Soạn bài Luyện tập và vận dụng - ngắn nhất Kết nối tri thức
Soạn bài Luyện tập và vận dụng trang 159, 160 ngắn nhất mà vẫn đủ ý được biên soạn bám sát sách Ngữ văn lớp 12 Kết nối tri thức giúp học sinh soạn văn 12 dễ dàng hơn.
Soạn bài Luyện tập và vận dụng - Kết nối tri thức
Soạn bài: Ôn tập học kì 1 - Cô Nguyễn Hoa (Giáo viên VietJack)
1. Đọc:
Văn bản: Bình đựng lệ - Chế Lan Viên
Câu 1 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Có thể xếp bài thơ Bình đựng lệ vào loại thơ tượng trưng được không? Vì sao?
Trả lời:
- Có thể xếp bài thơ Bình đựng lệ của Chế Lan Viên vào loại thơ tượng trưng. Vì:
+ Sử dụng hình ảnh tượng trưng:
Bình đựng lệ: tượng trưng cho trái tim, tâm hồn của thi nhân.
Mùa thu: tượng trưng cho sự tàn úa, héo úa, chia ly.
Hoa lựu: tượng trưng cho tình yêu, đam mê.
Trăng: tượng trưng cho sự cô đơn, lạnh lẽo.
+ Nội dung thể hiện:
Thể hiện những cảm xúc, suy tư của thi nhân về cuộc sống, về tình yêu.
Bộc lộ tâm trạng cô đơn, buồn bã, thất vọng của thi nhân.
Thể hiện khát vọng yêu thương, hòa hợp với cuộc đời.
Câu 2 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Theo hiểu biết của bạn, hình ảnh “bình đựng lệ” có thể gợi nhớ đến những câu chuyện cổ nào?
Trả lời:
Hình ảnh “bình đựng lệ” có thể gợi nhớ đến những câu chuyện cổ:
- Nàng tiên cá: Nàng tiên cá đánh đổi giọng hát để có được chân và tình yêu của chàng hoàng tử. Nàng chịu đựng đau đớn tột cùng khi bước đi trên cạn, nhưng vì tình yêu, nàng chấp nhận hy sinh. Nước mắt của nàng tiên cá tượng trưng cho những đau đớn, hy sinh và tình yêu mãnh liệt.
- Tấm Cám: Cám hãm hại Tấm, khiến Tấm phải chịu nhiều oan trái. Nước mắt của Tấm tượng trưng cho những uất hận, tủi nhục mà nàng phải trải qua.
Câu 3 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): “Bình đựng lệ” là biểu tượng của cái gì? Bạn căn cứ vào đâu để xác định những hàm nghĩa của biểu tượng này?
Trả lời:
- Bình đựng lệ là biểu tượng của:
+ hình ảnh ẩn dụ cho trái tim, tâm hồn chứa đầy những nỗi buồn, niềm đau.
+ tượng trưng cho khát vọng yêu thương, hòa hợp với cuộc đời.
- Để xác định được hàm nghĩa biểu tượng này, ta dựa vào tâm hồn nghệ sĩ đa cảm, tinh tế, luôn trăn trở về cuộc sống, về con người, và về tình yêu.
Câu 4 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Tìm những câu thơ thể hiện nhận thức của tác giả về sự tồn tại vĩnh cửu của “bình đựng lệ”. Tác giả phát biểu nhận thức này dựa trên những trải nghiệm cá nhân nào?
Trả lời:
- Những câu thơ thể hiện nhận thức của tác giả về sự tồn tại vĩnh cửu của bình đựng lệ:
+ Chiếc bình tuột khỏi tay nhân loại
Lại về trở lại
+ Ờ, Thế mà chẳng có gì mất hết
Chiếc bình kia vẫn còn
- Tác giả phát biểu nhận thức này dựa trên:
+ Tâm hồn nghệ sĩ đa cảm, tinh tế. Ông luôn trăn trở về cuộc sống, về con người, và về tình yêu.
+ Bối cảnh sáng tác: Bài thơ được sáng tác trong giai đoạn đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Bối cảnh xã hội lúc bấy giờ đầy biến động, con người phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách.
Câu 5 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Thủ pháp đối lập đã được tác giả vận dụng như thế nào và đạt hiệu quả nghệ thuật gì?
Trả lời:
- Tác giả đã vận dụng thủ pháp đối lập:
+ Đối lập về hình ảnh: sáng - tối, cao - thấp, rộng - hẹp, xa - gần,...
+ Đối lập về cảm xúc: vui - buồn, yêu - ghét, hy vọng - tuyệt vọng,...
+ Đối lập về ý tưởng: sống - chết, hiện tại - quá khứ, thực tại - ảo mộng,...
- Hiệu quả nghệ thuật:
+ Làm nổi bật những ý tưởng, quan điểm của tác giả.
+Thể hiện những cảm xúc mãnh liệt, dồn nén.
+ T hu hút sự chú ý của người đọc, khơi gợi suy tư.
+ Làm cho tứ thơ đa chiều, sâu sắc, thể hiện nhiều khía cạnh của cuộc sống.
Câu 6 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Nêu nhận xét về màu sắc nghị luận của bài thơ thông qua một số dấu hiệu hình thức mang tính đặc trưng.
Trả lời:
- Nhận xét về màu sắc nghị luận trong bài thơ Bình đựng lệ - Chế Lan Viên:
+ Giọng điệu thay đổi theo từng đoạn thơ: Giọng điệu buồn bã, xót xa → Giọng điệu phẫn uất, căm phẫn → Giọng điệu bi tráng, hào hùng.
+ Hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng: bình đựng lệ, nước mắt, máu, lửa,...
+ Hình ảnh tương phản: bình đựng lệ - bầu trời, nước mắt - lửa,...
+ Sử dụng nhiều từ ngữ có tính biểu cảm cao: chan hòa, thấm ướt, rực cháy,...
+ Sử dụng nhiều phép tu từ: ẩn dụ, so sánh, nhân hóa,...
Câu 7 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) bày tỏ thái độ đồng cảm hay không đồng cảm của bạn đối với nỗi niềm và nhận thức của tác giả được bộc lộ qua bài thơ.
Trả lời:
Bài thơ Bình đựng lệ của tác giả Chế Lan Viên đã cho người đọc cảm nhận được nỗi niềm bi tráng và nhận thức sâu sắc về cuộc đời con người. Bài thơ sử dụng thành công hình ảnh tượng trưng bình đựng lệ - hình ảnh ẩn dụ cho trái tim, tâm hồn chứa đầy những nỗi buồn, niềm đau, đồng thời nó cũng tượng trưng cho khát vọng yêu thương, hòa hợp với cuộc đời. Nước mắt tuôn rơi không ngừng, thấm ướt cả bầu trời, hòa vào đại dương, thể hiện nỗi đau vô bờ bến của kiếp nhân sinh. Tác giả nhận thức rằng cuộc đời con người đầy rẫy những bất công, oan trái, con người phải chịu đựng nhiều đắng cay, tủi nhục. Là một người trẻ tuổi, tôi đồng cảm với nỗi niềm bi tráng của tác giả. Cuộc sống vốn không hoàn hảo, con người phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách. Chúng ta cũng từng trải qua những giọt nước mắt vì thất vọng, buồn đau, vì những bất công, oan trái trong cuộc sống. Tuy nhiên, tôi không hoàn toàn đồng ý với nhận thức của tác giả về cuộc đời chỉ toàn nước mắt. Cuộc sống cũng có những niềm vui, niềm hạnh phúc, có những con người tốt bụng, yêu thương nhau. Chúng ta có thể tìm thấy niềm vui trong những điều bình dị, trong tình yêu thương của gia đình, bạn bè, trong những thành quả đạt được sau nỗ lực. Chúng ta cần có niềm tin vào cuộc sống, vào con người, và luôn giữ cho mình một trái tim nhân hậu, biết yêu thương và chia sẻ.
2. Viết
Đề 1 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Viết bài nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện cùng sáng tác về một đề tài hoặc cùng nói về một loại nhân vật.
Trả lời:
Tô Hoài và Kim Lân là hai trong những tác giả xuất sắc của thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Các tác phẩm của họ đều được truyền cảm hứng từ cuộc sống thực tế của người nông dân Việt Nam vào thời điểm trước Cách mạng Tháng Tám. Hai tác phẩm đáng chú ý của họ là “Vợ nhặt” và “Vợ Chồng A Phủ”. Dù tác phẩm này phản ánh cuộc sống của hai nhân vật khác nhau, nhưng cả hai đều có một kết thúc mở. Đó là nơi niềm hy sinh của họ được chuyển hóa thành hy vọng vào một cuộc sống mới, tự do và hạnh phúc.
Tổng quan về hai tác phẩm này, cả hai đều có nhân vật chính là người nông dân Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Cuộc sống của họ đều khó khăn và bất hạnh, nhưng vẫn giữ được những phẩm chất đẹp và quan trọng hơn cả là họ đang trải qua quá trình giác ngộ cách mạng.
Tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” kể về Mị - một cô gái nghèo khó sống tại vùng cao. Dù cuộc sống vất vả, Mị vẫn yêu đời và tin vào lao động. Cô bị bán cho gia đình Thống Lí Pá Tra để trả nợ và phải sống trong thân phận nô lệ, bị đau đớn và làm việc vất vả, nhưng vẫn luôn mong muốn sống. A Phủ cũng bị bắt về nhà Thống Lí Pá Tra sau khi đánh con quan, trở thành người đi ở đợ cho nhà Thống Lí. Hai người nô lệ gặp nhau, cảm thông và giúp đỡ nhau. Một đêm, khi Mị đang ngồi sưởi lửa, cô thấy giọt nước mắt của A Phủ, khiến cô bất ngờ và quyết tâm giải thoát cho anh ta. Mị lấy con dao nhỏ để cắt dây trói và giải thoát cho A Phủ. Sau đó, hai người lẳng lặng chạy xuống dốc núi để trốn thoát khỏi bọn phong kiến. Câu chuyện này thể hiện sức sống và lòng đấu tranh của con người dưới áp lực của bọn phong kiến. Mị đã biết cách vùng lên để giành quyền sống, hành động giải thoát cho A Phủ cho thấy ý chí mạnh mẽ của cô. Kết thúc của câu chuyện nhấn mạnh tinh thần đấu tranh của người dân chống lại bọn địa chủ phong kiến, theo quy luật tất yếu là có áp bức là có đấu tranh.
Truyện ngắn “Vợ nhặt” được trích từ bộ tiểu thuyết “Xóm ngự cư” được viết ngay sau khi Cách Mạng Tháng Tám thành công. Nội dung chính của tác phẩm là phản ánh cuộc sống của những người dân nông thôn sống trong xóm ngụ cư. Nhân vật chính là anh chàng Tràng, một người lái xe bò cho thuê. Vì khó khăn trong cuộc sống, Tràng không thể tổ chức một đám cưới đúng nghĩa. Anh tình cờ gặp được vợ trên đường trở về và họ chỉ tổ chức một bữa cơm đơn giản, trên cái dĩa xỉn xò có một ít rau chuối thái lát và một đĩa muối kèm cháo nồi. Trong ngày cưới của họ, khi họ đang hạnh phúc, tiếng trống thuế và tiếng khóc đau buồn của hàng xóm vang lên vì có người vừa qua đời xa nhà. Cuộc sống thực tế được tái hiện qua tác phẩm này. Truyện xảy ra trong bối cảnh nạn đói năm 1945, thời điểm lịch sử đầy thách thức, khi người dân phải chịu đựng sự áp bức, bóc lột và cảnh đói khốn. Dưới hoàn cảnh đó, người nông dân đã khởi nghĩa, phá kho thóc Nhật và chia cho những người nghèo. Sau nhiều năm vất vả, những người dân nông thôn đó đã đứng lên, đấu tranh và tìm kiếm con đường của họ bằng cách tham gia vào cách mạng. Kết thúc truyện được mô tả bằng hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng bay trong gió, chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Hai truyện kể về hai số phận khác nhau của người nông dân, nhưng kết thúc của chúng đều là kết thúc mở. Điều này cũng nhấn mạnh sự thay đổi tư tưởng của các nhà văn. Trong quá khứ, Nam Cao đã viết về đề tài nông dân với tác phẩm Chí Phèo, nhưng kết thúc của nó lại đi vào ngõ cụt. Nhưng trong các tác phẩm “Vợ Nhặt” và “Vợ Chồng A Phủ”, chúng ta đã thấy được một tương lai tươi sáng cho người nông dân, nhờ vào sự thành công của Cách mạng Tháng Tám lật đổ chế độ phong kiến cổ hủ, lạc lậu.
Đề 2 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): So sánh hai tác phẩm thơ cùng thể hiện chủ đề thiên nhiên, đất nước hoặc tình yêu được sáng tác theo những phong cách nghệ thuật khác nhau.
Trả lời:
Trong hoài niệm của kí ức, bức tranh vạn vật thiên nhiên tứ bình của núi rừng Tây Bắc hiện lên thật sinh động và chân thực trong thơ của Tố Hữu
Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh rao cài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng ….
Bằng sự ướm hỏi chân thành đầy tinh xảo, người ra đi đã biểu lộ sự lưu luyến và nhớ nhung với kẻ ở lại. Với hình thức tu từ mang dấu hỏi ở cuối câu thơ, lời giãi bày đã được bộc lộ đầy tâm tình mà không cần lời đáp. Hoa núi của rừng sâu là hình ảnh quen thuộc từng gắn bó với kháng chiến gian nan chống Pháp, ta nhớ hoa nhớ người chính là nhớ vẻ đẹp vạn vật thiên nhiên của Việt Bắc và tình người nồng ấm nơi đây. Những câu sau là một loạt những hình ảnh thân mật và thân thương của đất trời và vạn vật thiên nhiên Việt Bắc. Một bức tranh tứ bình đẹp tuyệt được trải ra trước mắt người đọc. Khunh cảnh vạn vật thiên nhiên thật thơ mộng. Đầu tiên là sắc xanh bạt ngàn của núi rừng khi Việt Bắc vào đông. Những ngọn đuốc tượng trưng sáng rực được hình thành bởi hình ảnh của hoa chuối đỏ tươi. Trong cái nền khoảng trống đẹp tươi của vạn vật thiên nhiên, vẻ đẹp và khí thế của con người hiện lên vững chãi với gài thắt lưng:
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Xuân qua, hạ đến, vạn vật thiên nhiên của Việt Bắc được tổ điểm bởi tiếng ve râm ran nơi rừng phách hổ vàng. Hình ảnh thiếu nữ hiện lên gắn bó giao hòa với vạn vật thiên nhiên, cùng sự cần mẫn hái măng một mình. Bức tranh mùa hạ như một bức sơn mài vừa mang chất văn minh lại đậm chất cổ xưa .
Khép lại bộ tranh tứ bình ấy chính là những đường nét về mùa thu nên thơ cùng tiếng hát chia tay giã biệt bạn hữu:
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.
Bức tranh vạn vật thiên nhiên đẹp xiết bao với trăng thu được tưới bởi không khí tự do. Sự thân thương, thân mật và mộc mạc của con người và vạn vật thiên nhiên như đã hòa làm một. Vẻ đẹp của con người hiện lên qua tiếng hát ngọt ngào đầy nghĩa tính với kháng chiến và cách mạng. Sự trong trẻo của giọng hát, sự thủy chung ân tình của đồng bào dân tộc bản địa. Đây phải chăng chính là nghĩa tình mười lăm năm gắn bó mặn nồng … Cảm nhận vẻ đẹp vạn vật thiên nhiên và con người trong Việt Bắc và Đây thôn Vĩ Dạ qua việc nghiên cứu và phân tích lối thớ của Tố Hữu khiến người đọc cảm nhận được thâm thúy và cụ thể .
Khi nghiên cứu và phân tích Việt Bắc và Đây thôn Vĩ Dạ, tất cả chúng ta thấy thi nhân họ Hàn cũng sử dụng câu hỏi tu từ ngay trong những tiến trình thơ của mình nhưng lại mang ý niệm trách mọc nhẹ nhàng. Sự mộc mạc thân mật thân quen của làng quê Việt hiện lên chân thực trong những câu thơ của Hàn Mạc Tử. Đó là một miền quê nơi sông Hương thơ mộng và trữ tình. Hiện lên trên cả là hình ảnh những hàng cau thẳng tắp vươn lên trong nắng sớm, sau đó là một khu vườn mướt xanh của lá với sắc ngọc tinh khôi. Trong khoảng trống bình dị ấy, vẻ đẹp của con người hiện lên quá đỗi mộc mạc với khuôn mặt chữ điền ẩn hiện xa xa sau những chiếc lá trúc. Khung cảnh thôn Vĩ hiện lên ấm ấp thân quên chỉ sau vài nét phác họa của người thi nhân. Vẻ đẹp vạn vật thiên nhiên dung dị ẩn sau từng câu chữ tả cảnh. Xa xa hơn chính là đất trời, là sông nước và gió mây. Vẻ đẹp của vạn vật thiên nhiên nhuốm màu tâm trạng của con người, có chút gì đó là buồn thương, là xa cách, là chia tay. Gió và mây vốn xa nhau giờ đây lại như xa hơn bởi cách dùng từ độc lạ của Hàn Mặc Tử. Biện pháp nhân hóa được nhà thơ sử dụng tài tính với hình ảnh dòng nước buồn thiu. Tâm hồn còn người đã thổi vào cảnh một sự luyên tiếc xa xăm, một nỗi nhớ u hoài không dứt.
Việt Bắc và Đây thôn Vĩ Dạ đều mang vẻ đẹp của vạn vật thiên nhiên và con người, đều mang màu sắc tâm trạng về khung cảnh sông nước quê hương và thiên nhiên. Bút pháp điêu luyện đã chắp cánh và thổi hồn cho thiên nhiên hiện lên sinh động, chân thực và có chút thơ mộng. Cả hai tác phẩm đều thể hiện sự tài hoa trong ngòi bút của Tố Hữu và Hàn Mặc Tử.
Đây thôn Vĩ Dạ mang màu sắc chia ly, xa cách, tâm trạng nhớ nhung trong tình yêu. Việt Bắc thể hiện nỗi nhớ da diết nhẹ nhàng của người ở với người đi sau mười lăm năm gắn bó qua việc khơi lại những kỉ niệm và kí ức trong quá trình gian khổ chống Pháp. Đều là những cây bút tài hoa, mang màu sắc thơ trữ tình, mặc dù với Tố Hữu đó là chất trữ tình cách mạng, còn trong thơ Hàn Mặc Tử lại là chất trữ tình lãng mạn điển hình. Đây thôn Vĩ Dạ cho thấy sự khắc khoải nhớ nhung khôn cùng mang màu sắc bi ai và chia ly. Việt Bắc thể hiện nghĩa tình gắn bó qua giọng thơ nhẹ nhàng, qua vẻ đẹp và những khung cảnh quen thuộc gần gũi của núi rừng Việt Bắc.
Có thể nói, Việt Bắc và Đây thôn Vĩ Dạ là hai tác phẩm biểu lộ thâm thúy và rõ nét vẻ đẹp vạn vật thiên nhiên và con người, trải qua đó cũng cho thấy sự tài hoa phát minh sáng tạo trong phong thái của hai nhà thơ. Dù sống ở những thời đại khác nhau, với tiến trình lịch sử dân tộc cũng khác nhau, nhưng ở họ là sợi dây liên kết, là những cảm hứng phát hiện về vạn vật thiên nhiên và con người.
Đề 3 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Phân tích, đánh giá việc khai thác các chủ đề, hình tượng, mô típ của sáng tác dân gian (ca dao, thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích) trong một tác phẩm văn học hiện đại.
Trả lời:
Tố Hữu được tôn vinh là “nhà thơ của cách mạng”. Ông là một trong số ít những nhà thơ sớm được giác ngộ cách mạng và tìm được con đường đúng đắn trong khi những nhà thơ khác còn đang loay hoay thoát lên tiên, hay khép mình trong cái tôi tuyệt đối. Là một người nghệ sĩ, đồng thời là một nhà cách mạng tài năng, ông dùng ngòi bút của mình để chiến đấu và ca ngợi cuộc chiến anh hùng. Điều này được thể hiện rất rõ qua tác phẩm Việt Bắc, một tác phẩm thấm nhuần hơi thở của thời đại, với âm vang của ca dao.
Âm vang của ca dao trong bài Việt Bắc không chỉ thể hiện ở phương diện nội dung mà nó được khắc họa rõ nét hơn ở phương diện nghệ thuật. Trước tiên, nó thể hiện ở cách dùng thể thơ dân tộc – thể thơ lục bát. Thể thơ lục bát, thấm đẫm một tình thần dân tộc từ ngàn đời. Đó là điệu hồn của biết bao câu ca dao, dân ca của người dân lao động
Thân em như tấm lụa đào,
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.
(Ca dao)
Chất giản dị dân dã đó còn được các tác giả trung đại như Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu,… Tố Hữu đã sử dụng lại thể thơ của dân tộc trong tác phẩm lớn của mình. Thể thơ lục bát đã được vận dụng nhuần nhuyễn, vừa thống nhất trong một bài thơ dài vừa biến hóa đa dạng với những câu thơ dung dị, dân dã gần với ca dao mà vẫn cân xứng, nhịp nhàng, trau chuốt mà trong sáng, nhuần nhị.
Khi phân tích, ta cũng thấy nhiều hình ảnh ước lệ quen thuộc của ca dao, dân ca được Tố Hữu sử dụng rất thích hợp với khung cảnh và tâm trạng trong bài “Việt Bắc”, như Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn, Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu, Nước trôi lòng suối chẳng trôi, Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn,…. Chất liệu văn học dân gian được vận dụng phong phú, đa dạng, đặc biệt là ca dao trữ tình. Như kết cấu bao nhiêu…bấy nhiêu ta đã từng bắt gặp trong câu ca dao:
Ngó lên nuộc lạt mái nhà,
Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu.
Hay điệp khúc nhớ của Tố Hữu cũng gợi cho người đọc đến những câu ca dao về nỗi nhớ trong tình yêu.
Nhớ ai bổi hổi bồi hồi,
Như đứng đống lửa như ngồi đống than.
(ca dao)
Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ,
Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai.
(ca dao)
Ngoài ra, việc sử dụng những cách diễn đạt giàu hình ảnh, nghệ thuật hô ứng như Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng – Tiếng ai tha thiết bên cồn hay Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn – Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu, các cách chuyển nghĩa truyền thống – so sánh, ẩn dụ, tượng trưng, ước lệ, đã được sử dụng thích hợp, tạo nên phong vị dân gian và chất cổ điển của bài thơ.
Phong vị ấy còn thể hiện ở cách dùng lối kết cấu đối đáp quen thuộc trong ca dao, dân ca:
Bây giờ mận mới hỏi đào,
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
Mận hỏi thì đào xin thưa
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.
Hay
Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng,
Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?
Chàng hỏi thì thiếp xin vâng
Tre vừa đủ lá non chăng hỡi chàng.
(ca dao)
Thực ra, bên ngoài là đối đáp, còn bên trong là độc thoại, là sự biểu hiện tâm tư tình cảm của chính nhà thơ, của những người tham gia kháng chiến đang đắm mình trong hoài niệm ngọt ngào hạnh phúc về quá khứ đẹp đẽ với nghĩa tình thắm thiết – tình nghĩa nhân dân, nghĩa tình kháng chiến và cách mạng, khát vọng về tương lai tươi sáng. Kẻ ở – người đi, lời hỏi – lời đáp ở đây có thể xem là một cách phân thân để tâm trạng được bộc lộ đầy đủ hơn trong sự hô ứng, đồng vọng, vang ngân.
Khi phân tích, ta nhận thấy Tố Hữu đã vận dụng thành công các yếu tố của văn học dân gian từ thể loại đến chất liệu dân gian như hình ảnh, cấu trúc, từ ngữ. Nhưng ông không dùng một cách rập khuôn mà vận dụng một cách sáng tạo, thổi hơi thở mới vào những thi liệu dân gian. Cái chất dân tộc mộc mạc ấy đã góp phần thể hiện thành công nội dung của bài thơ khiến cho lời thơ như tiếng hát cất lên từ sâu thẳm tâm hồn nhà thơ. Chính vì thế, những vần thơ của Tố Hữu dễ dàng đi vào lòng người đọc. Chất dân tộc ấy len lỏi vào từng câu thơ tạo nên một dấu ấn riêng cho sáng tác của Tố Hữu – vừa bình dị vừa đậm chất suy tư, chiều sâu.
Chất dân gian thấm đẫm tinh thần dân tộc ấy đã phát huy tối ưu vai trò của mình tạo nên những vần thơ nhẹ nhàng như những câu hát ca dao, như lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân cần lao. Việt Bắc là một bản tổng kết của một giai đoạn lịch sử chống Pháp đầy khó khăn nhưng oai hùng của một dân tộc anh hùng. Nhưng bản tổng kết ấy không liệt kê chiến công, không phải những lời lẽ tổng kết khô khan mà bản tổng kết ấy được viết lên bằng nhạc điệu của tâm hồn. Trang thơ đã khép nhưng vẫn để lại dư âm sâu lắng cho người đọc.
Đề 4 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Viết bài văn nghị luận về vấn đề: Thanh niên và việc xác lập giá trị sống.
Trả lời:
Tuổi trẻ này mình cùng nhau
Khoác vai đi từ sáng tới đêm
Hát lên như chưa từng được hát
Là la la là lá lá la.....
Ngân nga trong từng câu hát của bài hát Bài ca tuổi trẻ, tôi nhận ra rằng mỗi người đều có một bài ca riêng cho tuổi xuân của mình. Có những bài ca thánh thót, yêu đời nhưng rồi cũng có những bài ca trầm lắng, buồn man mác. Dù bài ca tuổi trẻ của mỗi người là như thế nào thì chúng cũng được viết lên với nhiệm vụ trở thành một con người sống có ích, sống ý nghĩa và góp mình vào xây dựng Tổ quốc, và điều quan trọng đó là thiết lập giá trị sống cho chính mình.
Tuổi trẻ, cái tuổi mà người ta thường hay nói đến trong sứ mệnh và nhiệm vụ đối với Tổ Quốc là gì? Tuổi trẻ chính là lứa tuổi thanh thiếu niên, là lứa tuổi được phát triển đầy đủ nhất. Thế hệ trẻ được học tập và tích lũy kiến thức, nhằm xây dựng một tương lai rộng mở, đưa đất nước phát triển phồn thịnh, để sánh vai cùng với các cường quốc năm châu. Không chỉ vậy, tuổi trẻ hay còn gọi là tuổi xuân của đời người là lúc mà con người ta tràn trề nhất, giàu sức sống và có một trái tim mãnh liệt, cháy bỏng nhất. Đây là lứa tuổi mà những thanh thiếu niên mang trong mình bao nhiệt huyết muốn cống hiến cho đời, cho quê hương, đất nước. Thời điểm này cũng là thời điểm mà con người có một nguồn sức khoẻ, sức lực tốt nhất.
Chính vì những lợi thế trên cho nên tuổi trẻ chính là tương lai của đất nước. Được học tập, phát triển và nghiên cứu khoa học, người trẻ sẽ đem những kiến thức, những gì mình tìm tòi, học hỏi được để đóng góp vào kho tàng chung của đất nước. Từ đó mà xây dựng nên một nền móng vững trãi cho đất nước được phát triển. Tương lai của đất nước là tuổi trẻ, tuổi trẻ bằng sức lực và tâm huyết của mình sẽ cống hiến trọn vẹn cho đất nước. Sở dĩ là như vậy bởi lẽ, một đất nước nếu có dân số già thì đất nước ấy sẽ rất khó để phát triển. Vì người già sức lao động sẽ giảm sút và không còn khỏe mạnh như lứa tuổi thanh thiếu niên. Những người trẻ là nguồn lao động dồi dào cho đất nước, họ có sức khỏe tốt, có kiến thức và còn cả một cuộc đời dài phía trước để giúp ích cho nước nhà.
Trên thực tế đã có rất nhiều những ví dụ chứng minh cho tuổi trẻ là tương lai của đất nước. Trong lịch sử, ta có thể nhớ đến Trạng nguyên nhỏ tuổi nhất Việt Nam: Nguyễn Hiền. Nguyễn Hiền nổi tiếng không chỉ bởi học vấn uyên thâm mà còn bởi thái độ sống dứt khoát, nhiệt thành. Nguyễn Hiền đỗ trạng nguyên vào năm 13 tuổi, điều này cho thấy tuổi trẻ, sức trẻ có một nguồn năng lượng và tích lũy kiến thức nhiều như thế nào. Kế đến là chị Võ Thị Sáu, chị đã cống hiến rất nhiều cho đất nước trong thời kỳ chiến tranh khi chị làm một nữ du kích, một người liên lạc thông tin. Chị đã hy sinh khi mới 18 tuổi, góp mình vào công cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ Quốc khi tuổi còn rất trẻ. Còn ở hiện tại, rất nhiều những người trẻ vẫn ngày ngày cống hiến cho đất nước. Điều đó thể hiện qua các trách nhiệm xã hội của họ. Điển hình là các doanh nghiệp, các công ty, ngoài việc đưa các sản phẩm của Việt Nam ra thế giới thì họ còn dùng thành công của mình để quyên góp từ thiện cho các hoàn cảnh khó khăn trong xã hội.
Để phát huy được vai trò của tuổi trẻ đối với đất nước thì Đảng và chính phủ cần có những chính sách đúng đắn để phát triển được hết những khả năng cũng như tầm quan trọng của thế hệ trẻ. Đất nước phải tạo cơ hội được học tập và phát triển cho mỗi cá nhân, dù ở đồng bằng hay vùng sâu vùng xa. Ngược lại, thế hệ thanh thiếu niên cũng cần phải cố gắng học tập, nỗ lực hết sức mình để cống hiến cho đất nước ngày càng giàu đẹp, xứng đáng với sự hy sinh của các thế hệ đi trước và công ơn của Hồ Chủ Tịch.
Belinsky đã từng nói: Tuổi trẻ không có lí tưởng giống như buổi sáng không có mặt trời, tôi và những người bạn cùng chăng lứa sẽ dùng cả thanh xuân và nhiệt huyết của mình để hiến dâng cho Tổ Quốc. Để làm được như vậy thì trước hết, tôi và các bạn hãy cùng nhau tìm ra lí tưởng, tìm ra đam mê của chính bản thân mình. Có lí tưởng, có khao khát rồi thì mới có thể vạch ra được con đường đúng đắn cho tương lai sau này. Đối với mỗi học sinh là thế hệ tương lai của đất nước, với trọng trách xây dựng xã hội ngày một tốt đẹp hơn thì cần phải có ý thức cộng đồng. Điều đó đến từ những hành động rất nhỏ như quyên góp ủng hộ người nghèo, giữ gìn vệ sinh trường lớp, giúp đỡ bạn bè trong học tập. Hay như trong giai đoạn được nghỉ học vì dịch bệnh, có nhiều em học sinh tuy còn nhỏ nhưng đã làm được những điều thật ý nghĩa. Câu chuyện về một em nhỏ cùng mẹ làm ra những chiếc bánh rồi đem bán. Toàn bộ số tiền đó, em đã mua khẩu trang ủng hộ cho các bác sĩ nơi tuyến đầu chống dich. Những bức tranh vẽ của các em học sinh về những chiến sĩ công an bộ đội các y bác sĩ với như một lời tri ân.
Tóm lại, khi mỗi thanh niên mang trong mình ý thức, trách nhiệm cá nhân, chịu buông bỏ cái tôi của bản thân, hòa nhập với mọi người xung quanh bằng lòng nhiệt tình, khi ấy, cuộc sống sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Chỉ với những hành động nhỏ nhưng cũng để lại ý nghĩa to lớn cho xã hội, giống như câu nói của Bác Hồ: Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tùy theo sức của mình .
Đề 5 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Xây dựng đề cương cho bài báo cáo nghiên cứu về một vấn đề liên quan đến sinh hoạt học đường.
Trả lời:
Đề cương cho bài báo cáo nghiên cứu về phương pháp học tập hiệu quả cho học sinh:
|
Bước |
Thao tác cần làm |
Lưu ý |
|
Bước 1: Chuẩn bị viết |
· Xác định đề tài - Chọn đề tài phù hợp với chủ đề Phương pháp học tập hiệu quả để nghiên cứu. - Cụ thể hóa đề tài sao cho khả thi, phù hợp với khả năng, điều kiện nghiên cứu của bản thân. - Xác định mục đích viết, đối tượng người đọc. - Trả lời các câu hỏi: Bài báo cáo này được viết với mục đích gì? Người đọc bài báo cáo này là ai? - Thu thập tư liệu - Đặt câu hỏi nghiên cứu - Thu thập tư liệu để tìm câu trả lời cho câu hỏi nghiên cứu. - Xử lí tài liệu đã thu thập và xác định điểm đóng góp của đề tài đang thực hiện. |
- Đề tài phù hợp cần có tính thiết thực, khơi gợi được ở người đọc mối quan tâm với đề tài. - Đánh giá mức độ tin cậy của tài liệu bằng cách đặt câu hỏi: Tài liệu công bố khi nào? Ai là tác giả? Đơn vị công bố, xuất bản có đáng tin cậy hay không? |
|
Bước 2: Tìm ý, lập dàn ý |
· Tìm ý - Sau khi thực hiện xong đề tài, tiến hành tìm ý để viết bài báo cáo. - Cân nhắc trên các phương diện: câu hỏi nghiên cứu; phương pháp, kết quả nghiên cứu; trích dẫn và cước chú cần sử dụng; các phương tiện phi ngôn ngữ hỗ trợ. · Lập dàn ý Sắp xếp các ý đã tìm được vào bố cục của một bài báo cáo kết quả nghiên cứu như sau: - Cơ sở lí thuyết - Phương pháp nghiên cứu - Kết quả nghiên cứu - Kết luận |
Bố cục bài báo cáo cũng có thể được chia thành các đề mục phù hợp với đề tài nghiên cứu. |
|
Bước 3: Viết bài |
Từ dàn ý đã lập, viết bài báo cáo hoàn chỉnh |
- Nhan đề cần ngắn gọn, giới thiệu được nội dung chính của bài báo cáo, có chứa từ khóa của đề tài. - Cần sử dụng ngôn ngữ khách quan, phù hợp với bài báo cáo khoa học. - Sử dụng trích dẫn và cước chú đúng quy cách để bổ sung thông tin cho bài báo cáo. - Chú ý đến việc chống đạo văn và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. |
|
Bước 4: Xem lại và chỉnh sửa, rút kinh nghiệm |
- Xem lại và chỉnh sửa - Sau khi viết xong, đọc lại bài và chỉnh sửa - Rút kinh nghiệm - Ghi lại kinh nghiệm về việc viết một bài báo cáo kết quả nghiên cứu có sử dụng trích dẫn, cước chú và phương tiện hỗ trợ. |
Thực hiện dựa vào bảng kiểm kĩ năng viết bài báo cáo kết quả nghiên cứu trong SGK |
3. Nói và nghe
Nội dung 1 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Thuyết trình về một tác phẩm truyện (truyện ngắn, tiểu thuyết) có cách tiếp cận và thể hiện mới mẻ đối với đời sống, khát vọng của tuổi 20.
Trả lời:
Chào cô và các bạn, sau đây tôi xin giới thiệu với các bạn về truyện Trên đường băng – đây là một truyện mới, nói về tuổi 20 rất thực tế và sâu sắc.
Đã bao giờ bạn cảm thấy lạc lõng, bâng khuâng về cuộc đời mỗi khi trầm tư hay mỗi sáng thức dậy, bạn không hề biết hôm nay mình sẽ làm gì? Thích làm gì và phải làm gì? Bạn có hay cảm thấy mất phương hướng, lạc bước trên con đường đời mình đang đi? Và có bao giờ bạn tự hỏi mình đi học 12 năm học sinh và 4,5 năm cao đẳng, đại học để làm gì? Hay đơn giản chỉ để lấy những tấm giấy khen học sinh xuất sắc sáng chói và tấm bằng tốt nghiệp chỉ để cha mẹ, người thân vui lòng? Nếu bạn đã từng như vậy thì bạn không hề cô đơn đâu vì đâu đó trên mảnh đất hình chữ S: hơn 90 triệu người này có rất nhiều người như bạn, trong đó có bản thân mình.
Và liệu bạn có thắc mắc rằng tại sao chúng ta lại gặp phải những tình trạng như trên? Tất cả chúng đều do nhận thức, suy nghĩ của mỗi chúng ta mà ra. Chúng ta cảm thấy bâng khuâng, buồn chán vì chúng ta chưa có suy nghĩ tích cực, chúng ta mất phương hướng, lạc bước vì chúng ta chưa có những kế hoạch kĩ càng để đạt được những mục tiêu to lớn mà chúng ta mong muốn đến cháy bỏng, chúng ta chưa vẽ ra một cuộc sống mà chúng ta hằng mong đợi để tìm kiếm những động lực thúc đẩy ta làm điều đó mà chúng ta chỉ chờ đợi và hi vọng một tương lại tốt đẹp sẽ đến với chúng ta một cách bị động. Vậy ban có muốn trở thành người sâu sắc, tích cực, thành công và luôn làm chủ cuộc đời mình? Bạn muốn cuộc đời mình tràn ngập niềm hạnh phúc và đẩy lùi những phiền muộn, sự sợ hãi không đáng có. Hãy thay đổi nhận thức trong con người bạn. Trên đường băng là cuốn sách khá thú vị trong chuỗi câu chuyện Tony Buổi Sáng mà hiện nay được rất nhiều bạn trẻ theo dõi và thích thú.
Tác phẩm không có nhân vật chính, có hơn 100 câu chuyện, hơn 100 nhân vật. Cuốn sách như một chuyến bay, được chia thành 3 phần gồm chuẩn bị hành trang, ngồi phòng chờ sân bay và lên đường. Mỗi phần sẽ đại diện cho một hành trình mà chúng ta bắt buộc phải trải qua trên hành trình trưởng thành.
Phần 1 của cuốn sách kể về những câu chuyện: vô cảm, tiểu nông vụn vặt, thói trễ giờ, bệnh nghiện Internet… những câu chuyện được kể dưới hình thức dí dỏm, hóm hỉnh. Dường như mỗi người sẽ thấy mình trong đó, tác giả lồng ghép tư tưởng, bài học trong từng câu chuyện được kể. Từng câu chuyện như thôi thúc những người trẻ dám bước chân ra thế giới, dám thể hiện mình. Tuổi trẻ, hãy ở ngoài nhiều hơn ở nhà. “Hãy nhào vô xin người khác “bóc hết, lột sạch” khả năng của mình. Chỉ sợ bất tài nộp hồ sơ “xin việc”, mà chả ai thèm cho, chả ai thèm bóc lột. Khi đã được bóc và lột hết, dù sau này đi đâu, làm gì, bạn đều cực kỳ thành công”.
Phần 2: Phòng chờ sân bay. Vẫn là những câu chuyện dí dỏm nhưng đậm đà ý nghĩa, Tony Buổi Sáng mang lại những bài học, những suy nghĩ về cuộc sống và tuổi trẻ. Bên cạnh sự hài hước vốn có, thì đôi lúc lại là những lời tâm sự sâu lắng, như trút hết tâm tư giãi bày cho người ta hiểu. Tác giả dành nhiều thời lượng kể những câu chuyện của chính mình: chứng tự kỉ của Tony, Tony nghe nhạc, uống cafe,… Tuy nhiên, văn phong rất gần gũi, hài hước.
Phần 3: Cất cánh. Tác giả đưa lời khuyên: giữ chữ tín, sự hào sảng, sáng tạo, bươn chải,… chứ không phải thở dài. Hãy cố gắng khởi nghiệp!
Sau cùng, chúng ta đã nhận được gì qua những câu chuyện, những chia sẻ kinh nghiệm của dượng Tony qua cuốn sách Trên đường băng? Mỗi cuốn sách mang một thông điệp khác nhau thế nhưng cuốn sách Trên đường băng lại để lại một thông điệp rất gần gũi và rất hài hước hóm hỉnh: Học ngoại ngữ: hãy học thêm ít nhất 1 ngoại ngữ, đặc biệt là Tiếng Anh. Hãy trau dồi ngoại ngữ của mình thật tốt, biết thêm ngoại ngữ sẽ giúp ích bạn rất nhiều trong cuộc sống và công việc. Hãy đi làm thêm: khi còn trẻ bạn hãy đi làm thêm. Đừng ngại làm các công việc như nhân viên giao hàng, chạy bàn hay phát tờ rơi. Dù bạn có làm công việc gì bạn cũng sẽ có thêm kinh nghiệm. Những kinh nghiệm về cách ứng xử, ăn nói, giao tiếp. Những kinh nghiệm trong khi bạn đi làm thêm sau này sẽ là vũ khí của bạn trong công việc.
Học cách hào sảng: cho đi rồi sẽ được nhận lại. Đừng mãi suy nghĩ ích kỉ chỉ nghĩ cho riêng mình. Giúp người khác giàu thì mình mới giàu bền vững. Hãy suy nghĩ cho đồng loại: cùng là con người với nhau thì hãy thương lấy nhau. Đừng vì lợi ích của riêng mình mà làm hại người khác. Hãy tự lập: khi còn trẻ hãy biết tự lập. Tự kiếm tiền lo cho cuộc sống sinh viên của mình. Đừng mãi làm cò con mong sự che chở của cò mẹ. Mà hãy trở thành một chú chim đại bàng tung cánh bay trên bầu trời đam mê của mình.
Sau mỗi câu chuyện được kể, tác giả đều để trống vài dòng, mục đích cho người đọc ghi chép lại bài học. Mỗi người đều có những chuyến bay của cuộc đời mình. Và để cất cánh được thì hành trang mà mỗi người trong chúng ta cần chuẩn bị ngoài kiến thức đó là gì?
Trên đường băng có thể rút ra 7 bài học đắt giá sau:
1. Ưu tiên đầu tư trí lực, thể lựa và kỹ năng trong công việc và cuộc sống
2. Hãy sống lành mạnh để trở thành người mà bản thân mong muốn. Là nhà tranh xiêu vẹo hay tòa cao ốc chọc trời thì nên móng là thứ giúp nó cân bằng.
3. Tư duy sống tích cực
4. Sống hào sảng, không tính toán, sẵn sàng cho đi, sẵn sàng buông bỏ.
5. Sống đạo đức, có kỷ luật, cẩn thuận và tỉ mỉ. Hay còn được gọi là "Chủ nghĩa hoàn hảo"
6. Nói không với bệnh "hào hứng một phút" tức là trước khi làm một việc thì rất hào hứng, nhiệt huyết nhưng chỉ được vài bữa là chán và bỏ cuộc
7. Đừng từ chối cơ hội bán hàng. Nhiều bạn sinh viên mới ra trường chưa có kinh nghiệm đã yêu cầu lương cao, công việc nhàn hạ. Điều đó thật mâu thuẫn. Con đường trau dồi kinh nghiệm nhanh nhất là bán hàng. Dù bạn học bất kỳ ngành nào nhưng nếu đang thất nghiệp và đứng trước cơ hội làm nhân viên bán hàng hãy cứ thử xem, đừng ngại khổ.
Trên đây là nội dung chia sẻ của tôi. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ cô và các bạn để bài của tôi hoàn thiện hơn.
Nội dung 2 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Thuyết trình về mối quan hệ giữa vay mượn và sáng tạo trong sáng tác văn học qua phân tích một số tác phẩm cụ thể lấy từ văn học Việt Nam (thơ, kịch, truyện).
Trả lời:
Kính thưa thầy cô và các bạn,
Hôm nay, em xin thuyết trình về mối quan hệ giữa vay mượn và sáng tạo trong sáng tác văn học, thông qua việc phân tích một số tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam ở các thể loại thơ, kịch và truyện.
Trước hết, có thể khẳng định rằng vay mượn và sáng tạo không đối lập mà gắn bó chặt chẽ với nhau trong quá trình sáng tác văn học. Vay mượn là việc tiếp thu cốt truyện, hình tượng, mô-típ hoặc chất liệu từ văn học dân gian, văn học nước ngoài hay các tác phẩm trước đó. Tuy nhiên, giá trị của tác phẩm không nằm ở sự sao chép mà ở khả năng cải biến và sáng tạo của người nghệ sĩ.
Trong lĩnh vực truyện, Truyện Kiều của Nguyễn Du là minh chứng tiêu biểu. Tác phẩm vay mượn cốt truyện từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc), nhưng Nguyễn Du đã sáng tạo lại toàn bộ bằng thể thơ lục bát, xây dựng hình tượng Thúy Kiều với chiều sâu tâm lí và gửi gắm tư tưởng nhân đạo sâu sắc. Chính sự sáng tạo ấy đã đưa Truyện Kiều vượt xa nguyên tác và trở thành kiệt tác của văn học Việt Nam.
Trong thơ ca, nhiều tác phẩm hiện đại đã kế thừa chất liệu dân gian để sáng tạo cái mới. Chẳng hạn, thơ Nguyễn Khoa Điềm trong Đất Nước vay mượn hình ảnh, ngôn ngữ ca dao, truyền thuyết quen thuộc, nhưng từ đó xây dựng một quan niệm mới mẻ về Đất Nước – gắn với nhân dân, với đời sống bình dị. Sự sáng tạo nằm ở cách nhìn và cách thể hiện tư tưởng thời đại.
Ở thể loại kịch, vở Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ được sáng tác dựa trên cốt truyện dân gian. Tuy nhiên, tác giả đã sáng tạo thêm nhiều tình huống kịch và đối thoại triết lí để đặt ra những vấn đề sâu sắc về nhân cách, lối sống và quyền được là chính mình của con người hiện đại.
Qua các tác phẩm trên, có thể thấy rằng vay mượn là điểm khởi đầu, còn sáng tạo mới là yếu tố quyết định giá trị và sức sống của tác phẩm. Nhờ biết tiếp thu có chọn lọc và sáng tạo không ngừng, các nhà văn, nhà thơ Việt Nam đã tạo nên những tác phẩm mang bản sắc dân tộc và dấu ấn thời đại.
Kết lại, mối quan hệ giữa vay mượn và sáng tạo trong văn học là mối quan hệ kế thừa và phát triển. Chính sự sáng tạo trên nền tảng vay mượn đã làm nên chiều sâu tư tưởng và giá trị nghệ thuật bền vững cho văn học Việt Nam.
Em xin chân thành cảm ơn thầy cô và các bạn đã lắng nghe.
Nội dung 3 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Thảo luận về đề tài tôn trọng và bảo vệ quyền được phát biểu chủ kiến trước các vấn đề đời sống.
Trả lời:
Chào các bạn, sau đây tôi xin giới thiệu với các bạn về vấn đề tôn trọng và bảo vệ quyền được phát biểu chủ kiến về các vấn đề đời sống – quyền tự do ngôn luận.
Tôn trọng và bảo vệ quyền được phát biểu chủ kiến là một trong những nguyên tắc cơ bản của một xã hội dân chủ và tự do. Đây là quyền của mỗi cá nhân được tự do diễn đạt ý kiến, quan điểm và tham gia vào các vấn đề đời sống. Việc tôn trọng và bảo vệ quyền này không chỉ đảm bảo sự đa dạng và tự do trong cuộc sống, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng một xã hội công bằng và tiến bộ. Một trong số các quyền ấy ta phải kể đến quyền tự do ngôn luận. Quyền tự do ngôn luận là một quyền căn bản của con người, được công nhận và bảo vệ trong nhiều Hiến pháp và văn bản pháp luật trên thế giới. Quyền tự do ngôn luận cho phép mỗi người tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin, ý kiến của mình một cách tự do và không bị hạn chế.
Tôn trọng và bảo vệ quyền tự do ngôn luận là một yếu tố quan trọng trong xây dựng một xã hội dân chủ và phát triển. Quyền tự do ngôn luận giúp tạo ra một môi trường tự do, minh bạch và đa dạng ý kiến, từ đó thúc đẩy sự phát triển của xã hội và tiến bộ của con người.
Tuy nhiên, quyền tự do ngôn luận cũng cần được sử dụng một cách có trách nhiệm và không vi phạm đến quyền lợi và danh dự của người khác. Việc sử dụng quyền tự do ngôn luận để phỉ báng, xuyên tạc hoặc gây tổn hại đến danh dự và uy tín của người khác là không chấp nhận được.
Trong một xã hội dân chủ, quyền tự do ngôn luận không chỉ thuộc về các nhà báo, nhà văn hay nhà hoạt động xã hội, mà còn thuộc về tất cả mọi người. Mỗi cá nhân đều có quyền tự do diễn đạt ý kiến của mình, miễn là không vi phạm đến quyền lợi và danh dự của người khác.
Để tôn trọng và bảo vệ quyền tự do ngôn luận, chúng ta cần có một môi trường tự do, minh bạch và không bị kiểm duyệt. Chính phủ cần đảm bảo rằng các quyền tự do cơ bản như tự do ngôn luận được bảo vệ và không bị hạn chế một cách trái pháp luật.
Tuy nhiên, quyền tự do ngôn luận cũng không được sử dụng để gây hại đến lợi ích của quốc gia và dân tộc. Việc tung tin giả, xuyên tạc hoặc gây rối trật tự công cộng không chỉ vi phạm pháp luật mà còn gây hại đến sự ổn định và phát triển của xã hội.
Trong bối cảnh hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông, quyền tự do ngôn luận càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Chính phủ cần có những chính sách và biện pháp hợp lý để đảm bảo quyền tự do ngôn luận được thực hiện một cách có trách nhiệm và không vi phạm đến quyền lợi của người khác.
Tôn trọng và bảo vệ quyền tự do ngôn luận là một nhiệm vụ quan trọng của chính phủ và toàn xã hội. Chúng ta cần xây dựng một môi trường tự do, minh bạch và đa dạng ý kiến, từ đó thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ của xã hội.
Tóm lại, tôn trọng và bảo vệ quyền được phát biểu chủ kiến về các vấn đề đời sống là một nguyên tắc cơ bản trong xã hội dân chủ và tự do. Việc tôn trọng quyền này thể hiện sự tôn trọng sự đa dạng và sự tự do trong cuộc sống, trong khi bảo vệ quyền này đảm bảo sự an toàn và không bị trừng phạt cho những người dám đứng lên và nói lên ý kiến của mình. Quyền được phát biểu chủ kiến cần được sử dụng với trách nhiệm và không vi phạm đạo đức và pháp luật. Chỉ thông qua việc tôn trọng và bảo vệ quyền này, chúng ta mới có thể xây dựng một xã hội công bằng và tiến bộ.
Trên đây là nội dung chia sẻ của tôi. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ cô và các bạn để bài của tôi hoàn thiện hơn.
Bài giảng: Ôn tập học kì 1 - Cô Phương Thảo (Giáo viên VietJack)
Xem thêm các bài Soạn văn lớp 12 Kết nối tri thức ngắn nhất, hay khác:
- Tri thức ngữ văn trang 4
- Tác gia Hồ Chí Minh
- Tuyên ngôn độc lập
- Mộ, Nguyên tiêu
- Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu
Xem thêm các tài liệu học tốt lớp 12 hay khác:
- Soạn văn 12 Kết nối tri thức (hay nhất)
- Soạn văn 12 Kết nối tri thức (ngắn nhất)
- Soạn Chuyên đề Văn 12 Kết nối tri thức
- Giải lớp 12 Kết nối tri thức (các môn học)
- Giải lớp 12 Chân trời sáng tạo (các môn học)
- Giải lớp 12 Cánh diều (các môn học)
Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.
Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.
- Soạn văn 12 (hay nhất) - KNTT
- Soạn văn 12 (ngắn nhất) - KNTT
- Giải sgk Toán 12 - KNTT
- Giải Tiếng Anh 12 Global Success
- Giải sgk Tiếng Anh 12 Smart World
- Giải sgk Tiếng Anh 12 Friends Global
- Giải sgk Vật Lí 12 - KNTT
- Giải sgk Hóa học 12 - KNTT
- Giải sgk Sinh học 12 - KNTT
- Giải sgk Lịch Sử 12 - KNTT
- Giải sgk Địa Lí 12 - KNTT
- Giải sgk Giáo dục KTPL 12 - KNTT
- Giải sgk Tin học 12 - KNTT
- Giải sgk Công nghệ 12 - KNTT
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 12 - KNTT
- Giải sgk Giáo dục quốc phòng 12 - KNTT
- Giải sgk Âm nhạc 12 - KNTT
- Giải sgk Mĩ thuật 12 - KNTT


Giải bài tập SGK & SBT
Tài liệu giáo viên
Sách
Khóa học
Thi online
Hỏi đáp

