho có nghĩa có nhân

Cây đức lắm chồi, người đức lắm con

Ba vuông sánh với bảy tròn

Đời cha ân đức, đời con sang giàu.

 

Làm người chẳng biết lo xa,

Trẻ trung đã vậy tuổi già làm sao.

Làm người cho biết tiền tằn,

Đồ ăn thức mặc có ngần thì thôi.

Những người đói rách rạc rài,

Bởi phụ của trời làm chẳng nên ăn.

 

Bần cư náo thị vô nhân đáo,

Phú tại lâm sơn hữu viễn thân,

Bấy lâu nay không biểu, anh cũng lại gần,

Bấy giờ em sa cơ thất vận,

Em biểu mấy lần anh cũng không vô.

 

Lấy điều ăn ở dạy con,

Dẫu mà gặp tiết nước non xoay vần.

Ở cho có đức, có nhân,

Mới mong thờ tự, được ăn lộc trời.

 

Trong đầm gì đẹp bằng sen,

Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng.

Nhị vàng bông trắng lá xanh,

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

 

Đã sinh ra kiếp ở đời,

Trai thời trung hiếu đôi vai cho tròn.

Gái thời trinh trỉnh lòng son,

Sớm hôm gìn giữ kẻo còn chút sai.

Trai lành gái tốt ra người,

Khuyên con trọng bấy nhiêu lời cho chuyên.

 

Con cò lặn lội bờ sông

Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non.

Nàng về nuôi cái cùng con

Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng.

 

Chàng ơi phải lính thì đi,

Cửa nhà đơn chiếc đã thì có tôi.

Anh đi em ở lại nhà

Hai vai gánh vác mẹ già con thơ.

2.5. Những câu ca dao tục ngữ hay về xã hội ý nghĩa

Bà chúa đứt tay bằng ăn mày sổ ruột.

 

Bầu dục chẳng đến bàn thứ tám, cám nhỏ chẳng đến miệng lợn sề.

 

Cá lớn nuốt cá bé.

 

Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng.

 

Cốc mò cò xơi.

 

Con giun xéo lắm cũng quằn.

 

Công nợ trả dần, cháo nóng húp quanh.

 

Của bền tại người.

 

Của bụt mất một đền mười.

 

Đi buôn nói ngay bằng đi cày nói dối.

 

Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn, đồng tiền đi sau là đồng tiền dại.

 

Được làm vua, thua làm giặc.

 

Hay làm thì đói, hay nói thì no.

 

Lá lành đùm lá rách.

 

Làm hàng săng, chết bó chiếu.

 

Làm nghề gì ăn nghề ấy.

 

Lễ vào quan như than vào lò.

 

Mạnh về gạo bạo về tiền.

 

Muốn nói oan làm quan mà nói.

 

Nén bạc đâm toạc tờ giấy.

 

Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò.

 

Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ.

 

Nhất tội, nhì nợ.

 

Nhiều tiền thì thắm, ít tiền thì phai.

 

Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ.

 

Quan thời xa, bản nha thời gần.

 

Ruộng bề bề không bằng nghề trong tay.

 

Thằng mõ có bỏ đám nào.

 

Tiền bạc đi trước mực thước đi sau.

 

Trời sinh voi, trời sinh cỏ.

 

Tuần hà là cha kẻ cướp.

 

Tức nước vỡ bờ.

 

Uống nước nhớ nguồn

 

Thế gian chuộng của, chuộng công

Nào ai có chuộng người không bao giờ.

 

Dò sông, dò bể, dò nguồn

Biết sao được bụng lái buôn mà dò.

 

Ca dao về truyền thống văn hóa Việt Nam

Dù ai buôn đâu bán đâu

Nhớ ngày mở hội rủ nhau mà về

 

Dù ai bận rộn trăm nghề

Tháng 2 mở hội thì về Trường Yên

 

Cú kêu ba tiếng cứ kêu

Kêu mau đến Tết dựng nêu ăn chè

Dựng nêu thì dựng đầu hè

Để sân gieo cải, vãi mè ăn chung

 

Đi đâu mặc kệ đi đâu

Đến ngày giỗ Tết phải mua mà về

 

Con cò chết rũ trên cây

Cò con mở lịch xem ngày làm ma

 

Ai ơi muôn dặm ngược xa

Cải lương quấn chặt lấy ba măng vòi

 

Gái Chưa Chồng trông hang Cắc Cứ

Trai chưa vợ nhớ hội chùa Thầy

 

Cà cuống uống rượu la đà

Chim ri ríu rít bỏ ra lấy phần

Chào mào thì đánh trống quân

Chim chích cởi trần vác Bó đi lao

 

Mồng một Tết cha

Mùng 2 Tết mẹ

Mùng 3 tết thầy

 

Ai về Phú Thọ cùng ta

Vui ngày giỗ tổ tháng ba mùng 10

Dù ai đi ngược về xuôi

Nhớ ngày giỗ tổ Hùng mười tháng ba

 

Chẳng về hội vật thì thôi

Về thì nhất định phải thử một nồi lươn măng

Đã ăn thì ăn đậu rang

Lấy năm bảy cọc cho bằng người ta

2.6. Ca dao, tục ngữ về truyền thống yêu nước

Chém cha những đứa sang giàu

Cậy thần cậy thế cúi đầu lính tây

 

Con cò lặn lội bờ sông

Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non

Nàng ở nhà nuôi cái cùng con

Để anh trấn Thủ nước non Cao Bằng

 

Đồn Tây dù chắc dù dày

Thuế nộp đủ đầy đồn ắt phải tan

 

Hải Vân cao ngất từng mây

Giặc đi đến đó bỏ thây không về

 

Đứng trên cầu cấm em thề

Chưa xong nhiệm vụ chưa về quê hương

 

Đeo hoa chỉ tổ nặng tai

Đeo kiềng nặng cổ hỡi ai có vàng

Làm lên một nước kẻ vang

Đem vàng giúp nước giàu sang sau này

Đổi vàng lấy súng, cối xay

Bắn tan giặc Pháp, dựng ngày vinh quang

 

Bầu ơi thương lấy bí cùng

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn

 

Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước phải thương nhau cùng

 

Tay bắt tay trong lòng chung sức

Quyết duyệt thù cứu quốc bạn ơi

 

Lòng em khôn tỏ hết lời

Kìa gương phấn cũng rạng ngời nước non

 

Ru con con ngủ cho lành

Để mẹ múc nước rửa bành cho voi

Muốn coi lên núi mà coi

Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng

 

Ru hời ru hỡi là ru

Cha con còn ở chiến khu chưa về

Con ơi nhớ trọn lời thề

Tự do độc lập không hề hi sinh

 

Tiên học lễ, hậu học văn

 

Học khôn đến chết, học nết đến già

 

Dao có mài mới sắc, người có học mới khôn

 

Dốt đến đâu, học lâu cũng biết

 

Luyện mãi thành tài, miệt mài tất giỏi

 

Học ăn học nói học gói học mở

 

Học hay cày biết

 

Học một biết mười

 

Học thầy chẳng tày học bạn

 

Học thầy học bạn vô vạn phong lưu

 

Ăn vóc học hay

 

Dao có mài mới sắc, người có học mới lên

 

70 Còn học 71

 

Có cày có thóc, có học có chữ

 

Học hành vất vả kết quả ngọt bùi

 

Dốt đặc còn hơn hay chữ lỏng

 

Hay học thì sang, hay làm thì có

 

Một kho vàng không bằng bột năng chữ

 

Có học có khôn

 

Dẫu rằng thông hoạt

Chẳng học cũng hư

Đời tài trí bằng trời

Chẳng học cũng là phải khổ

 

2.7. Câu ca dao, tục ngữ về truyền thống gia đình

 

Chồng đẹp, vợ đẹp những nhìn mà no

 

Chồng đã giận, vợ bớt lời

 

Chồng tới vợ phải lui

 

Cả Sông Đông chợ, lắm vợ nhiều con

 

Cau non về hạt, gái đảm về chồng

 

Chẳng tu vắng vợ cũng như tu

 

Chẻ củi xem thử, lấy vợ xem tông

 

Lấy vợ xem tông, lấy chồng Xem giống

 

Chết trẻ còn hơn lấy lẽ chồng người

 

Đàn ông xây nhà đàn bà xây tổ ấm

 

Chiều người lấy việc

Chiều chồng lấy con

 

Con hơn Cha như nhà có nóc

 

Con dại cái mang

 

Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh

 

Con hư tại mẹ

 

Cháu hư tại bà

 

Thương cho roi cho vọt

Ghét cho ngọt cho bùi

 

Bà phải có ông

Chồng phải có vợ

 

Chồng chung vợ chạ

Ai khéo hầu hạ thì được chồng riêng

 

Cha mẹ sinh con trời sinh tính

 

Con hơn cha là nhà có nóc

 

Mẹ dạy thì con khéo, Cha dậy thì con khôn

 

Ơn cha nặng lắm ai ơi, nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang

 

Con người có tổ có tông

Như cây có cội như sông có nguồn

 

Chị ngã em nâng

 

Anh em trong nhà đóng cửa bảo nhau

 

Anh em như trông như mác

 

Dù cho cay đắng trăm điều

Cũng không lay được nghĩa tình keo sơn

 

Ai về chợ huyện ăn nem

Ghé qua Hưng Thạnh mà xem Tháp Chàm

 

Chiêm Sơn là lụa Mỹ nhiều

Sớm mai mắc cửi, chiều chiều bán tơ

 

Nhất Trước Kiều đám ma, nhì Thanh Hà nhà cháy

 

Hỡi cô thắt áo lưng xanh

Có về Quảng Bá với anh thì về

Quảng bá nằm ở bên đê

Bốn mùa xanh tốt với nghề trồng rau

Anh đi trước em theo sau

Để bác mẹ biết trầu cau sang nhà

 

Dù cho cha đánh mẹ treo

Em cũng chẳng bỏ chùa Keo hôm rằm

Dù cho cha đánh mẹ vằm

Em cũng chẳng bỏ hôm rằm chùa Keo

 

Dù ai buôn bán đâu đâu, hễ trông thấy tháp chùa dâu thì về

Dù ai mua bán trăm nghề nhớ ngày mùng 8 thì về hội Dâu

 

Tiếng chuông lay bóng Bồ Đề

Con chim trắng cánh bay về Tây Thiên

Mong sao dân tộc bình yên

Đạo lành che chở dân Hiền Thương Yêu

Dù cho đất sập trời siêu

Lòng tôi vẫn nhớ những điều giá gương

Khắp nơi đồng ruộng phố phường

Nhớ lời Phật dạy phải thương nhau cùng

Đạo vàng điểm núi tô sông

Xây nền văn hóa Lạc Hồng thắm tươi

 

Hải Vân bát ngát nghìn trùng

Hòn Hành ở đó là trong vịnh Hàn

Xưa nay qua đó còn thuyền

Lối đi lâu giản chẳng biền ra khơi

Dù cho cả nước sôi bùn

Hải Vân hóa cát biển Đông thành đèo

2.8. Ca dao tục ngữ nói về đạo đức

Ăn mặn nói ngay còn hơn ăn chay nói dối

 

Cái nết đánh chết cái đẹp.

 

Chết trong còn hơn sống đục.

 

Đất lành chim đỗ, đất ngỗ chim bay.

 

Đất lành chim đỗ, đất ngỗ chim bay.

 

Điều lành thì nhớ, điều dở thì quên.

 

Dù đẹp tám vạn nghìn tư, mà chẳng có nết cũng hư một đời.

 

Đừng ham nón tốt dột mưa, đừng ham người đẹp mà thưa việc làm.

 

Khẩu Phật tâm xà.

 

Kính già yêu trẻ.

 

Người chết, nết còn.

 

Người đừng khinh rẻ người.

 

Sống tết, chết giỗ.

 

Tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại.

 

Tốt gỗ hơn tốt nước sơn, xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người.

 

Uống nước chớ quên người đào mạch.

 

Uống nước, nhớ kẻ đào giếng.

 

Vô công bất hưởng lợi.

 

Xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ.

 

Yêu trẻ, trẻ đến nhà, kính già, già để tuổi cho.

2.9. Ca dao tục ngữ về tôn trọng lẽ phải

Nhân chi sơ, tính bản thiện.

 

Tôn sư trọng đạo.

 

Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng.

 

Thật vàng, không sợ lửa.

 

Nói phải củ cải cũng nghe.

 

Khôn chẳng qua lẽ, khỏe chẳng qua lời.

 

Cây ngay không sợ chết đứng.

 

Trọng nghĩa, khinh tài.

 

Đói cho sạch, rách cho thơm.

 

Ăn rách cốt cách người thương.

 

Cây ngay bóng thẳng, cây cong bóng vẹo.

 

Ăn có mời, làm có khiến.

 

Mặt trời luôn mọc ở đằng Đông.​

 

Sự thật che sự bóng.​

 

Ăn ngay ở thẳng, chẳng sợ mất lòng.

 

Ăn ngay nói phải.

 

Hòn đất ném đi, hòn chì ném lại.

 

Có đi có lại mới toại lòng nhau.

 

Vén mây mù mới thấy trời xanh.

 

Ăn ngay nói thật mọi tật mọi lành.

 

Chớ nghe lời phỉnh tiếng phờ

Thò tay vào lờ mắc kẹt cái hom.

 

Khôn ngoan chẳng lọ thật thà

Lường thưng tráo đấu chẳng qua đong đầy.

 

Người gian thì sợ người ngay

Người ngay chẳng sợ đường cày cong queo.

 

Khôn ngoan ba chốn bốn bề

Đừng cho ai lấn chớ bề lấn ai.

 

Làm người phải đắn phải đo

Phải cân nặng nhẹ, phải dò nông sâu.

 

Làm người suy chín xét xa

Cho từng gốc nhọc, cho ra vắn dài.

 

Quạ đen biết phận quạ đen

Quạ đâu có dám mon men với cò.

 

Chịu oan mang tiếng bán vàm

Bám vàm tôi bán điềm đàng tôi lo.

 

Lời nói không mất tiền mua

Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau​.

 

Dù cho đất đổi trời thay

Trăm năm vẫn giữ lòng ngay với đời​.

 

Làm người mà chẳng biết suy

Đến khi nghĩ lại còn gì là thân.

 

Lời hơn lẽ thiệt.

Lời hơn lẽ phải.

 

Của phi nghĩa có giàu đâu

Ở cho ngay thật giàu sang mới bền

 

Khó mà biết lẽ biết trời

Biết ăn biết ở hơn người giàu sang

 

Dù ai nói ngả nói nghiêng

Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân

2.10. Ca dao tục ngữ về giữ chữ tín

Chữ tín còn quý hơn vàng.

 

Giấy rách phải giữ lấy lề.

 

Hứa hươu, hứa vượn.

 

Lời nói như đinh đóng cột.

 

Một lần bất tín, vạn lần bất tin.

 

Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng.

 

Nhất ngôn cửu đỉnh.

 

Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy.

 

Quân tử nhất ngôn, tứ mã nan truy.

 

Quân tử nhất ngôn.

 

Rao mật gấu, bán mật heo.

 

Rao ngọc, bán đá.

 

Treo đầu dê, bán thịt chó.

 

Nói chín thì phải làm mười

Nói mười làm chín, kẻ cười người chê.

 

Người sao một hẹn thì nên

Người sao chín hẹn thì quên cả mười.

 

Nói lời phải giữ lấy lời

Đừng như con bướm đậu rồi lại bay.

 

Hay gì lừa đảo kiếm lời

Cả nhà ăn uống, tội trời riêng mang.

 

Kiếm củi ba năm, thiêu một giờ

Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng.

2.11. Ca dao tục ngữ về liêm khiết

"Cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư." (Chủ tịch Hồ Chí Minh)

 

Áo rách cốt cách người thương.

 

Ăn có mời; làm có khiến.

 

Cây ngay bóng thẳng, cây cong bóng vẹo.

 

Cây ngay không sợ chết đứng.

 

Của mình thì giữ bo bo, của người thì đớp cho no mới về.

 

Cọp chết để da, người ta chết để tiếng.

 

Ăn có mời, làm có khiến.

 

Ăn ngay nói thật, mọi tật mọi lành.

 

Mất lòng trước, được lòng sau.

 

Thuốc đắng giã tật, sự thật mất lòng.

 

Phải trái phân minh, nghĩa tình trọn vẹn.

 

Giấy rách phải giữ lấy lề.

 

Lời hơn lẽ thiệt.

 

Khôn chẳng qua lẽ, khỏe chẳng qua lời.

 

Lời hay lẽ phải.

 

Nói phải củ cải cũng nghe.

 

Ăn ngay nói phải.

 

Nghe điều phải thích lời hay.

 

Sự thật che sự bóng.

 

Khó mà biết lẽ biết lời

Biết ăn biết ở như người giàu sang.

 

Làm người phải đắn phải đo

Phải cân nặng nhẹ, phải dò nông sâu.

 

Khôn ngoan ba chốn bốn bề

Đừng cho ai lấn chớ bề lấn ai.

 

Làm người suy chín xét xa

Cho từng gốc nhọc, cho ra vắn dài.

 

Những người tính nết thật thà

Đi đâu cũng được người ta tin dùng.

 

Tu thân rồi mới tề gia

Lòng ngay nói thật gian tà mặc ai.

 

Ban ngày quan lớn như thần

Ban đêm quan lớn tần mần như ma.

 

Cười người chớ vội cười lâu

Cười người hôm trước hôm sau người cười.

 

Đói cho sạch, rách cho thơm

Chớ có bờm xôm, để đời tiếng xấu.

 

Của thấy không xin

Của công giữ gìn

Của rơi không nhặt.

 

Mặc đẹp chưa hẳn đã là sang

Kém phẩm vô tâm, khạc nhổ càng

Tư cách trang đài, do biết nghĩ

Kín đáo, sạch sẽ tướng thật sang.

2.12. Ca dao tục ngữ về chí công vô tư

Ăn cho đều, kêu cho sòng.

 

Bênh lí, không bênh thân.

 

Cầm cân nảy mực.

 

Cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư.

 

Chớ dong kẻ gian, chớ oan người ngay.

 

Công ai nấy nhớ, tội ai nấy chịu.

 

Làm trai chớ nghề bầu chủ, làm gái chớ nghề mụ dầu.

 

Làm trai cứ nước hai mà nói.

 

Người trên đứng đắng, kẻ dưới dám nhờn.

 

Quân pháp bất vị thân.

 

Tài thượng phân minh thị trượng phu.

 

Tha kẻ gian, oan người ngay.

 

Thượng bất chính, hạ tắc loạn.

 

Trốn việc quan đi ở chùa.

 

Vay thì trả, chạm thì đền.

 

Áo rách cốt cách người thương.

 

Đói cho sạch, rách cho thơm.

 

Làm trai bạt núi phá rừng

Nước sông tát cạn vẫy vùng bể khơi.

 

Làm trai cho đáng nên trai

Khom lưng uốn gối gánh hai hạt vừng.

 

Khôn ngoan tính trọn mọi bề

Chẳng cho ai lận, chẳng hề lận ai.

 

Làm trai quyết chí tu thân

Công danh chớ vội, nợ nần chớ lo.

 

Bề trên ở chẳng kỷ cương

Cho nên kẻ dưới lập đường mây mưa.

 

Thương em anh để trong lòng

Việc quan anh cứ phép công anh làm.

 

Chí làm trai dặm nghìn yên ngựa

Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao.

 

Làm trai cho đáng nên trai

Xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài yên.

 

Làm trai cho đáng nên trai

Phú Xuân đã trải Đồng Nai đã từng.

 

Làm trai nết đủ năm đường

Trước tiên điều hiếu đạo thường xưa nay

Công cha đức mẹ cao dày

Cưu mang trứng nước những ngày ngây thơ

Nuôi con khó nhọc đến giờ

Trưởng thành con phải biết nhờ hai thân

Thức khuya dậy sớm chuyên cần

Quạt nồng ấp lạnh giữ phần đạo con.

2.13. Ca dao tục ngữ về tôn trọng người khác

Tự trọng người lại trọng thân.

 

Áo rách cốt cách người thương

 

Kính lão đắc thọ.

 

Đất có thổ công, sông có hà bá.

 

Có đi có lại mới toại lòng nhau.

 

Đường mòn nhân nghĩa không mòn.

 

Tự trọng người lại trọng than.

 

Trọng nghĩa khinh tài.

 

Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy.

 

Ăn có mời, làm có khiến.

 

Tôn sư trọng đạo.

 

Không thầy đố mày làm nên.

 

Nhập gia tùy tục.

 

Kính già yêu trẻ.

 

Vay thì trả, chạm thì đền.

 

Chim khôn kêu tiếng rảnh rang

Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.

 

Tánh bần tiện sanh do tánh tham khởi

Muốn thanh cao phải diệt trừ tham.

 

Chữ tín thay đức con người

Của mượn gìn giữ xong rồi trả ngay.

 

Ai ơi đừng tham của người

Lấy một phải trả gấp mười về sau.

 

Của người nhọc đổ mồ hôi

Chớ vì tham đắm cướp về tay ta.

 

Cười người chớ vội cười lâu

Cười người hôm trước, hôm sau người cười.

 

Lâu ngày nhớ lại kẻo quên

Tình thân nghĩa cũ có bền hay không?

 

Làm người suy chín xét xa

Cho tường gốc, ngọn, cho ra vắn dài.

 

Khó mà biết lẽ biết lời

Biết ăn biết ở hơn người giàu sang.

 

Vay chín thì trả cả mười

Phòng khi túng lỡ có người cho vay.

 

Kim vàng, ai nỡ uốn câu

Người không ai nỡ nói nhau nặng lời​.

 

Lời nói chẳng mất tiền mua

Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.

 

Chim khôn kêu tiếng rãnh rang

Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.

 

Khó mà biết lẽ biết lời

Biết ăn biết ở hơn người giàu san

 

Nói người phải nghĩ đến ta

Thử sờ lên gáy xem xa hay gần

Nói người phải nghĩ đến thân

Thử sờ lên gáy xem gần hay xa.

2.14. Ca dao, tục ngữ về lòng trung thực

Thuốc đắng giã tật - Sự thật mất lòng

 

Ăn ngay nói thẳng.

 

Ăn ngay nói thật mọi tật mọi lành.

 

Một câu nói ngay bằng ăn chay cả tháng.

 

Mất lòng trước, được lòng sau.

 

Cây ngay không sợ chết đứng

 

Mật ngọt chết ruồi.

 

Một lần bất tín, vạn lần bất tin.

 

Thẳng mực thì đau lòng gỗ.

 

Thẳng như ruột ngựa.

 

Những người tính nết thật thà

Đi đâu cũng được người ta tin dùng.

 

Tu thân rồi mới tề gia

Lòng ngay nói thật gian tà mặc ai.

 

Đừng bảo rằng trời không tai

Nói đơm nói đặt cậy tài mà chi.

 

Của phi nghĩa có giàu đâu,

Ở cho ngay thẳng giàu sau mới bền.

 

Người gian thì sợ người ngay.

Người ngay chẳng sợ đường cày cong queo.

 

Chớ nghe lời phỉnh tiếng phờ

Thò tay vào lờ mắc kẹt cái hom.

 

Khôn ngoan chẳng lọ thật thà

Lường thưng tráo đấu chẳng qua đong đầy.

 

Bề ngoài thơn thớt nói cười

Mà trong gian hiểm giết người không đao.

 

Đời loạn mới biết tôi trung

Tuế hàn mới biết bá tùng kiên tâm.

 

Nhà nghèo yêu kẻ thật thà

Nhà quan yêu kẻ giàu ra nịnh thần.

 

Tục ngữ về đạo lý làm người, đạo đức lối sống

Người ngay mắc cạn, kẻ gian vui cười.

 

Cứu vật, vật trả ơn, cứu nhân, nhân trả oán.

 

Lá lành đùm lá rách.

 

Thương người như thể thương thân.

 

Chị ngã em nâng.

 

Kính lão đắc thọ.

 

Làm việc phi pháp, sự ác đến ngay.

 

Mưu thâm họa diệt thâm.

 

Sát nhân, giả tử.

 

Nọc người bằng mười nọc rắn.

 

Ở hậu gặp hậu, ở bạc gặp bạc.

 

Đời trước đắp nấm, đời sau ấm mồ.

 

Ngu si hưởng thái bình.

 

Thánh nhân đãi kẻ khù khờ.

 

Khôn sống, mống chết.

 

Đẹp nết hơn đẹp người.

 

Sướng một lúc, khổ một đời.

 

Trách mình trước, trách người sau.

 

Tốt danh hơn lành áo.

 

Cái nết đánh chết cái đẹp.

 

Cười người ba tháng, ai cười ba năm.

 

Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm.

 

Một miếng khi đói bằng gói khi no.

 

Một câu nhịn là chín câu lành.

 

Ăn coi nồi ngồi coi hướng.

 

Giấy rách phải giữ lấy lề.

 

Anh em trong nhà, đóng cửa dạy nhau.

 

Anh em thuận hòa là nhà có phúc.

 

Ở hiền gặp lành.

 

Chết giả mới biết dạ anh em.

 

Tiền bạc đi trước mực thước đi sau.

 

Người có lúc vinh, lúc nhục.

 

Sông có khúc, người có lúc.

 

Uống nước nhớ nguồn.

 

Giấy rách phải giữ lề.

 

Thức lâu mới biết đêm dài, ở lâu mới biết con người có nhân.

 

Hết tiền tài, hết nhân nghĩa.

 

Quân tử lông chân, tiểu nhân lông bụng.

 

Lòng sông lòng bể dễ dò, ai từng bẻ thước mà đo lòng người.

 

Anh hùng đa nạn, hồng nhân đa truân.

 

Thấy có thóc mới cho vay gạo.

 

Biết đâu mà há miệng chờ ho.

 

Nhác đâm thì đổi chày, nhác xay thì đổi cối.

 

Giận mất khôn, lo mất ngon.

 

Đánh nhau chia gạo, chào nhau ăn cơm.

2.15. Ca dao tục ngữ về đạo đức kinh doanh

Tiền trong nhà tiển chửa, tiền ra cửa tiền đẻ.

 

Treo đầu dê, bán thịt chó.

 

Ăn gian nó giàn ra đấy.

 

Mua bán chợ đen, thân quen nhiều ngách.

 

Quen mặt đắt hàng.

 

Buôn có bạn bán có phường.

 

Bán quạt mùa đông, buôn hồng mùa hè.

 

Mua trâu bán chả, mua vải bán áo.

 

Phước đức quí hơn bạc vàng

Mấy người gian ác giàu sang ích gì?

 

Dò sông, dò bể, dò nguồn,

Biết sao được bụng lái buôn mà dò.

 

Chợ đang đông em không toan liệu,

Chợ tan rồi em bán chịu không ai mua.

 

Đi buôn không lỗ thì lời,

Đi ra cho biết mặt trời mặt trăng.

 

Chẳng lo bán ế chợ ròng,

Khách năng qua lại, đói lòng phải mua.

 

Cái vòng danh lợi cong cong,

Kẻ hòng ra khỏi, người mong bước vào.

 

Vay chín thì phải trả mười,

Phòng khi túng lỡ có người cho vay.

 

Bánh đúc mà đổ ra sàng

Thuận anh anh bán, thuận nàng nàng mua.

2.16. Các câu ca dao tục ngữ về thầy cô, tôn sư trọng đạo

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.

 

Ăn vóc học hay.

 

Học thầy không tày học bạn.

 

Không thầy đố mày làm nên.

 

Mồng 1 tết cha, mồng ba tết thầy.

 

Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy.

 

Một gánh sách không bằng một giáo viên giỏi.

 

Một kho vàng không bằng một nang chữ.

 

Muốn biết phải hỏi, muốn giỏi phải học.

 

Muốn sang thì bắc cầu kiều, muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy.

 

Người không học như ngọc không mài.

 

Nhất quý nhì sư

 

Nhất tự vi sư, bán tự vi sư.

 

Ông bảy mươi học ông bảy mốt.

 

Tiên học lễ, hậu học văn.

 

Trọng thầy mới được làm thầy.

 

Gươm vàng rớt xuống Hồ Tây

Ơn cha nghĩa trọng công thầy cũng sâu.

 

Mấy ai là kẻ không thầy

Thế gian thường nói đố mày làm nên.

 

Vua, thầy, cha, ấy va ngôi

Kính thờ như một, trẻ ơi ghi lòng.

 

Mười năm rèn luyện sách đèn

Công danh gặp bước, chớ quên ơn thầy.

 

Mẹ cha công đức sinh thành

Ra trường thầy dạy học hành cho hay.

 

Con ơi ham học chớ đùa

Bữa mô ngày Tết thỉnh bùa thầy đeo.

 

Cơm cha, áo mẹ, chữ thầy

Nghĩ sao cho bõ những ngày ước mong.

 

Ơn thầy soi lối mở đường

Cho con vững bước dặm trường tương lai

 

Con ơi ghi nhớ lời này

Công cha, nghĩa mẹ, công thầy chớ quên.

 

Chữ thầy trong cõi người ta

Dặm dài hoa nắng trời xa biển đầy.

 

Dạy con từ thửo tiểu sinh

Gần thầy gần bạn tập tành lễ nghi

 

Học cho "cách vật trí tri"

Văn chương chữ nghĩa nghề gì cũng thông.

 

Ai người đánh thức đêm trường mộng

Ai soi đường lồng lộng ánh từ quang

 

Ơn Thầy không bằng gốc bễ

Nghĩa Thầy gánh vác cuộc đời học sinh.

 

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

Có danh có vọng nhớ thầy khi xưa.

 

Công cha, áo mẹ, chữ thầy

Gắng công mà học có ngày thành danh.

 

Mười năm rèn luyện sách đèn

Công danh gặp ước, chớ quên ơn thầy.

 

Tạ ơn thầy đã dẫn con vào rừng tri thức

Cảm nghĩa cô đã dắt trò đến biển yêu thương.

 

Con hơn cha là nhà có phúc

Trò hơn thầy là đất nước yên vui.

 

Dốt kia thì phải cậy thầy

Vụng kia cậy thợ thì mày làm nên.

 

Đến đây viếng cảnh viếng thầy

Không say mùi đạo cũng khuây mùi trần.

 

Bẻ lau làm viết chép văn

Âu Dương có mẹ dạy răn như thầy.

 

Ở đây gần bạn gần thầy

Có công mài sắt có ngày nên kim

 

Ai thắp lửa bồ đề tỏa sáng

Đạo vô vi sưởi ấm cả trần gian.

 

Khó thì hết thảo hết ngay

Công cha cũng bỏ, nghĩa thầy cũng quên.

 

Dòng sông sâu con sào dài đo được

Lòng người đưa đò ai biết được sự bao la.

 

Ơn dạy dỗ cao tường hơn núi

Nghĩa thầy trò như nước biển khơi.

 

Lời cô giảng dạy khuyên răn

Là hành trang của tháng năm vào đời.

 

Ơn của thầy bao la vô tận

Biển rộng sông dàu có sánh được đâu.

 

Chân trời góc bể có lúc tận cùng

Ơn thầy cô không bao giờ cùng tận.

 

Mai đây trên bước đường dài

Công thành danh toại danh toại nhớ hoài ơn cô.

 

Ân truyền thụ minh tâm khắc trí

Nghĩa sinh thành tạc dạ lưu tâm.

 

Thầy cô luôn là ngọn đèn soi sáng

Dẫn lối em đi đến những ước mơ.

 

Cảm ơn thầy cho em tất cả

Người cho em cuộc sống muôn màu.

 

Ơn cô tô điểm vàng son

Tỏa vầng tri thức trang tròn ước mơ

 

Ơn thầy vời vợi non cao

Học trò khắc cốt ghi sâu suốt đời

 

Người bắt cầu đưa em sang sông

Dẫu ngàn năm vẫn nhớ câu ơn người.

 

Dẫu mai đi trọn phương trời

Những lời thầy dạy đời đời khắc ghi.

 

Em vẫn biết đời người là hữu hạn

Nhưng lòng cô là vô hạn tình người.

2.17. Ca dao, tục ngữ ngắn gọn về tình bạn

Ăn cùng mâm, nằm cùng chiếu.

 

Chọn bạn mà chơi, chọn nơi mà ở.

 

Giàu vì bạn, sang vì vợ.

 

Học thầy không tày học bạn.

 

Kẻ thù của kẻ thù là bạn.

 

Kết thù thành bạn.

 

Lắm kẻ yêu hơn nhiều người ghét.

 

Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ.

 

Tình bạn là bản tình ca tuyệt vời.

 

Trong hoạn nạn mới biết ai là người bạn tốt.

 

Tứ hải giai huynh đệ.

 

Bạn bè chung thủy, dưới trên đàng hoàng.

 

Khi nào trái đất còn quay

Trái tim còn đập vẫn là bạn nhau.

 

Tình bạn là vạn bông hoa

Tình bạn là vạn bài ca muôn màu.

 

Bạn bè là nghĩa tương tri

Sao cho sau trước một bờ mới nên.

 

Ai ơi nhớ lấy câu này

Tình bạn là mối duyên thừa trời cho.

 

Sống trong bể ngọc kim cương

Không bằng sống giữa tình thương bạn bè.

 

Bạn bè là nghĩa tương tri

Sao cho sau trước một bề mới nên.

 

Đi xa mà gặp bạn hiền

Cũng bằng ăn quả đào tiên trên trời.

 

Tuy rằng xứ bắc, xứ đông

Khắp trong bờ cõi cũng dòng anh em.

 

Ra về nhớ bạn khóc thầm

Năm thân áo vải ướt đầm cả năm.

 

Chim lạc bầy thương cây nhớ cội

Xa bạn xa bè, lặn lội tìm nhau.

 

Mùa hoa phượng là mùa thi cử

Chúc bạn hiền hai chữ thành công.

 

Bạn bè ít thôi vừa đủ dùng

Chứ đừng để cả thùng

 

Rồi lâm vào đường cùng

Phút cuối cùng nó mới đi cúng.

 

Sông Cửu Long nghìn năm vẫn chảy

Nghĩa bạn bè mãi mãi không phai.

 

Suốt đời gắn bó keo sơn

Cùng chung trí hướng cùng nhau kết tình.

 

Bạn bè là nghĩa tương thân

Khó khăn, thuận lợi ân cần có nhau.

 

Bạn bè là nghĩa trước sau

Tuổi thơ cho đến bạc đầu không phai.

 

Lúc ăn chơi sao không gọi bạn?

Lúc hoạn nạn cứ gọi bạn ơi…

Lúc ăn chơi ở đâu cũng thấy bạn

Lúc hoạn nạn gọi bạn chẳng thấy đâu.

 

Ăn cùng mâm, nằm cùng chiếu.

 

Bạn bè là nghĩa tương tri

Sao cho sau trước một bờ mới nên.

 

Chọn bạn mà chơi, chọn nơi mà ở.

 

Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng.

 

Học thầy không tày học bạn.

 

Lắm kẻ yêu hơn nhiều người ghét.

 

Sao cho sau trước một bờ mới nên.

 

Thêm bạn bớt thù.

 

Trong hoạn nạn mới biết ai là người bạn tốt.

 

Trong khốn khó mới biết bạn tốt.

 

Tứ hải giai huynh đệ.

 

Sống trong bể ngọc kim cương,

Không bằng sống giữa tình thương bạn bè.

 

Đã là bạn thì mãi mãi là bạn,

Đừng như sông lúc cạn lúc đầy.

 

Anh em bốn bể là nhà,

Người dưng khác họ vẫn là anh em.

 

Chim lạc bầy thương cây nhớ cội,

Xa bạn xa bè, lặn lội tìm nhau.

 

Ra về nhớ bạn khóc thầm,

Năm thân áo vải ướt đầm cả năm.

 

Bạn bè là nghĩa tương tri,

Sao cho sau trước một bờ mới nên.

 

Bắt con cá lóc nướng trui,

Làm mâm rượu trắng đãi người phương xa.

 

Ai ơi nhớ lấy câu này,

Tình bạn là mối duyên thừa trời cho.

 

Ra đi vừa gặp bạn thân (bạn hiền),

Cũng bằng ăn quả đào tiên trên trời.

 

Khi nào trái đất còn quay,

Trái tim còn đập vẫn là bạn nhau.

 

Tuy rằng xứ Bắc, xứ Đông,

Khắp trong bờ cõi cũng dòng anh em.

 

Sông sâu sào vắn khó dò,

Muốn qua thăm bạn sợ đò không đưa.

 

Sông Cửu Long nghìn năm vẫn chảy,

Nghĩa bạn bè mãi mãi không phai.

 

Quen nhau từ thuở hàn vi,

Bây giờ sang trọng sá chi thân hèn.

 

Suốt đời gắn bó keo sơn,

Cùng chung trí hướng cùng nhau kết tình.

 

Tuy rằng xứ Bắc, xứ Đông,

Khắp trong bờ cõi cũng dòng anh em.

 

Sông sâu sào vắn khó dò,

Muốn qua thăm bạn sợ đò không đưa.

 

Sông Cửu Long nghìn năm vẫn chảy,

Nghĩa bạn bè mãi mãi không phai.

 

Quen nhau từ thuở hàn vi,

Bây giờ sang trọng sá chi thân hèn.

 

Suốt đời gắn bó keo sơn,

Cùng chung trí hướng cùng nhau kết tình.

 

Tình bạn là vạn bông hoa

Tình bạn là vạn bài ca muôn màu.

 

Tình bạn là cái chi chi,

Nướng con cá lóc chơi liền một ve.

Chơi xong mới thấy ngà ngà,

Ôm nhau một cái bạn bè muôn năm.

 

Thói thường gần mực thì đen,

Anh em bạn hữu phải nên chọn người.

Những người lêu lổng chơi bời,

Cùng là lười biếng ta thời tránh xa.

 

Ai ơi nhớ lấy câu này,

Tình bạn là mối duyên thừa trời cho.

 

Bạn bè là nghĩa tương tri,

Sao cho sau trước một bờ mới nên.

 

Bắt con cá lóc nướng trui,

Làm mâm rượu trắng đãi người phương xa.

 

Bạn bè là nghĩa tương thân,

Khó khăn, thuận lợi ân cần có nhau.

Bạn bè là nghĩa trước sau,

Tuổi thơ cho đến bạc đầu không phai.

 

Suốt đời gắn bó keo sơn,

Cùng chung trí hướng cùng nhau kết tình.

 

Mùa hoa phượng là mùa thi cử

Chúc bạn hiền hai chữ thành công

 

Cho tôi tôi chọn hoa hồng

Cho tôi chọn bạn tấm lòng thủy chung

 

Ra đi vừa gặp bạn thân (bạn hiền),

Cũng bằng ăn quả đào tiên trên trời.

 

Khi nào trái đất còn quay,

Trái tim còn đập vẫn là bạn nhau.

 

Sống trong bể ngọc kim cương,

Không bằng sống giữa tình thương bạn bè.

 

Chim lạc bầy thương cây nhớ cội,

Xa bạn xa bè, lặn lội tìm nhau.

 

Ra về nhớ bạn khóc thầm,

Năm thân áo vải ướt đầm cả năm.

 

Tuy rằng xứ Bắc, xứ Đông,

Khắp trong bờ cõi cũng dòng anh em.

 

Sông sâu sào vắn khó dò,

Muốn qua thăm bạn sợ đò không đưa.

 

Sông Cửu Long nghìn năm vẫn chảy,

Nghĩa bạn bè mãi mãi không phai.

 

Đã là bạn thì mãi mãi là bạn,

Đừng như sông lúc cạn lúc đầy.

 

Anh em bốn bể là nhà,

Người dưng khác họ vẫn là anh em.

 

Quen nhau từ thuở hàn vi,

Bây giờ sang trọng sá chi thân hèn.

 

Bạn bè là nghĩa tương thân.

Khó khăn, thuận lợi ân cần có nhau.

Bạn bè là nghĩa trước sau.

Tuổi thơ cho đến bạc đầu không phai

 

Mực xanh giấy trắng viết ngắn còn dài

Mong rằng tình bạn nhớ hoài ngàn năm

 

Tình bạn tươi thắm như hoa

Tình bạn là bản tình ca tuyệt vời

 

Ai đi đâu đấy hỡi ai?

Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm.

Tìm em như thể tìm chim,

Chim bay miền Bắc, đi tìm biển Đông.

 

Yêu nhau thì ném miếng trầu,

Ghét nhau ném đá vỡ đầu nhau ra.

Yêu nhau cau bổ làm ba,

Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười.

 

Anh đi đường ấy xa xa,

Để em ôm bóng trăng tà năm canh.

 

Nước non một gánh chung tình,

Nhớ ai ai có nhớ mình hay không?

 

Yêu nhau chẳng quản lầm than,

Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng qua.

2.18. Ca dao, tục ngữ về quan hệ xóm giềng, xã hội

Bán anh em xa mua láng giếng gần.

 

Ăn cây nào, rào cây ấy

 

Kính lão, đắc thọ

 

Dẫu rằng chí thiễn tài hèn

Chịu khó nhẫn nại làm nên cơ đồ.

 

Ai ơi giữ chí cho bền

Dù ai xoay hướng đổi nền mặc ai.

 

Hãy cho bền chí câu cua,

Dù ai câu chạch câu rùa mặc ai.

 

Người đời ai khỏi gian nan

Gian nan có thuở thanh nhàn có khi.

 

Có bột mới gột nên hồ

Tay không mà dựng cơ đồ mới ngoan.

 

Bầu ơi thương lấy bí cùng

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

 

Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại lên hòn núi cao.

 

Ngọc kia chuốt mãi cũng tròn,

Sắt kia mài mãi cũng còn nên kim.

Việc học và vận dụng tốt ca dao, tục ngữ không chỉ giúp học sinh đạt kết quả cao trong các kỳ thi Trạng Nguyên Tiếng Việt mà còn góp phần hình thành nhân cách, lối sống đẹp và tình yêu đối với tiếng Việt. VietJack hy vọng bộ 500 câu ca dao, tục ngữ ôn thi Trạng Nguyên Tiếng Việt sẽ là tài liệu hữu ích giúp các em học sinh tự tin, chủ động và hiệu quả hơn trong quá trình học tập và ôn luyện.

Xem thử Câu hỏi ôn thi TNTV lớp 1 Xem thử Câu hỏi ôn thi TNTV lớp 3 Xem thử Câu hỏi ôn thi TNTV lớp 4 Xem thử Câu hỏi ôn thi TNTV lớp 5

Xem thêm các bài viết về ca dao, tục ngữ, thành ngữ ôn thi Trạng Nguyên Tiếng Việt chọn lọc hay khác:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.


Đề thi, giáo án các lớp các môn học