Với soạn bài Mấy ý nghĩ về thơ trang 72, 73, 74, 75, 76, 77 Ngữ văn 12 Kết nối tri thức sẽ giúp học sinh lớp 12 trả lời câu hỏi từ đó dễ dàng soạn văn 12.
Soạn bài: Mấy ý nghĩ về thơ - Cô Nguyễn Hoa (Giáo viên VietJack)
* Trước khi đọc bài:
Câu hỏi (Trang 72 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Trong các bài nghiên cứu, phê bình về thơ bạn đã đọc, bạn thích nhất bài nào? Vì sao?
Trả lời:
Trong các bài nghiên cứu, phê bình về thơ em thích nhất là bài: Nguyễn Văn Chức: một nét thơ. Vì người phê bình là Phạm Xuân Dũng đã có những tìm hiểu vô cùng tỉ mỉ và phân tích cũng rất chính xác với cảm xúc thơ của tác giả.
Trong các bài nghiên cứu, phê bình về thơ, tôi ấn tượng nhất với “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh và Hoài Chân. Đây không chỉ là một công trình phê bình tiêu biểu mà còn là một tác phẩm giàu chất văn, thể hiện sự tinh tế trong cảm thụ thơ ca.
Điều tôi yêu thích ở tác phẩm này là cách các tác giả tiếp cận thơ bằng cả lí trí và cảm xúc. Họ không phân tích khô khan mà luôn đặt cái “hồn thơ” của từng thi sĩ vào bối cảnh thời đại, từ đó làm nổi bật phong cách riêng của các nhà thơ như Xuân Diệu, Huy Cận,… Ngoài ra, ngôn ngữ phê bình rất giàu hình ảnh, giàu nhạc điệu, khiến người đọc không chỉ hiểu mà còn cảm được cái hay của thơ.
Chính sự kết hợp hài hòa giữa khoa học và nghệ thuật ấy đã làm nên giá trị lâu bền của tác phẩm, khiến tôi đặc biệt yêu thích.
* Đọc văn bản:
Gợi ý trả lời câu hỏi trong bài đọc
1. Chú ý một số quan niệm về thơ được tác giả nêu lên và nhận xét.
Những quan niệm đều được tác giả chọn lọc và đưa ra nhận xét rất chính xác, tài hoa.
- Thơ không chỉ là “lời đẹp”, không chỉ viết về cái đẹp hay những đề tài cao sang, quen thuộc.
- Thơ có thể bắt nguồn từ những điều bình dị, đời thường, thậm chí thô mộc trong cuộc sống.
- Thơ khác văn xuôi ở khả năng in sâu vào trí nhớ, có sức ám ảnh lâu bền.
→ Nhận xét: Tác giả đã bác bỏ những quan niệm phiến diện, đồng thời đưa ra cái nhìn toàn diện, hiện đại: thơ gắn với đời sống và có sức lay động đặc biệt đối với con người.
2. Câu hỏi tu từ được dùng nhằm mục đích gì?
Câu hỏi tu từ làm tăng sắc thái biểu cảm, gợi ra nhiều ý nghĩa, tạo hiệu quả thẩm mĩ.
Câu hỏi “Đầu mối của thơ có lẽ ta đi tìm bên trong tâm hồn con người chăng?” không nhằm hỏi mà để gợi suy nghĩ. Nhấn mạnh nguồn gốc của thơ là từ đời sống nội tâm, cảm xúc con người.
→ Tác dụng: Làm nổi bật luận điểm, tăng tính gợi mở và sức thuyết phục cho lập luận.
3. Chỉ ra các ý được triển khai ở phần 3
- Khẳng định vai trò quan trọng của thơ
Quảng cáo
- Nhận định thơ phải có ý tưởng, ý thức kết hợp với cảm xúc cá nhân
- Làm thơ hay phải biết tìm hình ảnh phù hợp.
- Thơ là tiếng nói đầu tiên của tâm hồn khi va chạm với cuộc sống.
- Thơ khởi nguồn từ cảm xúc (cảm xúc là phần cốt lõi của đời sống tâm hồn).
- Thơ có tư tưởng nhưng tư tưởng ấy gắn liền với cảm xúc, không thuần lí trí.
- Tiếp nhận thơ chủ yếu bằng tâm hồn, tình cảm chứ không chỉ bằng lí trí.
4. Người viết chuyển sang bàn luận về khía cạnh nào của thơ?
Bàn luận về sức gợi, sự biểu tượng mà thơ đem đến.
- Tác giả chuyển sang bàn về ngôn ngữ thơ (chữ và tiếng trong thơ).
- Nhấn mạnh giá trị gợi cảm, gợi hình của từ ngữ trong thơ.
5. Tác giả quan niệm như thế nào về vần các khía cạnh hình thức khác trong thơ?
Đó đều là những thành phần vô cùng quan trong thơ, để cấu thành một tác phẩm thơ hoàn chỉnh.
- Không tuyệt đối hoá thơ tự do hay thơ có vần.
- Hình thức (vần, nhịp, luật…) chỉ là phương tiện, không quyết định giá trị thơ.
- Điều quan trọng nhất là thơ phải diễn tả được tình cảm, tư tưởng chân thực của con người.
- Mỗi thời đại có thể tạo ra hình thức thơ phù hợp riêng.
* Sau khi đọc
Nội dung chính: Bàn luận về Quan niệm về thơ của Nguyễn Đình Thi vẫn còn giá trị đến ngày nay vì sự đúng đắn trong nội dung tư tưởng, sự hấp dẫn trong nghệ thuật biểu đạt.
Quảng cáo
Trả lời câu hỏi sau khi đọc:
Câu 1 (trang 77 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Tóm lược nội dung từng phần của văn bản (theo số thứ tự) và nêu mối quan hệ giữa các phần.
Trả lời:
- Phần 1: một số những quan niệm về thơ
- Phần 2: sự tinh tế, tỉ mỉ trong việc làm một bài thơ
- Phần 3: Hình ảnh thơ là điều gây nên ấn tượng cho một bài thơ
- Phần 4: Ngôn ngữ trong thơ cũng phải được lựa chọn cẩn thận
- Phần 5: Tác giả suy nghĩ về tầm quan trọng vần trong thơ.
- Có thể khái quát nội dung từng phần như sau:
+ Phần 1: Bình luận một số quan điểm về thơ (từ “Từ trước đến nay” đến “nhưng lại không phải là thơ”).
+ Phần 2: Lí giải của tác giả về bản chất của thơ (từ “Đầu mối của thơ có lẽ ta đi tìm bên trong tâm hồn” đến “nhưng thơ thì luôn luôn đòi hỏi sự toàn bích.”).
+ Phần 3: Quan niệm của tác giả về vấn đề vần trong thơ và thơ tự do (từ “Cuối cùng tôi muốn nói tới vấn đề thơ tự do” đến “giới hạn chỉ còn do sức đi xa của mình.”).
- Các phần có quan hệ với nhau rất chặt chẽ. Bình luận một số quan niệm về thơ (phần 1) là cơ sở để tác giả đưa ra ý kiến của mình về bản chất của thơ (phần 2). Những diễn giải về bản chất của thơ trở nên đầy đủ hơn khi bàn luận thêm một số yếu tố quan trọng của hình thức thơ (phần 3).
Câu 2 (trang 77 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Ở phần 1 của văn bản, những quan niệm nào về thơ đã được tác giả nêu lên để nhận xét? Mục đích của việc nhận xét đó là gì?
Trả lời:
Những quan niệm về thơ đã được nêu lên:
- Từ ngữ trong thơ không cần chọn những từ ngữ mĩ miều mà cũng có thể chọn những ngôn ngữ rất “đời”
Quảng cáo
- Các hình ảnh trong thơ chẳng cần là những hình ảnh quá xa vời, khó hiểu mà đôi khi chỉ cần những hình ảnh gần gũi
Mục đích: Sự đột phá trong thơ ca đều được ghi nhận miễn sao bài thơ nói lên được nỗi niềm của tác giả.
- Một số quan niệm về thơ được nêu ở phần 1 và lời nhận xét của tác giả:
+ Thơ là những lời đẹp. Nhận xét: Không phải như vậy, vì Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du vẫn sẵn sàng đưa vào thơ những từ ngữ tầm thường của lời nói hằng ngày.
+ Thơ là ở những đề tài đẹp. Nhận xét: Tác giả cũng phủ nhận quan niệm này, vì cho rằng, trong thơ Bô-đơ-le (Baudelaire) hay thơ của chúng ta hiện nay có nhiều bài viết về những đối tượng không hề đẹp.
+ Khác với văn xuôi, thơ dễ in sâu vào trí nhớ người đọc. Nhận xét: Quan niệm như vậy vẫn thiếu sức thuyết phục, vì chưa cắt nghĩa được lí do thơ làm cho người đọc nhớ; mặt khác, dễ nhớ không hẳn là bản chất của thơ, vì có những thứ dễ nhớ mà hoàn toàn không phải là thơ.
- Việc nêu một số quan niệm như trên và đưa ra lời nhận xét nhằm mục đích hướng người đọc vượt qua những ngộ nhận, xác định sự cần thiết phải hiểu về thơ một cách sâu sắc, căn bản hơn. Đây cũng là cách đặt vấn đề cho việc trình bày quan niệm của tác giả ở phần sau.
Câu 3 (trang 77 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Chỉ ra các luận điểm thể hiện quan niệm của tác giả về thơ, phân tích cách triển khai một luận điểm tiêu biểu.
Trả lời:
- Quan niệm về thơ:
+ Thơ bắt nguồn từ nội tâm con người, ngôn ngữ thơ diễn tả những rung động sâu sắc.
+ Thơ biểu đạt bằng hình ảnh giàu cảm xúc, không phải bằng lí lẽ khô khan.
+ Ngôn ngữ thơ có nhịp điệu, nhạc tính, gợi ý nghĩa sâu xa.
- Triển khai luận điểm 2:
+ Nêu ý chính: thơ không nói bằng ý niệm thuần túy.
+ Giải thích: thơ khác triết lí, thiên về cảm xúc nên có sức lay động.
+ Dẫn chứng: dùng ca dao để minh họa.
+ Khẳng định: cảm xúc làm cho hình ảnh thơ luôn mới mẻ, độc đáo.
- Một số luận điểm thể hiện quan niệm của tác giả về thơ:
+ Đầu mối của thơ là ở bên trong tâm hồn con người, ngôn ngữ thơ là phương tiện biểu đạt những “rung chuyển khác thường trong tâm hồn”.
+ Thơ không biểu đạt bằng ý niệm, bằng luận lí, mà bằng hình ảnh thấm đẫm cảm xúc.
+ Chữ và tiếng trong thơ phải có nhịp điệu, nhạc điệu để không chỉ gọi tên sự vật, mà còn gợi ra những ý tứ sâu xa.
- Luận điểm thứ hai: Thơ không biểu đạt bằng ý niệm, bằng luận lí, mà bằng hình ảnh thấm đẫm cảm xúc được triển khai bằng các bước sau đây:
+ Mở đầu bằng câu chủ đề: “Nên thơ không nói bằng ý niệm thuần tuý.”
+ Ngay sau đó, tác giả diễn giải: Nói bằng ý niệm thuần tuý là chuyện của triết học, luận lí; thơ nói bằng cảm xúc cho nên có sức mạnh lay động chiều sâu của tâm hồn con người.
+ Đưa ra một đoạn ca dao làm dẫn chứng, phân tích để thấy sự tác động vào tâm hồn con người thể hiện cụ thể như thế nào.
+ Giải thích và chứng minh để làm rõ cảm xúc của người làm thơ khiến cho hình ảnh trong thơ bao giờ cũng “mới mẻ, đột ngột lạ lùng” như được “nhìn bằng con mắt của người đầu tiên”.
Câu 4 (trang 77 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Theo tác giả, điều gì đóng vai trò quan trọng trong sáng tạo thơ? Tác giả đã dùng những thao tác nghị luận nào để làm sáng tỏ điều đó?
Trả lời:
- Theo tác giả, đóng vai trò quan trọng trong sáng tạo thơ chính là chọn hình ảnh.
- Thao tác giải thích, phân tích và so sánh là những thao tác nghị luận được tác giả dùng làm sáng tỏ vấn đề.
- Trong văn bản, có những câu đáng chú ý, chẳng hạn: “Làm thơ, ấy là dùng lời và những dấu hiệu thay cho lời nói, tức là chữ – để thể hiện một trạng thái tâm lí đang rung chuyển khác thường. Làm thơ là đang sống, không phải chỉ nhìn lại sự sống”. Qua những câu như thế, tác giả đã phát biểu quan niệm của mình: sáng tạo thơ là tìm phương tiện phù hợp để biểu đạt những rung cảm khác thường của tâm hồn nhà thơ trước cuộc sống. Người làm thơ phải thực sự sống, gắn bó sâu sắc với thực tại, từ đó nảy sinh cảm xúc chân thực, mạnh mẽ.
- Quan niệm đó đã được tác giả làm sáng tỏ bằng một số thao tác:
+ Giải thích: Thể hiện ở những câu vừa dẫn nói về bản chất của việc làm thơ.
+ Chứng minh: Hình ảnh “trời xanh”, “mưa phùn” và sự tác động của chúng vào hồn người; đoạn ca dao được dẫn ra để cho thấy thơ tác động đến tâm hồn con người chứ không phải đến nhận thức lí trí.
+ Bình luận: Tư tưởng trong thơ không phải là tư tưởng thuần tuý, mà là “tư tưởng dính liền với cuộc sống, ở trong cuộc sống”, “nằm ngay trong cảm xúc, tình tự”.
+ Bác bỏ: “Thơ không nói bằng ý niệm thuần tuý”, vì “nói bằng ý niệm chúng ta sẽ có triết học, luận lí […] chứ không có thơ”.
- Như vậy, các thao tác nghị luận đã được tác giả phối hợp nhuần nhuyễn, khiến cho quan điểm về sáng tạo thơ có sức thuyết phục.
Câu 5 (trang 77 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Tác giả cho rằng: "chúng ta không nên lo thơ đi vào hình thức này hay hình thức khác.. Dùng bất cứ hình thức nào, miễn là thơ diễn tả được đúng tâm hồn con người mới ngày nay". Bạn có tán thành quan điểm đó không? Vì sao?
Trả lời:
Em tán thành với quan điểm đó. Vì thơ chỉ có thể xuất hiện khi cảm xúc “trong tim tràn đầy”, nên dùng bất kể hình thức nào cũng được chỉ cần nó bộc lộ được chính suy tư mà tác giả gửi gắm.
Tôi tán thành với quan điểm trên.
- Trước hết, hình thức thơ (có vần hay tự do, cổ điển hay hiện đại) chỉ là phương tiện biểu đạt, không phải là yếu tố quyết định giá trị của thơ. Điều cốt lõi của thơ vẫn là khả năng diễn tả chân thực, sâu sắc đời sống tâm hồn con người. Nếu quá câu nệ hình thức, thơ dễ rơi vào khuôn sáo, gò bó, làm mất đi sự sáng tạo và sức sống.
- Bên cạnh đó, mỗi thời đại có những biến đổi về cảm xúc, tư duy và thẩm mĩ, vì vậy thơ cũng cần linh hoạt về hình thức để phản ánh đúng tinh thần thời đại. Thực tế cho thấy, cả thơ truyền thống lẫn thơ tự do đều có những tác phẩm giá trị nếu chạm được đến cảm xúc người đọc.
- Tuy nhiên, không vì thế mà xem nhẹ hình thức; hình thức vẫn cần phù hợp, hài hòa để nâng đỡ nội dung.
→ Vì vậy, điều quan trọng nhất vẫn là: thơ phải nói đúng tiếng nói của tâm hồn con người, còn hình thức chỉ là con đường để đạt tới điều đó.
Câu 6 (trang 77 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Theo bạn, nội dung nghị luận của văn bản còn có ý nghĩa đối với thực tế sáng tác thơ hiện nay nữa không? Vì sao?
Trả lời:
- Theo em, nội dung nghị luận còn có ý nghĩa đối với thực tế sáng tác hiện nay. Vì dù cho thơ có xuất hiện thêm thật nhiều quy tắc mới thì chung quy thơ vẫn cần phải có cảm xúc mới có thể tạo thành.
Mặc dù bài viết của Nguyễn Đình Thi ra đời từ năm 1949, nhưng với sự hiểu biết sâu sắc về thơ, có trải nghiệm cá nhân về sáng tác, bao quát được tình hình sáng tác thơ trong một giai đoạn văn học, tác giả đã nêu được những ý kiến cho đến nay vẫn còn có ý nghĩa đối với thực tế sáng tác thơ. Những ý kiến được trình bày trong bài viết như đầu mối của thơ là ở bên trong tâm hồn con người; thơ là tiếng nói của cảm xúc mãnh liệt; tư tưởng của thơ phải nằm trong cảm xúc; hình ảnh có vai trò rất lớn trong việc biểu đạt nội dung cảm xúc; ngôn từ trong thơ cần được lựa chọn kĩ lưỡng, phải có nhịp điệu, giai điệu; thơ có thể có vần hoặc không vần; thơ có thể tìm kiếm mọi hình thức biểu hiện khác nhau;… đều rất thỏa đáng, phù hợp với thơ hiện nay.
Câu 7 (trang 77 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Từ văn bàn này, bạn rút ra được điều gì bổ ích cho bản thân trong việc hiểu bản chất của thơ và việc đọc thơ?
Trả lời:
Giúp ích cho việc phân tích những tác phẩm thơ của em sau này
- Một số nét về bản chất của thơ có thể rút ra từ văn bản:
+ Thơ là tiếng nói của tình cảm, thể hiện những rung động mãnh liệt của chủ thể trước cuộc sống.
+ Ý tứ của thơ phải biểu hiện qua những hình ảnh thấm đẫm cảm xúc của chủ thể.
+ Ngôn ngữ thơ phải có nhịp điệu, giàu nhạc tính, tác động mạnh vào tâm hồn người đọc.
+ Thơ có nhiều hình thức biểu hiện rất phong phú, thơ cách luật hoặc thơ tự do, có vần hoặc không vần,… điều quan trọng là phải diễn tả đúng tâm hồn của con người.
- Một số gợi ý của tác giả cho việc đọc thơ:
+ Đọc thơ cần có những rung cảm thực sự để thâm nhập vào cảm xúc của bài thơ.
+ Đọc thơ cần có những kiến thức về đặc trưng ngôn ngữ thơ để hiểu được giá trị biểu đạt của các yếu tố hình thức trong bài thơ.
"Bài thơ là sợi dây truyền tình cảm cho người đọc" thể hiện sự kết nối tinh tế giữa nhà thơ và độc giả thông qua dòng chảy của cảm xúc. Như một dây truyền, bài thơ chứa đựng những tình cảm sâu lắng, biểu đạt qua lời văn hào hùng hoặc hình ảnh tưởng tượng. Những từ ngữ được sắp xếp một cách khéo léo, tạo nên một dòng suối tinh tế của cảm xúc, từ niềm vui sảng khoái đến nỗi đau buồn, từ tình yêu say đắm đến cảm giác cô đơn. Khi đọc bài thơ, người đọc không chỉ cảm nhận mà còn được đồng cảm với tâm trạng và trải nghiệm của nhà thơ. Từ đó, sợi dây của tình cảm được truyền đi, tạo nên một kết nối sâu sắc giữa người viết và người đọc, làm cho bài thơ trở thành một trải nghiệm giao tiếp đầy ý nghĩa và chân thành.
Ý kiến “Bài thơ là sợi dây truyền tình cảm cho người đọc” nhấn mạnh bản chất giao cảm của thơ ca. Thơ không chỉ là những câu chữ mà là phương tiện kết nối tâm hồn giữa người viết và người đọc. Khi sáng tác, nhà thơ gửi gắm vào bài thơ những rung động chân thực, những suy tư và cảm xúc sâu kín của mình. Nhờ ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhạc điệu và sức gợi, những cảm xúc ấy được “truyền” sang người đọc, khiến họ đồng cảm, thấu hiểu, thậm chí sống lại những trạng thái tinh thần tương tự. Chính quá trình tiếp nhận ấy làm cho thơ trở nên có sức sống lâu bền. Tuy nhiên, “sợi dây” này không tự động hình thành mà cần sự gặp gỡ giữa hai phía: cảm xúc chân thành của người viết và sự rung động, khả năng cảm thụ của người đọc. Nếu một bên thiếu đi, bài thơ khó tạo được sự lan tỏa. Vì vậy, có thể khẳng định rằng thơ ca chính là cầu nối tinh tế giúp con người chia sẻ, đồng điệu và làm phong phú đời sống tâm hồn.
Bài giảng: Mấy ý nghĩ về thơ - Cô Phương Thảo (Giáo viên VietJack)
Xem thêm các bài Soạn văn lớp 12 Kết nối tri thức hay nhất, ngắn gọn khác: